Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Học trực tuyến và đào tạo trực tuyến

1 Học trực tuyến và đào tạo trực tuyến

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



al. (2007) cho rằng một hệ thống giáo dục trực tuyến là: “Một hệ thống công

nghệ học tập mà sử dụng các trình duyệt web như là phương tiện chính của sự

tương tác với người học; cùng với đó, Internet và một mạng nội bộ là phương

tiện chính của giao tiếp trong hệ thống của chính mình cũng như với các hệ

thống khác. Những hệ thống này làm việc như là nền tảng chính để tạo điều

kiện dễ dàng hơn cho việc giảng dạy và học tập”. Không thể không kể tới định

nghĩa của Sun Microsystem, Inc.: “Giáo dục trực tuyến là việc học tập được

phân phối hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử như internet, ti vi, các hệ thống

giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT)”.

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng theo nhóm nghiên cứu, giáo dục

trực tuyến có ba điểm cơ bản sau: Đầu tiên chính là việc dựa trên cơng nghệ

thơng tin và truyền thơng. Thứ hai chính là hiệu quả của giáo dục trực tuyến nếu

được đầu tư và sử dụng thích hợp sẽ cao hơn so với cách học truyền thống do nó

có tính tương tác cao, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng

hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của

từng người. Cuối cũng nhưng cũng không kém phần quan trọng chính là giáo

dục trực tuyến sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức. Hiện nay, nó

đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều

tổ chức, công ty đang đầu tư vào lĩnh vực này.

Học tập trực tuyến chỉ chiếm một phần của việc học tập dựa trên cơng nghệ

(hay còn gọi là giáo dục trực tuyến) và mô tả việc học hỏi qua Internet, mạng

nội bộvà mạng nội bộ mở rộng. Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào việc sử

dụng các trang mạng học tiếng Anh trực tuyến của sinh viên trên địa bàn thành

phố Hà Nội, hay chính là học tập trực tuyến, một tập hợp con của giáo dục trực

tuyến.

Dựa theo kết quả nghiên cứu và tình hình tại Việt Nam hiện nay, nhóm nghiên

cứu cho rằng: Học tiếng Anh trực tuyến là việc ứng dụng công nghệ thông tin



8



vào việc giảng dạy tiếng Anh để đạt được thuận lợi và hiệu quả như đã đề cập ở

trên và các trang web học Tiếng Anh trực tuyến là các trang web cung cấp các

chương trình giảng dạy cho người học tiếng Anh phù hợp với trình độ sẵn có và

mục tiêu của từng người học.

2.1.2 Vai trò của đào tạo trực tuyến

Ngày nay, các doanh nghiệp đang áp dụng hệ thống đào tạo trực tuyến như là

một trong những phương thức chính để đào tạo cho nhân viên của chính họ

(Simmons, 2002). Cũng trong giai đoạn hội nhập kinh tế như hiện nay, các tổ

chức giáo dục đang tăng cường sự sử dụng trang mạng và các phương tiện

truyền thông công nghệ cao cho việc giảng dạy ở cả ở trong các trường đại học

và hệ thống giáo dục từ xa. Đối với việc sử dụng hệ thống tương đối là đắt đỏ

này của các tổ chức kinh tế và giáo dục, chắc chắn là hệ thống giáo dục – đào

tạo trực tuyến phải mang đến những lợi ích nhất định.

Xét về góc độ của giáo viên, việc giảng dạy bây giờ đã có thể thực hiện ở mọi

nơi, mọi lúc.Các tài liệu giảng dạy có thể được cập nhật và sửa đổi, và người

học có thể thấy sự thay đổi này ngay lập tức. Khi mà người học có quyền tiếp

cận các tài liệu ở trên Internet, thì điều này sẽ dễ dàng hơn cho giáo viên để

hướng họ tới thông tin phù hợp dựa trên nhu cầu và khả năng học tập. Nếu các

tài liệu và phương tiện giảng dạy được thiết kế một cách hợp lý, hệ thống học

tập trực tuyến có thể được sử dụng để xác định nhu cầu của người học cũng như

đánh giá trình độ hiện tại của họ, cũng như giao những bài tập phù hợp cho sinh

viên, để đạt được kết quả học tập mà họ mong ước.

