Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân với dịch vụ y tế

4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân với dịch vụ y tế

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



của sản phẩm, dịch vụ khác đi. Chính vì vậy, chỉ cần sản phẩm đạt được tới kì

vọng cảm nhận của họ thì được coi là hài lòng.

2.4.2. Nhân tố chủ quan

Quyết định sự hài lòng của khách hàng còn chịu ảnh hưởng của những

đặc điểm cá nhân đặc biệt là tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, phong

cách sống, cá tính và sự tự quan niệm của người đó.

Tuổi tác: Đối với từng giai đoạn khác nhau trong cuộc đời, con người

đều thay đổi những lựa chọn khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Hầu hết mọi sản

phẩm, dịch vụ đều thay đổi để phù hợp với thị hiếu của mọi người thuộc mọi

lứa tuổi. Chính vì những thay đổi linh hoạt, tùy từng sản phẩm dịch vụ có các

đặc điểm yếu tố khác nhau ảnh hưởng tới sự hài lòng của khách hàng.

Nghề nghiệp & hồn cảnh kinh tế : Nghề nghiệp của một người cũng

ảnh hướng đến sự hài lòng của người đó thơng qua việc sử dụng sản phẩm và

dịch vụ. Một doanh nhân thành đạt sẽ sử dụng các dịch vụ cao cấp như thẻ hội

viên thể thao, ăn uống và du lịch tại các nhà hàng có tiếng hay đi lại bằng xe

hơi. Ngược lại, những người có cơng việc mang lại thu nhập chỉ đủ chi trả cho

cuộc sống thường ngày lại chọn cho mình những sản phẩm và dịch vụ phù

hợp. Một người công nhân sẽ đi xe buýt, ăn cơm hộp và dành thời gian đi làm

kiếm thêm thu nhập. Đối với họ, chỉ cần những sản phẩm thỏa mãn được nhu

cầu sinh hoạt hằng ngày, họ hài lòng với sản phẩm đó.

Phong cách sống & cá tính: Người tiêu dùng tuy cùng một nhóm văn

hóa đặc thù hoặc tầng lớp xã hội giống nhau vẫn có thể phát triển những

phong cách sống hoàn toàn khác nhau. Phong cách sống là sự tự biểu hiện của

một người được thể hiện ra thành hoạt động, mối quan tâm và quan điểm của

người ấy trong cuộc sống. Phong cách sống mô tả hoàn thiện và sinh động

mối tương quan giữa con người và môi trường sống. Phong cách sống mô tả

đặc thù hơn về tính cách con người hơn là tầng lớp xã hội và cá tính riêng của

người đó. Nếu chúng ta biết được tầng lớp xã hội của một người, chúng ta chỉ



30



có thể suy ra được một số nét ứng xử chung của người đó. Tuy nhien, nếu

chúng ta biết được cá tính của một người, ta có thể suy ra được những nét tâm

lý đặc trưng của người đó. Chính sự khác biệt này khiến cho sự hài lòng của

mỗi khách hàng là khác nhau.

Các yếu tố tâm lý: Sự lựa chọn của người sử dụng sản phẩm & dịch vụ

còn chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố quan trọng là động cơ, nhận thức, niềm tin

và quan điểm. Động cơ của một người có thể uất phát từ bất kì thời điểm nào

trong cuộc sống của họ. Một số nhu cầu có tính chất bản năng, chúng phát

sinh ra những trạng thái căng thẳng về sinh lý của cơ thể như mệt mỏi, đói,

khát. Một số khác lại có nguồn gốc tâm lý như nhu cầu được cơng nhận,

ngưỡng mộ hay kính trọng (Maslow,1943). Hầu hết các nhu cầu này khơng có

cường độ đủ mạnh để có thể thúc đấy người đó hành động vào một thời điểm

nhất định trong cuộc đời. Mọi nhu cầu chỉ trở thành động cơ khi nó được tăng

lên đến một cấp độ đủ mạnh. Một động cơ hay sự thúc đẩy là một nhu cầu

đang gây sức ép để hưởng người ta tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó. Chính vì

vậy, sự hài lòng là khác nhau.



CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ SỰ HÀI LÒNG

CỦA NGƯỜI DÂN VỚI DỊCH VỤ Y TẾ DÀNH CHO TRẺ EM

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

3.1. Giới thiệu về dịch vụ y tế cho trẻ em ở Hà Nội

3.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của Hà Nội

Kinh tế xã hội

Hà Nội là thủ đô của cả nước, là trung tâm đầu não về chính trị, văn hoá,

giáo dục, y tế, khoa học - kỹ thuật, đồng thời là một trung tâm lớn về kinh tế,

giao dịch quốc tế của cả nước. Là thành phố có diện tích lớn nhất cả nước, với

dân số 7,1 triệu người (theo Tổng Cục Thống kê Việt Nam 2012), dân cư Hà

Nội sinh sống và làm việc chủ yếu tại các quận nội thành. Mật độ dân số trung



31



bình là 2.059 người/km2, khá cao và tăng cùng với quá trình đơ thị hóa của

thủ đơ. Thu nhập bình qn của người dân Hà Nội là gần 3 triệu đồng/tháng.

Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển của thành phố,

lượng dân từ các tỉnh thành trên cả nước di cư đến Hà Nội cũng tăng nhanh,

điều đó tạo sức ép không nhỏ lên mọi mặt phát triển của thủ đô. Về tốc độ

tăng trưởng kinh tế từ 2011-2013, GDP của thành phố ln duy trì ở mức tăng

8,91%, tăng khoảng 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước. Tổng

sản phẩm trên địa bàn tăng 8,25%. Tính riêng trong năm 2013, Hà Nội đã

đóng góp 10,1% GDP và 17,2% ngân sách của cả nước. Đáng chú , trong bối

cảnh khó khăn chung, Hà Nội đã phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu

ngân sách năm 2013, đạt 161.179 tỷ đồng, tăng hơn 10% so với năm 2012.

Về văn hóa - du lịch, Hà Nội là một trong những thành phố có tiềm năng

nhất về phát triển du lịch với những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh có

giá trị. Về y tế, thủ đơ cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân

đang dần phát triển bên cạnh đội ngũ y bác sĩ có chun mơn cao đến từ các

bệnh viện đầu ngành. Là thành phố thủ đơ và có vị trí ở khu vực trung tâm

của miền Bắc, mạng lưới giao thông ở Hà Nội tương đối thuận tiện, bao gồm

cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt. Tuy nhiên, cơ sở hạ

tầng và kĩ thuật đơ thị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông

quá lớn và ý thức của người dân còn chưa tốt.

Văn hóa, phong tục và sinh hoạt

Từ trước đến nay, Hà Nội luôn là điểm đến của những người dân tứ xứ,

vì vậy những nét đặc sắc trong văn hóa, phong tục và sinh hoạt, dù ít hay

nhiều, cũng đều được đem đến thủ đô, mà tinh hoa tụ hội ở các quận nội

thành Hà Nội. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, Lịch sử của Hà Nội cũng

đã ghi nhận dân cư của thành phố có những thay đổi, xáo trộn liên tục qua

thời gian. Ở những làng ngoại thành, ven đô cũ, nơi người dân sống chủ yếu

nhờ nông nghiệp, thường khơng có sự thay đổi lớn. Nhiều gia đình nơi

đây vẫn giữ được gia phả từ những thế kỷ 15, 16. Nhưng trong nội đô, khu



32



vực của các phường thương nghiệp và thủ công, dân cư xáo trộn rất nhiều.

Do tính chất của cơng việc, nhiều thương nhân và thợ thủ cơng ít khi trụ

nhiều đời tại một điểm. Gặp khó khăn trong kinh doanh, những thời điểm sa

sút, họ tìm tới vùng đất khác. Cũng có những trường hợp, một gia đình có

người đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan chức tỉnh khác và đem theo gia quyến,

đôi khi cả họ hàng. Những sự thay đổi, xáo trộn liên tục về vấn đề dân cư vẫn

đang tiếp tục diễn ra.

