Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Các biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Tải bản đầy đủ - 0trang

rượu, mâm đựng hoa quả… Và bàn thờ tổ tiên cũng trở thành nơi

con cháu khấn vái trong những ngày tuần, ngày giỗ, ngày Tết,

hoặc khi có hiếu hỷ, việc to, việc nhỏ với mong muốn được gia tiên

phù hộ. Mọi biến cố trong gia đình đều được gia chủ báo cáo với

gia tiên.

b. Thờ cúng

Thờ cúng tổ tiên tại gia đình được tiến hành quanh năm.

Khơng chỉ cúng lễ vào các dịp quan trọng như tang ma, giỗ chạp,

cưới xin…, không chỉ trong những ngày lễ tiết như Tết nguyên

đán, Thanh minh, Hàn thực, Đoan ngọ…, ngày mồng một, ngày

rằm theo chu kỳ trăng, mà các vị tổ tiên còn được con cháu kính

cáo mọi chuyện kể cả vui lẫn buồn: sinh nở, ốm đau, thi cử, đỗ

đạt, dựng vợ gả chồng… Con cháu còn kính mời các vị về hưởng

thụ hoa trái đầu mùa, lễ tạ tổ tiên khi có phúc, có lộc. Người Việt

dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù

hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành cơng. Tổ tiên thì che chở, dẫn

dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi

dương và cõi âm.

Sau khi đặt đồ lễ lên bàn thờ, gia trưởng (có thể là chủ hộ

hoặc con trưởng nam hoặc cháu đích tơn...) khăn áo chỉnh tề, thắp

hương, đứng trước bàn thờ, vái 3 vái và khấn. Hương thắp trên

bàn thờ bao giờ cũng thắp theo số lẻ: một, ba, năm nén. Sau khi

gia trưởng khấn lễ, lần lượt đến mọi người trong gia đình vái trước

bàn thờ. Trước khi khấn, vái ba vái ngắn, khấn xong vái thêm bốn

vái dài và ba vái ngắn. Khi mọi người đã lễ vái xong, chờ cho tàn

một tuần nhang, gia trưởng tới trước bàn thờ lễ tạ và thắp thêm

tuần nhang nữa. Sau đó, gia trưởng hạ vàng mã trên bàn thờ đem

20



hoá vàng. Lúc hoá vàng người ta thường lấy chén rượu cúng vẩy

lên đống tàn vàng, có như vậy người dưới âm mới nhận được số

vàng người sống cúng. Lúc này có thể hạ đồ lễ xuống.

Thơng qua nghi lễ thờ cúng thể hiện đạo lý "Ăn quả nhớ kẻ

trồng cây" hay "Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có

nguồn mới bể rộng sơng sâu". Chữ "hiếu" là cái gốc của mỗi con

người. Công cha, nghĩa mẹ như núi cao, nước nguồn cho nên phải

hiếu thảo với cha, mẹ khi còn sống, thành kính, biết ơn, tiếc

thương khi cha, mẹ về với tổ tiên. Lòng hiếu thảo là giá trị đạo đức

quý báu, thiêng liêng cao đẹp trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

của người Việt Nam.

c. Tang ma, giỗ, tảo mộ (thanh minh), chăm nom mộ tổ tiên

Lễ thức trong tang ma được coi là lễ thức quan trọng bậc

nhất để đưa ông bà, cha mẹ vừa mất về gặp tổ tiên và gia nhập

vào hàng các vị tổ tiên (những người vừa mới mất được lập bàn

thờ riêng cho tới khi giỗ hết, cải táng sạch sẽ mới được phép thờ

chung với tổ tiên. Sau lễ tang ma, lễ giỗ là nghi thức rất được chú

trọng trong tâm lý người Việt. Vì kính trọng tổ tiên, người Việt coi

việc tang ma là trọng sự, gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên.

Thời gian cúng giỗ là những ngày húy kỵ của tổ tiên được

tính theo lịch âm. Trong các ngày giỗ có ba ngày chú ý nhất: tiểu

tường (giỗ đầu), đại tường (giỗ hết), trừ phục (lễ cởi bỏ đồ tang).

Các ngày giỗ thường kỳ trong các năm sau được coi là cát kỵ (giỗ

lành). Trong ngày giỗ, người ta làm cỗ bàn mời thân bằng cố hữu

quen thuộc. Ở làng quê nông thôn, ngày giỗ là dịp để người ta mời

lại những người đã từng mời mình đi ăn uống, người ta gọi là trả

21



nợ miệng. Giỗ có thể làm to hoặc làm nhỏ tuỳ theo gia cảnh và

nhiều khi lại tuỳ thuộc vào mối liên hệ giữa người sống và người

chết. Theo phong tục, con trai trưởng là người có trách nhiệm tổ

chức hoặc cháu đích tơn tổ chức (chỉ khi nào trưởng nam khơng

may tuyệt tự, khơng có con trai nối dõi thì mới đến con thứ).