Xét về góc độ người học, học tập trực tuyến có nghĩa là những giới hạn về thời

gian, địa điểm và khoảng cách đang từng bước bị xóa nhòa. Đối với hệ thống

học tập trực tuyến khơng đồng bộ, các sinh viên có thể dễ dàng truy cập tài liệu

học tập bất cứ lúc nào, trong khi đối với hệ thống học tập trực tuyến đồng bộ

cho phép việc tương tác thực tế giữa sinh viên và giảng viên. Người học có thể



9



sử dụng Internet để truy cập vào các tài liệu học tập cập nhật và liên quan đến

nội dung mà mình quan tâm, cũng như nói chuyện với các chun gia trong lĩnh

vực mà mình đang học hay tiến hành các nghiên cứu. Không thể không kể đến

phương pháp học tập theo ngữ cảnh, hay còn gọi là sự áp dụng các kiến thức và

kĩ năng trong một ngữ cảnh cụ thể, từ khi người học có thể hồn thành các khóa

học trực tuyến ngay cả khi đang đi làm hay ở nhà của học, và họ có thể đặt việc

học trong một ngữ cảnh nhất định.

Cụ thể là, các hệ thống này có thể được sử dụng để tích hợp các tài liệu giảng

dạy (qua các dữ liệu âm thanh, video, và các văn bản), e-mail, các buổi trò

chuyện trực tiếp, các cuộc thảo luận trực tuyến, diễn đàn, câu đố và bài tập. Với

hệ thống học tập trực tuyến, sự giảng dạy và giao tiếp giữa giáo viên và sinh

viên có thể được tiến hành cùng một lúc (đồng bộ) hoặc vào các thời điểm khác

nhau (không đồng bộ).Hệ thống này cung cấp một loạt các công cụ trợ giảng và

phương pháp giao tiếp, phục vụ người học một cách linh hoạt tuyệt vời như về

thời gian và địa điểm giảng dạy.Kết quả là, các hệ thống học tập trực tuyến có

thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học đã được phân tán về mặt địa lý và có

kế hoạch mâu thuẫn.

Với những lợi thế đó, khơng phải là điều đáng ngạc nhiên khi mà các tổ chức

kinh doanh và giáo dục đang có những khoản đầu tư đáng kể trong các hệ thống

giáo dục – đào tạo trực tuyến. Ví dụ, trong năm 2000, đầu tư vào thị trường giáo

dục-đào tạo trực tuyến tại Hoa Kỳ được thống kê là 2,2 tỷ USD theo báo cáo

của Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation) và ước tính

khoản đầu tư này sẽ vượt quá 23 tỷ USD năm 2004 (Anderson, Dankens,

&Julian, 2000). Các cơ sở giáo dục sau trung học cũng đã trải qua sự tăng

trưởng đáng kể trong việc sử dụng hệ thống giáo dục trực tuyến, với một số tổ

chức cung cấp tồn bộ các chương trình học tập thơng qua giáo dục từ xa. Như

một ví dụ của sự tăng trưởng này, trong năm 1993, Cẩm nang hướng dẫn của

Trường Cao đẳng Peterson (Peterson’s College Guide) chỉ ra rằng 93 trường cao



10



đẳng cung cấp hệ thông giáo dục trực tuyến, và đến năm 1997, con số này đã

tăng lên gần 800 (Gubernick & Ebeling, 1997). Hơn nữa, trong năm 2001,

WebCT báo cáo rằng hơn 2200 tổ chức sau trung học đã sử dụng sản phẩm của

mình để cung cấp giáo dục trực tuyến.

2.1.3 Một số mơ hình về chấp nhận sử dụng công nghệ trực tuyến

Học tiếng Anh trực tuyến là một phương pháp học mới xuất hiện trên thế giới và

cả ở Việt Nam sau sự ra đời của Internet.Nhiều trang mạng học tiếng Anh trực

tuyến nở rộ và được nhiều người dùng tham gia.Vì vậy, cũng xuất hiện những

nghiên cứu về sự chấp nhận của học sinh, sinh viên đối với các trang mạng học

tiếng Anh trực tuyến.Tuy nhiên, học tiếng Anh trực tuyến là một loại hình học

mới nên Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này.Số lượng bài

nghiên cứu trên thế giới rất hạn chế, hầu hết chỉ ở các nước phát triển về công

nghệ. Trong mỗi một nghiên cứu, những nghiên cứu sinh hay những nhà nghiên

cứu lại có những mơ hình áp dụng khác nhau như TAM, UTAUT, …





Mơ hình TAM



Mơ hình chấp nhận cơng nghệ TAM được xây dựng bởi Fred Davis năm 1989

và Richard Bagozzi năm 1992, dựa trên sự phát triển từ thuyết TRA và TPB.