3.1.2. Đặc điểm của dịch vụ y tế cho trẻ em trên Hà Nội

Nhìn chung, qua các chỉ số thống kê, các dịch vụ y tế cho trẻ em trên địa

bàn Hà Nội cho đến nay đã được cải thiện đáng kể từ giai đoạn sau năm 2000.

Cụ thể là tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi cũng giảm nhanh, từ 30‰ (năm

2001) xuống còn 15,8‰ (năm 2010), đã đạt mục tiêu trong Kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010 là giảm tỷ suất chết trẻ em dưới 1

tuổi xuống dưới 16%.

Số liệu của Tổng cục thống kê, tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ

42‰ năm 2001, xuống 26,8‰ năm 2005 và đến năm 2010 còn 23,8‰, đạt

mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2001-2010.

Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (cân nặng theo tuổi) là một

trong những chỉ tiêu sức khỏe quan trọng. Số liệu điều tra của Viện Dinh

dưỡng cho thấy tỷ lệ này giảm bền vững qua các năm, từ 25,2% năm 2005

xuống 21,2% năm 2007 và 18,9% năm 2009. Theo kế hoạch, mục tiêu giảm

tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân ở trẻ em là dưới 20% vào

năm 2010, tuy nhiên với sự nỗ lực của ngành y tế, sự phối hợp chặt chẽ của

các địa phương và các Bộ ngành và sự phát triển về kinh tế xã hội, năm 2010

ước tính đạt được mức 18,0%.

Đối với các trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh, các bậc phụ huynh đã được thông báo,

giáo dục đầy đủ để cho trẻ đi tiêm phòng đầy đủ. Các cơ sở y tế tại địa

phương được trang bị đầy đủ thiết bị y tế cần thiết và vắc xin để tiêm phòng



33



cho trẻ. Đặc biệt trong năm 2014 vừa qua, dịch sởi đã được kiểm soát và dập

tắt trong thời gian ngắn.

Các bệnh hay suất hiện ở trẻ em như hở hàm ếch, bệnh tim bẩm sinh…

cho đến nay đã được giải quyết rất tốt với sự bắt tay hành động của các tổ

chức y tế trong lẫn ngoài nước. Rất nhiều những trẻ em trong gia đình có điều

kiện khó khăn đã được các tổ chức này hỗ trợ, tổ chức phẫu thuật miễn phí.

Trình độ của các bác sĩ, y tá khơng ngừng được nâng cao qua các đợt tập

huấn, bổ trợ kỹ năng ở cả trong nước lẫn nước ngoài. Quy trình khám chữa

bệnh cũng khơng ngừng được cải thiện qua từng năm nhằm giúp các bé và gia

đình có thể tiếp cận được dịch vụ khám chữa bệnh một cách thuận tiện và kịp

thời. Cùng với đó là các chính sách y tế và bảo hiểm, giúp các bệnh nhi giảm

chi phí khám, chữa bệnh và đảm bảo tính cơng bằng giữa các đối tượng bệnh

nhi khác nhau.

Bên cạnh các bệnh viện cơng, các bệnh viện tư cũng có những phát triển

đáng kể nhằm đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các bậc phu huynh về việc

chữa bệnh cho con em mình. Mặc dù chi phí có cao hơn các bệnh viện công

nhưng bù lại, điều kiện cơ sở vật chất và một số điều kiện đặc thù khác của

các bệnh viện tư có phần tốt hơn các bệnh viện cơng.

Trong số các bệnh viện đã có thành tích lớn trong việc cải thiện, phát

triển dịch vụ y tế cho trẻ em tại Hà Nội, chúng ta phải kể đến bệnh viện Bạch

Mai và bệnh viện Vinmec.