Nhưng khơng vì thế mà những người con thứ, cháu thứ, cháu

ngoại bỏ ngày giỗ ông bà, cha mẹ. Đến ngày giỗ, con cháu phải tề

tựu đông đủ, mang đồ lễ cúng tới để gửi giỗ. Trước ngày giỗ,

trưởng nam làm lễ cáo với Thổ công để xin phép với Thổ công cho

hương hồn người đã khuất được về phối hưởng bởi vì người ta cho

rằng "đất có Thổ cơng, sơng có Hà bá", chỉ khi có phép của Thổ

cơng hương hồn người đã khuất mới vào được trong nhà. Đồ lễ

cúng trong giỗ đầu và giỗ hết phải chuẩn bị rất chu đáo. Theo quy

định xưa, vào ngày giỗ đầu, trang phục tang lễ mũ gậy, áo xô lại

được con cháu mang ra mặc. Đồ mã được gửi cho người chết cũng

theo quy định: ở lễ tiểu đường đó là “mã biếu” vì người chết phải

sử dụng để biếu các ác thần mong tránh sự quấy nhiễu (dân gian

quan niệm cõi âm như cõi trần), ở lễ Đại tường và lễ Trừ phục (một

ngày tốt được chọn sau lễ Đại tường để đốt bỏ tang phục) đồ mã

còn cần nhiều hơn: mọi vật dụng sinh hoạt cho người chết (quần

áo, giầy dép, xe cộ), thậm chí cả các hình nhân bằng giấy để

xuống cõi âm phục vụ cho họ. Sau khi hóa (đốt) những đồ mã này,

đổ một chén rượu lên đống tàn vàng để vật mã trở thành vật thật,

tiền thật dưới cõi âm. Người ta còn hơ một chiếc đòn gánh, gậy

trên ngọn lửa hóa vàng, hoặc dựng một cây mía bên cạnh với lời

giải thích “để các cụ gánh vác về”.



22



Bên cạnh cúng giỗ theo gia đình, Gia tộc cũng có những qui

định tín ngưỡng cho việc thờ cúng Thủy tổ dòng họ. Mặc dù đã

qua nhiều đời nhưng ngày giỗ họ vẫn được lưu truyền nhờ việc ghi

chép gia phả. Trong ngày giỗ Thủy tổ, tất cả con cháu trưởng các

chi, ngành, nhánh buộc phải có mặt. Các con cháu khác tùy vào

hồn cảnh mà mang đồ tới góp giỗ. Lễ giỗ Tổ được tổ chức chu

đáo và duy trì đều đặn hàng năm.

Bên cạnh các nghi lễ cúng tế trong gia đình và gia tộc còn

phải kể thêm vào hệ thống nghi thức tế lễ tổ tiên một hình thức

Tảo mộ. Cứ vào dịp tháng ba âm lịch hàng năm, con cháu trong

nhà sẽ đi thăm mộ, cúng tế sửa sang mồ mả hay còn gọi đó là Tết

Thanh minh. Việc cúng tế tại mộ thường diễn ra đơn giản hơn

nhiều so với cúng tại nhà, nhưng trước khi cúng trước mộ người

thân người ta phải khấn cáo xin phép thổ công. Thăm nom sang

sửa mồ mả tổ tiên, một mặt là hình thức thể hiện lòng hiếu thảo

của con cháu, mặt khác bởi quan niệm mồ mả vô cùng quan trọng

đối với cuộc sống của cả gia đình, gia tộc. Người Việt cho rằng,

nếu vị trí đặt mồ mả khơng tốt, hướng khơng đúng thì con cháu

làm ăn sẽ lụi bại, không thể nào phát triển được.

d. Đồ cúng.

Đồ lễ dâng cúng gia tiên bao giờ cũng phải thanh khiết,

không con cháu nào được động tới. Cỗ bàn nấu xong, cúng gia

tiên trước con cháu mới được ăn sau. Khách tới ăn giỗ có mang đồ

lễ để cúng, thường là vàng hương, trầu rượu, trà nến, hoa

quả. Trong mâm cơm cúng, con gà cúng phải to, tròn, chắc nịch,

có đơi chân đẹp và được bày biện cẩn thận. Mâm cơm cúng cũng

phải đủ món luộc, xào, canh, miến, cùng với bình rượu, li nước, lọ

23



hoa, trầu cau, bánh kẹo và mâm ngũ quả để mời ông bà về ăn.