Thuyết hành động hợp lý TRA được phát triển bởi Martin Fishbein năm 1975 và

Ajzen năm 1980. TRA đi sâu vào nghiên cứu thái độ và hành vi. Nhân tố quan

trọng nhất trong dự đoán hành động tiêu dùng là dự định hành vi. Thái độ và

chuẩn chủ quan của khách hàng là hai yếu tố ảnh hưởng đến dự định hành vi

mạnh mẽ nhất.

Niềm tin và sự

Niềm tinđánh

và sgiá

ự đánh giá



Thái độ

độ

Thái

Dự định hành vi



Niềm tin theo chuẩn mực và động cơ thúc

đầẩyn chủ quan

Chu



Hành động thực sự



11



Hình 2.1.3a: Thuyết hành động hợp lý (TRA)

Thuyết hành vi có kế hoạch TPB, ngoài hai nhân tố thái độ và chuẩn chủ quan,

dự định còn bị tác động bởi nhân tố thứ ba là sự kiểm soát hành vi cảm nhận,

nghĩa là các nguồn lực bao gồm những kiến thức, kĩ năng sẵn có, những cơ hội

và nhận thức riêng của mỗi người để thực hiện một công việc nào đó. Nhờ sự

phát hiện nhân tố thứ ba, mơ hình TPB được nhận định là tối ưu hơn mơ hình

TRA trong việc dự đốn và giải thích hành vi người tiêu dùng.

Thái độ

Chuẩn chủ quan



Dự định hành vi



Hành động thực sự



Sự kiểm sốt hành vi cảm nhận



Hình 2.1.3b: Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

Mơ hình TAM đi sâu vào giải thích hành vi chấp nhận và sử dụng cơng nghệ

của người tiêu dùng. Ngồi những nhân tố mà mơ hình TRA và TPB đã đề cập,

mơ hình TAM còn có thêm sự xuất hiện của hai nhân tố tác động trực tiếp đến

thái độ người tiêu dùng là ích lợi cảm nhận và sự dễ sử dụng cảm nhận.

Ích lợi

cảm nhận

Thái độ



Biến

bên ngoài

Sự dễ sử dụng

cảm nhận



Dự định

hành vi



Sử dụng

thực sự



12



Hình 2.1.3c: Mơ hình chấp nhận cơng nghệ TAM

Những nghiên cứu đã có áp dụng mơ hình TAM:

Nghiên cứu “Phát triển mơ hình TAM để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đế

ý định sử dụng hệ thống cộng đồng học trực tuyến” được thực hiện năm 2010

bởi nhóm nghiên cứu đến từ các trường đại học khác nhau ở Đài Loan (I-Fan

Liu, Meng Chang Chen, Yeali S. Sun, David Wible và Chin-Hwa Kuo). Đối

tượng nghiên cứu là những học sinh năm cuối các trường THPT có tài khoản

trên trang học trực tuyến IWILL, trang mạng tồn tại một khoảng thời gian dài

với nhiều thành viên Đài Loan. Với quy mô mẫu gần 500 học sinh, nghiên cứu

đã chỉ ra rằng người dùng càng cảm thấy hệ thống dễ sử dụng và hữu hiệu thì họ

càng có ý định tiếp tục sử dụng cộng đồng học trực tuyến lâu dài trong tương

lai. Dựa vào những kết quả rút ra được, nhóm tác giả đã đưa ra những lời

khuyên, đường lối chỉ đạo cho việc thành lập cộng đồng học trực tuyến như

thiết kế khóa học là ưu tiên hàng đầu, lấy người dùng là trung tâm. Người dùng

nên được khích lệ tích lũy nhiều kinh nghiệm học trực tuyến hơn và sử sụng

công nghệ thông tin để học tiếng Anh. Hơn thế nữa, sự hỗ trợ bổ sung nên được

chú ý tới khi thiết kế giao diện. Mặc dù đề xuất được những giải pháp hữu hiệu

nhưng nghiên cứu này còn rất nhiều hạn chế về đối tượng và quy mô mẫu bỏi

những học sinh phản hồi bảng hỏi phần lớn là học sinh chưa tốt nghiệp trường

THPT.Vì vậy mà khó có được những thơng tin khách quan để so sánh sự khác

nhau giữa các độ tuổi, trình độ học vấn khác nhau.