3.1.3. Giới thiệu về 3 bệnh viện có dịch vụ chăm sóc y tế cho trẻ em trên

Hà Nội

3.1.3.1. Khoa nhi bệnh viện bệnh viện Bạch Mai

Khoa nhi bệnh viện Bạch Mai phục vụ khám, chữa bệnh cho tất cả trẻ

em từ 0-15 tuổi từ tất cả các bệnh viện tuyến dưới gửi đến. Bệnh viện Bạch

Mai phối hợp với trường Đại học y Hà Nội, trường đại học Dược Hà Nội,

Trường trung học y tế Bạch mai tham gia giảng dạy lý thuyết và thực hành



34



cho sinh viên y, sinh viên dược, y tá trung học, y tá trưởng, các bác sĩ ở các

bệnh viện tuyến dưới, cao học và nghiên cứu sinh. Là cơ sở thực hành và

nghiên cứu tốt của học sinh, sinh viên, trung học, đại học và sau đại học.

Bệnh viện cũng nghiên cứu các đề tài khoa học phục vụ cho cơng tác phòng

chống bệnh tật và nâng cao sức khoẻ trẻ em từ cấp cơ sở của bệnh viện đến

cấp Bộ và Nhà nước quản lý về nhiều lĩnh vực như điều tra cơ bản về tình

hình sức khoẻ và bệnh tật, ứng dụng các kỹ thuật mới vào chẩn đoán và điều

trị và các đề tài ở cộng đồng. Bệnh viện cũng thường xuyên cử các bác sĩ, y tá

đi xuống các bệnh viện tỉnh, huyện và các trạm y tế xã, các nhà trẻ mẫu giáo

để hướng dẫn giảng dạy chỉ đạo công tác phòng bệnh, điều trị, giáo dục sức

khoẻ. Giúp các cán bộ y tế cơ sở nâng cao kiến thức và tạo điều kiện cho họ

hoàn thành. Từ 20/11/2000 đến nay, khoa được chia thành 3 phòng như sau:

Phòng khám: Có nhiệm vụ thăm khám, phân loại bệnh, điều trị và tư vấn

sức khoẻ trong đó có 2 phòng khám bệnh chung được trang bị 2 máy tính nối

mạng, 1 phòng khám chuyên khoa về hô hấp trẻ em và hội chẩn các trường hợp

bệnh khó và phức tạp. Gần đây do tình hình bệnh hen ở trẻ em tăng lên , nên

phát triển một phòng tư vấn hen phế quản được thành lập vào cuối năm 2004.

Phòng A1: Có nhiệm vụ cấp cứu điều trị tích cực cho các bệnh nhân

nặng và trẻ sơ sinh bao gồm 23 giường bệnh trong đó có 5 giường cấp cứu và

điều trị tích cực, 8 giường bệnh nhân nặng, 2 giường điều trị tự nguyện chất

lượng cao và từ tháng 3/ 2003 phát triển thêm 8 giường chăm sóc và điều trị

tích cực cho trẻ sơ sinh.

Phòng A2: Có nhiệm vụ điều trị cho các bệnh nhi bao gồm các bệnh

chuyên khoa của Nội – Nhi như: hơ hấp, tiêu hố, thận tiết niệu, máu, v.v..

Bao gồm 32 giường bệnh chia làm 4 phòng theo các chun khoa. Tại phòng

này có thêm 1 phòng thăm dò chức năng Nhi với các thăm dò về siêu âm tim

mạch và siêu âm tổng quát về tiêu hoá, thận tiết niệu v.v. điện tâm đồ và đo

chức nặng hơ hấp. Tham gia quản lí các bệnh nhân thấp tim, hội chứng thận

hư và leucemie thể Lympho v.v.