Tiền âm, vàng mã cũng phải được chuẩn bị chu đáo để ơng bà có

hành trang, lộ phí để lên đường. Lễ vật dâng cúng trong lễ tạ năm

mới gồm: Nhang, hoa, ngũ quả, trầu cau, rượu, đèn nến, bánh

kẹo, mâm lễ mặn hoặc chay cùng các món ăn đầy đủ, tinh khiết.

Có cây mía để các cụ gánh hàng hóa về trời. Sau khi lễ xong, hóa

vàng phải hóa riêng phần tiền vàng cho Gia Thần trước, sau đó

đến Gia tiên (Tức ơng bà cụ kỵ). Lễ hóa vàng, người ta thường đốt

các loại vàng mã như giấy vàng, giấy bạc, vàng thoi tiền… cùng

quần áo, giày dép, nhà cửa, xe… Sau khi đốt, người ta thường vẩy

một chén rượu cúng vào đống tro vàng mã để đồ cúng được

chuyển đến đúng người nhận. Một số nhà còn hơ các cây mía trên

ngọn lửa hóa vàng để người dưới âm có gậy chống. Lễ hóa vàng

được người Việt Nam rất chú trọng. Tùy theo hồn cảnh mỗi gia

đình mà cách chuẩn bị khác nhau. Đó được gọi là lễ tạ gia tiên gia

thần và chư vị thánh thần, phật. Theo quan niệm dân gian, có lễ

tạ thì tấm lòng của chủ nhà mới được người âm chứng giám.

III. Vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong bối

cảnh hiện nay

1. Vai trò của tín ngưỡng tổ tiên trong bối cảnh hiện

nay

Thờ cúng tổ tiên là biểu hiện của đạo lý làm người, là nhu cầu

hướng về cội nguồn của gia đình và dân tộc, đạo lý " uống nước

nhớ nguồn". Với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, chữ hiếu không chỉ

dừng lại ý thức, giáo dục đạo đức mà dần dần đã trở thành những

khuôn mẫu thường xuyên nhắc nhở con cháu phải có trách nhiệm

với quá khứ, hiện tại và tương lai. Tín ngưỡng này còn góp phần

24



duy trì mối quan hệ vơ hình nhưng bền chặt giữa quá khứ với hiện

tại, giữa những người đang tồn tại ở dương gian vói những ngừơi

đã “khuất núi”. Khi vui, khi buồn con cháu thường thắp nén nhang

với chén nước trắng đạm bạc, mời ông bà tổ tiên về để giãi bày

gia sự, để chứng giám, nhằm chia vui, cộng khổ. Đơi khi đó chỉ là

đĩa xơi, miếng thịt, trước cúng sau ăn, nhưng điều đó giúp người ta

vẫn cảm thấy yên tâm, thanh thản hơn khi cầu mong có sự phù hộ

độ trì của tổ tiên. Có thể nói thờ cúng tổ tiên là nét đẹp của văn

hố. Điều này đã được thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi nhận: “Từ xa

xưa dân tộc Việt Nam ta khơng có tơn giáo theo nghĩa thơng

thường của nhiều nước khác. Còn nói tơn giáo là thờ cúng thì mọi

người đều thờ cũng ông bà, mọi họ đều Thờ cúng tổ tiên... Từ góc

độ văn hố, tơi thấy đây là một đặc trưng đáng trọng của người

Việt Nam, ở chỗ nó là sự tưởng nhớ những người có cơng trong

việc tạo lập cuộc sống ngày nay trong mỗi gia đình và làng xóm”.

Tưởng nhớ đến tổ tiên khơng chỉ là hồi niệm về quá khứ, mà chủ

yếu là noi gương cha ông để sống đẹp đẽ sao cho không phải hổ

thẹn với tổ tiên.

Trong quá hình thành, tồn tại và phát triển của mình tín

ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã góp phần tạo dựng những giá trị

truyền thống, như: lòng hiếu thảo, đức nhân ái, tính cần cù, ý thức

cộng đồng, ham học tập, yêu quê hương, đất nước... tín ngưỡng

thờ cúng tổ tiên như đã khái quát trên có thể nói là vĩnh hằng

cùng với sự tồn tại và phát triển của dân tộc. Trong đó yêu nước là

giá trị đạo đức hàng đầu trong hệ thống đạo đức truyền thống của

dân tộc Việt Nam. Đó là những giá trị hết sức quý báu cần được

bảo lưu, kế thừa, nghiên cứu, khai thác và phát huy để phục vụ

25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×