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng tới sự chấp nhận môi trường học trực

tuyến của sinh viên ở các nước đang phát triển” (năm 2013), nhóm tác giả Ali

Tarhini, Kate Hone, Xiaohui Liu ở Đại học Brunel, nước Anh đã có sự linh hoạt

hơn trong việc lấy mẫu, khắc phục được hạn chế của nghiên cứu của nhóm đến

từ Đài Loan. Bài nghiên cứu được thực hiện với gần 600 người tham gia trong



13



độ tuổi từ 17 đến 35 với các trình độ tiếp cận công nghệ khác nhau trong phạm

vi quốc gia Li-băng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc học trực tuyến được đón

nhận tích cực và ngày càng được chấp nhận ở Li-băng. Bằng việc kết hợp quan

niệm xã hội và chất lượng cuộc sống như hai yếu tố chủ đạo, nghiên cứu đã mơ

tả và giải thích được cách sinh viên quyết định về việc chấp nhận và sử dụng hệ

thống học trực tuyến. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa đưa ra những giải pháp

thiết thực để giải quyết những vẫn đề còn tồn tại trong mơi trường học trực

tuyến.

Một nghiên cứu khác “Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận hệ thống

học trực tuyến ở Gioóc-đa-ni” được thực hiện bởi nhóm tác giả đến từ nước Anh

bao gồm Muneer Mahmood Abbad, đại học Bahrain, Vương quốc Ba-rank;

David Morris và Carmel de Nahlik vào năm 2009. Tác giả đã thu thập thông tin

từ gần 500 sinh viên học tại các lớp kỹ năng máy tính cơ bản ở trường Đại học

mở Ả Rập. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng yếu tố dễ sử dụng, trình độ sử dụng

Internet và sự hỗ trợ công nghệ đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của sinh

viên. Mặc dù quy mô mẫu tương đối lớn nhưng phạm vi mẫu khá hẹp chỉ ở một

chuyên ngành của một trường Đại học nên bài nghiên cứu thiếu tính tồn diện

và khách quan.





Mơ hình UTAUT



Năm 2003, lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT đã

được xây dựng bởi nhà nghiên cứu hàng đầu Venkatesh và các cộng sự M.G.

Morris, G.B. Davis, F.D. Davis để giải thích ý định hành vi và hành vi sử dụng

của người dùng đối với hệ thống thơng tin. Mơ hình UTAUT được phát triển

dựa trên tám lý thuyết: Thuyết hành động hợp lý (TRA- Ajzen và Fishben,

1980), Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB- Ajzen, 1985), Mơ hình chấp nhận

cơng nghệ (TAM- Davis 1989; TAM2- Venkatesh và Davis 2000), Mơ hình

động cơ thúc đầy (MM- Davis, Bagozzi và Warshaw 1992), Mơ hình chấp nhận



14



cơng nghệ kết hợp thuyết hành vi có kế hoạch (C-TAM-TPB, Taylor và Todd

1995), Mơ hình sử dụng máy tính cá nhân (MPCU- Thompson, Higgins và

Howell 1991), Thuyết truyền bá sự đổi mới (IDT- Moore và Benbasat, 1991),

Thuyết nhận thức xã hội (SCT- Compeau và Higgins, 1995). Trong đó, ba

thuyết đáng chú ý và có ảnh hưởng mạnh nhất đến mơ hình UTAUT là thuyết

TRA, TPB và TAM.



Hiệu quả

mong đợi

Dự định

hành vi



Nỗ lực

mong đợi



Hành vi

sử dụng



Hình 2.1.3d: Mơ hình UTAUT



Ảnh hưởng



Trong

mơ hình này, ba nhân tố tác động đến dự định hành vi là hiệu quả mong

xã hội

đợi, nỗ lực mong đợi và ảnh hưởng của xã hội.