35



3.1.3.2. Khoa nhi bệnh viện Thanh Nhàn

Khoa Nhi là một trong những khoa được hình thành cùng với sự ra đời

của Bệnh viện Thanh Nhàn (tiền thân là trạm xá Mai Hương) năm 1958. Trải

qua hơn 50 năm cùng với sự hình thành và phát triển cuả bệnh viện, khoa Nhi

đã lớn mạnh khơng ngừng. Từ một phòng khám nhỏ, chỉ nhận khám và điều

trị ngoại trú cho các trẻ em dưới 15 tuổi ở khu vực quận Hai Bà Trưng, ngày

nay khoa Nhi đã phát triển thành một khoa có hơn 50 giường bệnh điều trị nội

trú cùng với hai phòng khám ngoại trú và các chương trình quản lý bệnh mạn

tính cho trẻ như thấp tim, hen phế quản… Để đáp ứng nhu cầu điều trị của

bệnh nhân, năm 2004 Đơn nguyên sơ sinh được hình thành với 10 giường

bệnh, góp phần giảm tải cho các tuyến trên và giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ sơ

sinh Khoa Nhi – ĐNSS nằm tại tầng 7 tòa nhà 11 tầng của Bệnh viện. Với cơ

sở vật chất khang trang, hệ thống trang thiết bị hiện đại, đội ngũ y bác sỹ

chun mơn cao, tận tình với nghề, đã khám, điều trị nhiều bệnh như: Viêm

phổi, viêm phế quản, thấp tim, viêm cầu thận cấp, tiêu chảy cấp, quai bị, thủy

đậu, tay chân miệng, sốt xuất huyết, viêm loét dạ dày tá tràng…và cứu sống

nhiều bệnh nhân nặng. Ngồi cơng tác điều trị thường xuyên, khoa còn tham

gia phòng chống nhiều dịch bệnh thành công như dịch sốt xuất huyết (2009),

dịch sởi (2014), tay chân miệng, tiêu chảy cấp…Đơn nguyên sơ sinh từ được

thành lập đã điều trị được các bệnh như: Viêm phổi, viêm ruột hoại tử, vàng

da, chăm sóc tồn diện sơ sinh non thấp cân và các bệnh nhiễm khuẩn sơ sinh

khác.

Khoa Nhi – ĐNSS còn là một trong những cơ sở đào tạo học viên cho các

trường như: Học viện y học dân tộc, trường cao đẳng Y tế Hà Nội, trường

trung cấp Y tế Hà Nội, trường trung học y chuyên nghiệp…

Chức năng, nhiệm vụ

a. Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh:



36



-



Khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa nhi nội trú và ngoại trú.



-



Khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước.



b.



Đào tạo cán bộ y tế:

- Tham gia đào tạo sinh viên, học viên, học sinh tại khoa.

-



Tham gia đào tạo cập nhật kiến thức mới, nâng cao trình độ chun



mơn, đào tạo chuyên khoa.

c.



Nghiên cứu khoa học: Tổ chức thực hiện và tham gia các đề tài



nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật y học.

d. Tư vấn, hướng dẫn GDSK:

- Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh.

-



Quản lý phòng khám, tư vấn hen và phòng thấp cho bệnh nhân nhi.



e.



Tư vấn và quản lý ngoại trú bệnh hen phế quản và thấp tim.



Hướng phát triển

-



Phát triển công tác cấp cứu Nhi, tiến tới hình thành Đơn nguyên cấp



cứu hồi sức nhi

-



Phát triển Đơn nguyên sơ sinh thành khoa Đơn nguyên sơ sinh.



3.1.3.3. Bệnh viện nhi trung ương

Bệnh viện Nhi Trung Ương được thành lập từ năm 1969 với tên gọi là

Viện Bảo vệ Sức khoẻ Trẻ em, năm 1997 được đổi tên là Viện Nhi, tên gọi

hiện nay có quyết định chính thức vào tháng 06 năm 2003. Trong khoảng giữa

các giai đoạn trên Viện còn có các tên gọi khơng chính thức là: Bệnh viện Nhi

Việt Nam – Thuỵ Điển, Viện Nhi Olof Palmer.

Bệnh Viện được thành lập trên cơ sở khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai.

Năm 1972 cơ sở hạ tầng bị hư hỏng nặng do bị ném bom. Với sự giúp đỡ của

Chính phủ và nhân dân Thuỵ Điển Viện được xây dựng lại, khởi công từ năm

1975 và bắt đầu hoạt động từ năm 1981.

Tổng số cán bộ hiện nay là 1023 người. Bệnh viện Nhi Trung Ương

được Bộ Y tế giao nhiệm vụ là đơn vị đầu ngành của hệ thống Nhi khoa toàn



37



quốc.Bệnh viện là trung tâm viện trường và là tuyến điều trị cao nhất về Nhi

khoa trong cả nước

Bệnh viện có các chức năng chính sau:

Bệnh viện có 22 chun khoa lâm sàng bao gồm: Thần kinh, Hô hấp,

Dinh dưỡng, Ung bướu, Thận, Nội tiết, Máu, Tim mạch, Tiêu hoá, Ngoại

khoa, Sơ sinh, Điều trị tích cực, Hồi sức ngoại, PT Chỉnh hình Nhi, Liên khoa

TMH- Mắt- RHM, Cấp cứu, Lây, Tâm bệnh, Phẫu thuật gây mê – Hồi sức,

Đông y, Khoa khám bệnh, Phục hồi chức năng. Các khoa này nhận bệnh nhân

nặng từ tất cả các tỉnh phía Bắc, một số tỉnh miền Trung và miền Nam chuyển

đến.Hàng năm Bệnh viện có khoảng 40.000 bệnh nhân nội trú, 350.000 lần

khám ngoại trú.

Mỗi năm Bệnh viện tiến hành hơn 6000 ca phẫu thuật lớn bao gồm: Phẫu

thuật Thần kinh, lồng ngực, Tim mạch, Tiết niệu, Tiêu hố, Tạo hình và chỉnh

hình. Phẫu thuật nội soi được áp dụng từ năm 1977 cho đến nay, đã tiến hành

nhiều loại phẫu thuật phức tạp như Phình đại tràng, Thận niệu quản đơi, Thốt

vị cơ hồnh, Mủ màng tim, Còn ống động mạch …Bệnh viện tiến hành ghép

thận từ năm 2004 đến nay đã ghép 8 ca, ghép gan 5 ca và ghép tuỷ xương 3

bệnh nhân đạt kết quả tốt.Trong những năm qua nhiều tiến bộ khoa học kỹ

thuật đã được áp dụng, tỷ lệ tử vong tại Bệnh viện liên tục giảm thấp.

Là trung tâm nghiên cứu khoa học Nhi khoa cao nhất của cả nước. Nhiều

đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Cơ sở đã được tiến hành hàng năm.

Kết hợp với Bộ môn Nhi trường Đại học Y khoa Hà Nội đào tạo sinh

viên Nhi khoa, Bác sỹ chuyên khoa cấp I, cấp II, Thạc sỹ, Tiến sỹ Nhi khoa.

Kết hợp với các trung tâm Nhi khoa Quốc tế hàng năm tiến hành từ 20 – 25

lớp đào tạo cập nhật kiến thức Nhi khoa cho Bác sỹ Nhi và Y tá Nhi trong cả

nước.

Là cơ quan đầu ngành Nhi khoa Viện đã tập trung chỉ đạo ngành theo

phương hướng chăm sóc sức khoẻ ban đầu và nâng cao chất lượng chẩn đoán



38



và điều trị. Trong những năm gần đây Bệnh viện tập trung chỉ đạo nâng cao

chất lượng của hệ thống cấp cứu và phấn đấu giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh.

Giáo dục kiến thức ni con, phòng bệnh, phát hiện sớm cho bố mẹ đã

được Bệnh viện tiến hành bằng nhiều hình thức: các buổi nói truyện, viết báo,

trình bày các chun đề trên vơ tuyến truyền hình.

Hiện nay Bệnh viện có các Quan hệ hợp tác với JICA Nhật Bản, Bệnh

viện trẻ em Hoàng gia Melburne, Hội hữu nghị ICPH Thuỵ Điển, Tổ chức

cựu chiến binh Mỹ, Tổ chức REI Hoa Kỳ, Tổ chức Vietnam Project Hoa Kỳ,

Trường Đại học Darmouth Hoa Kỳ, Trung tâm y tế Samsung Hà Quốc, Bệnh

viện Bambino Gesú Italia….