Điều kiện

thuậnghiên

n lợi cứu đã có áp dụng mơ hình UTAUT

Những



Năm 2013, tác giả Paul Juinn Bing Tan đã thực hiện nghiên cứu “Áp dụng mô

Kinh

Tự nguyện

hình UTAUT để hiểu các nhân tố ảnh hưởng

dụng

nghiđến

ệmviệc sửsử

dụngcác trang mạng

Giới tính



Tuổi tác



học tiếng Anh trực tuyến ở Đài Loan”. Ở trong nghiên cứu này, tác giả đã sử

dụng mơ hình UTAUT để nghiên cứu về sự chấp nhận và sử dụng những trang

học tiếng Anh trực tuyến của những sinh viên học ở Đài Loan. Tác giả đã thu

thập thông tin từ 176 người dùng trang học tiếng Anh trực tuyến là sinh viên từ



15



hơn 10 trường cao đẳng, đại học ở Đài Loan. Qua đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng

các nhân tố Hiệu quả mong đợi, Nỗ lực mong đợi, Ảnh hưởng xã hội, Điều kiện

thuận lợi và Dự định hành vi đều tác động một cách tích cực đến sự chấp nhận

sử dụng trang học tiếng Anh trực tuyến. Khả năng chấp nhận sử dụng dịch vụ

của sinh viên càng tăng nếu họ hi vọng một trang học tiếng Anh trực tuyến nào

đó sẽ cải thiện trình độ của họ, nếu trang web đó dễ sử dụng hay khi giảng viên

của họ hay một nhân vật quan trọng nào đó với họ gợi ý việc học tiếng Anh trực

tuyến. Bên cạnh đó sinh viên sẽ thường xuyên truy cập vào các trang học trực

tuyến hơn nếu trang web tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng và sinh viên càng có

ý định sử dụng sẽ càng ham dùng.Qua đó, tác đã đề xuất một vài giải pháp cho

các nhà quản lý trang mạng học tiếng Anh trực tuyến.Những nhà thiết kế trang

web nên cải thiện các tính năng quản lý kho kiến thức và giao diện để người

dùng có thể dễ dàng sử dụng hơn. Hơn thế nữa, sinh viên nên được thông báo

rằng các trang web có thể được hỗ trợ bởi những điều kiện thuận tiện. Tuy

nhiên, nghiên cứu mới thu thập thông tin từ phần trả lời của các phiếu hỏi mà

chưa đi vào phỏng vấn sâu. Thêm vào đó, nghiên cứu về sự chấp nhận sử dụng

trang mạng học tiếng Anh trực tuyến giữa những sinh viên cao đẳng, đại học ở

Đài Loan nên kết quả chưa thể đại diện cho hệ thống học tiếng Anh trực tuyến ở

các quốc gia khác.

Một nghiên cứu khác “Học tiếng Anh trực tuyến ở lớp học: Điều tra các nhân tố

ảnh hưởng tới sự chấp nhận và sử dụng việc học tiếng Anh trực tuyến của các

sinh viên đại học trong môi trường học tập năng động tập định hướng mục tiêu

(Moodle)” đã được thực hiện bởi Jing Liu từ đại học Iowa State University năm

2013. Đối tượng nghiên cứu ở đây là học viên của hai lớp ngữ pháp và đọc hiểu

ESL với quy mô mẫu là 13 sinh viên quốc tế đến từ các quốc gia khác nhau,

phần lớn là sinh viên năm nhất từ Trung Quốc và ngoài ra là tiểu vương quốc Ả

Rập và Hàn Quốc. Áp dụng mơ hình UTAUT để nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra

rằng những người dùng trước đây học tiếng Anh trực tuyến Moodle đã có những



16



phản hồi cả tốt và khơng tốt về trang học tiếng Anh trực tuyến và điều này đã

ảnh hưởng đến quan điểm, ấn tượng của những người dùng sau này về trang

mạng. Dựa vào thực trạng đó, tác giả đã đưa ra những kiến nghị để tăng khả

năng chấp nhận của sinh viên đối với hệ thống học trực tuyến Moodle. Ngoài

kiến nghị về cải thiện thiết kế của trang web như trong nghiên cứu của Paul Juin

Bing Tan, tác giả còn gợi ý rằng a giao diện đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu sẽ

tránh được sự nhầm lẫn. Người hướng dẫn cần chú ý hơn đến việc giúp sinh

viên làm quen với hệ thống trực tuyến và những nhà quản trị nên đưa ra những

hỗ trợ cụ thể như một vài buổi định hướng. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dựa trên