3.2. Kiểm định độ tin cậy các tiêu chí và phân tích nhân tố khám phá

3.2.1. Giới thiệu chung về phiếu điều tra

Để phân tích dịch vụ y tế dành cho trẻ em trên địa bàn Hà Nội, nhóm

nghiên cứa căn cứ vào khung về chất lượng dịch vụ để thiết kế nghiên cứu và

các câu hỏi khảo sát, phỏng vấn.

Cụ thể nhóm nghiên cứu đã tiến hành các bước sau:

Bước 1 : Tổ chức thảo luận nội bộ nhóm cùng giáo viên hướng dẫn để

nhận diện và đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố cấu thành nên sự hài

lòng của người dân về chất lượng dịch vụ y tế cũng như bước đầu đánh giá

tàm quan trọng của các tiêu chí đó

Bước 2 : Trên cơ sở kết quả thảo luận ở bước 1 và căn cứ theo các tiêu

chí đánh giá sựu hài lòng của người dân về chất lượng dịch vụ y tế dành cho

trẻ em, nhóm nghiên cứu tiến hàn thiết kế phiếu điều tra và thảo luận các câu

hỏi định hướng phỏng vấn người nhà bệnh nhân

Bước 3 : Tiến hành phỏng vấn 10 người nhà bệnh nhân có co em đang

khám chữa bệnh tại bệnh viện nhi TW, khoa nhi các bệnh viện Bạch Mai,

Thanh Nhàn



39



Bước 4: Tiến hành phát phiếu điều tra đối với 200 người dân có con em

điều trị tại bệnh viện nhi TW, khoa nhi bệnh viện Thanh Nhàn, Bạch Mai. Số

phiếu thu về hợp lệ và dùng để phân tích là 194

a) Đối tượng trả lời

Tổng số phiếu khảo sát là 200 phiếu bao gồm 100 phiếu được phát trực

tiếp tại các bệnh viện cơng có mật độ người khám chữa bệnh cao như Bệnh

viện Bạch Mai, Bệnh viện Nhi Trung Ương, Bệnh viện Thanh Nhàn … và

100 phiếu khảo sát trực tuyến đối với người dân trên địa bàn Hà Nội. Tổng số

phiếu khảo sát thu về là 195 phiếu. Sau khi kiểm tra, có 1 phiếu không đạt yêu

cầu bị loại ra (chủ yếu do thông tin trả lời không đầy đủ, nhầm lẫn).Như vậy

tổng số đưa vào phân tích, xử lý là 194 phiếu câu hỏi có các câu trả lời hồn

chỉnh, đáp ứng đầy đủ yêu cầu đưa ra.

b) Giới tính

Dựa trên 194 mẫu khảo sát đã thực hiện, tỉ lệ giới tính nam và nữ trên

số lượng người sử dụng dịch vụ y tế công dành cho trẻ em tại Hà Nội là

khơng cân bằng, có chênh lệch nhiều giữa nam và nữ : ở Nam là 77 người

(chiếm 39,7%) và Nữ là 117 người (chiếm 60,3%). Như chúng ta thường

thấy, đối với dịch vụ y tế Nhi, cha mẹ thường là người đưa con cái đến các

cơ sở y tế và trải nghiệm các dịch vụ. Có thể nói sự chênh lệch về giới tính

xảy ra tất yếu bởi lẽ những người làm mẹ có xu hướng trực tiếp đưa con

của mình đến các bệnh viện để thăm khám. Điều này hoàn toàn phù hợp

với quan sát thực tiễn.



Bảng 3.1 Thống kê giới tính người sử dụng dịch vụ y tế nhi

Nam

Nữ

Tổng



Số lượng

77

117

194



Nguồn: Kết quả điều tra



Tỷ lệ (%)

39,7

60,3

100.0



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân với dịch vụ y tế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×