học viên của lớp học tiếng Anh ESL với quy mô mẫu khá nhỏ 13 và phạm vi

tương đối hẹp so với phạm vi lãnh thổ Đài Loan trong nghiên cứu trước. Những

người trả lời phiếu hỏi đều là tình nguyện tham gia, chưa phải chọn lựa ngẫu

nhiên nên kết quả nghiên cứu chưa được khách quan và có khả năng bỏ sót hành

vi chấp nhận. Những cuộc phỏng vấn sâu không được ghi âm lại mà được ghi

chép tay nên khó tránh khỏi thiếu sót ý kiến.





So sánh mơ hình UTAUT và mơ hình TAM



Trước đây, khi chưa có sự ra đời của UTAUT, mơ hình TAM được xem là mơ

hình được sử dụng nhiều nhất trong việc sử dụng hành vi sử dụng hệ thống, đặc

biệt là trong lĩnh vực e-banking. Tuy nhiên, mô hình TAM ngun thủy có

nhược điểm là chỉ được xây dựng nhằm vào đối tượng là các tổ chức.Và sau

này, UTAUT với sự kết hợp từ tám lý thuyết đã khắc phục vấn đề này và có thể

cho phép nghiên cứu từng cá nhân riêng biệt. Theo nghiên cứu và nhận định của

Venkatesh (2003), lý thuyết UTAUT giải thích được 70% các trường hợp trong

ý định sử dụng, tốt hơn so với bất kỳ mơ hình nào trước đây, khi mà chúng chỉ

có thể giải thích được từ 30-45%.

Trước thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa

chọn sử dụng dịch vụ đào tạo tiếng Anh trực tuyến của sinh viên trên địa bàn



17



Hà Nội ” sẽ tìm ra những yếu tố ảnh hưởng sâu sắc nhất đến quyết định hành vi

người dùng về việc học tiếng Anh trực tuyến. Qua đó, nghiên cứu tìm ra nhu

cầu của người dùng và đưa ra những kiến nghị, giải pháp giúp các nhà quản lý

trang web hiểu được hành vi và tạo những điều kiện cần thiết để thu hút và đáp

ứng nhu cầu của người học.

2.2 Đặc điểm và vai trò của chương trình đào tạo tiếng Anh

2.2.1 Dịch vụ đào tạo và đặc điểm của chương trình đào tạo tiếng Anh





Dịch vụ đào tạo



Theo truyền thống từ xa xưa, giáo dục đào tạo được hiểu là một hình thức học

tập mà ở đó, kiến thức và kinh nghiệm được truyền từ người này sang người

khác, từ nhóm người này sang nhóm người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác

bằng phương thức giảng dạy là chủ yếu. Nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển

của xã hội và sự hội nhập về kinh tế, chính trị, giáo dục đào tạo ngày càng lớn

mạnh; qua đó, q trình dạy và học trở nên có mục đích, hệ thống, sáng tạo hơn

và được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau. Giáo dục trong thời kì

hiện đại được xem là “dịch vụ, sản phẩm được tạo ra là những con người hồn

tồn có thể chủ động tham gia vào quá trình đạo tạo” (theo Nguyễn Khánh

Trung, viện nghiên cứu phát triển giáo dục IRED năm 2011).Ngoài đặc điểm

giống như các dịch vụ khác là sản phẩm vơ hình, có thể tiêu dùng ngay thì giáo

dục có một số đặc điểm mà các dịch vụ khác khơng có.Thứ nhất, nó có thể “tồn

kho” vào tri thức cá nhân và trở thành vốn tri thức.Thứ hai, nó mang thuộc tính

xã hội và được xếp vào loại hàng hóa có tính chất cơng.

Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, giáo dục cấp cao được xem là một dịch vụ

vì nó có những đặc trưng kinh điển của dịch vụ, theo Cuthbert năm 1996. Còn

tại Việt Nam, việc xem giáo dục có phải là hàng hóa hay khơng ln là vấn đề

nóng trong nhiều hội thảo, tranh luận. Không né tránh vấn đề này, các nhà

nghiên cứu giáo dục nêu ý kiến như “Giáo dục có phải là hàng hóa hay khơng,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Học trực tuyến và đào tạo trực tuyến

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×