Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở hình thành

Cơ sở hình thành

Tải bản đầy đủ - 0trang

người ta sùng là các nhiên thần, đặc biệt là thần cây, thần núi,

thần sơng.... Bằng cách huyền thoại hóa, các vị nhiên thần đã

được mang khuôn mặt của con người (hiền hậu hay dữ tợn), tâm

lý của con người (vui mừng hay giận giữ). Có thể nói việc nhân

hóa các thần tự nhiên đã tạo ra một bước chuyển cho việc hình

thành hệ thống nhân hóa. Đây cũng chính là giai đoạn con người

bắt đầu khám phá về bản thân mình. Đến một thời điểm nào đó,

mối quan hệ giữa cái hữu hình và cái vơ hình, nhất là cái sống và

cái chết đã làm con người bận tâm. Vẫn với quan niệm vật linh kể

trên, họ tin rằng trong mỗi con người đều có phần “hồn” và “vía”.

Khơng có ý thức cao siêu về thiên đàng hay địa ngục của Kitô

giáo hay thuyết luân hồi chuyển kiếp đầu thai của đạo Phật, trong

nhận thức dân gian, thể xác và linh hồn vừa gắn bó, vừa tách biệt.

Chúng gắn bó khi sống và tách biệt khi chết, thể xác đã hòa vào

cát bụi nhưng phần hồn vẫn tồn tại chuyển sang sống ở một thế

giới khác. Cõi âm ấy cũng có mọi nhu cầu như cuộc sống dương

gian. Theo quan niệm dân gian, chết cũng là một dạng “sống”

trong một mơi trường khác.

Niềm tin vào người đã khuất có mối liên hệ vơ hình, đó có thể

là phù trợ hoặc cản trở, đối với những người con đang sống.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu và

được hình thành trên cơ sở niềm tin vào sự bất tử của linh hồn tổ

tiên và bắt nguồn từ ước muốn mang tính bản năng - ước muốn

trường thọ của con người. Chính con người đã thiêng liêng hố

tình cảm thương, thái độ kính trọng người có công tạo dựng cuộc

sống. Niềm tin vào sự hiện tồn của tổ tiên góp phần cân bằng

trạng thái tâm lý, nhiều khi còn là cứu cánh, là sự giải toả nỗi cô

10



đơn, bất hạnh của con người trước cái chết. Tâm lý người Việt xuất

phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” - mọi vật đều có linh hồn.

Đến một thời điểm nào đó, mối quan hệ giữa cái hữu hình và cái

vơ hình, nhất là cái sống và cái chết đã làm con người bận tâm, họ

tin rằng trong mỗi con người đều có phần “hồn” và “xác”. Chúng

gắn bó khi sống và tách biệt khi chết, nếu thể xác hòa vào cát bụi

thì phần hồn vẫn tồn tại chuyển sang sống ở một thế giới khác.

Cõi âm ấy cũng có mọi nhu cầu như cuộc sống dương gian. Theo

quan niệm dân gian, chết cũng là một dạng “sống” trong một môi

trường khác. Mối quan hệ giữa những người sống và những người

chết cùng chung huyết thống lại càng gắn bó hơn. Trong vòng hai,

ba đời thì đó còn là những kỷ niệm rất cụ thể và sâu sắc. Chết

khơng phải là hết họ vẫn sống vơ hình bên cạnh con cháu. Niềm

tin vào cái chết chẳng qua là một cuộc trở về gặp tổ tiên, ông bà

và tổ tiên có thể sẽ dõi theo, phù hộ độ trì cho con cháu, đã là cơ

sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Bằng nghi lễ thờ cúng

tổ tiên, con người thể hiện một cách suy nghĩ về cái chết và cuộc

sống sau khi chết, giải toả nỗi kinh sợ khi phải đối mặt với nó.

Điều này làm cho cái chết trở nên thật nhẹ nhàng, con người

khơng còn quá ám ảnh bởi cái chết. Sự xa cách về thời gian và

không gian trở nên thật gần gũi… Tổ tiên cũng giống như các vị

thần linh khác có thể giáng tai hoạ xuống con cháu, vì thế cần

phải kính trọng, thờ cúng thường xun thì tổ tiên mới khơng làm

hại, mới che chở, bảo vệ, phù giúp.

b. Cơ sở về ý thức cội nguồn và lòng hiếu thảo

Bên cạnh tin vào những người đã khuất, ý thức tôn trọng cội

nguồn và đức tính hiếu thảo của người Việt cũng là cơ sở quan

11



trọng hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tín ngưỡng thờ

cúng tổ tiên còn được bắt nguồn từ lòng hiếu thảo của con cháu.

Quan hệ giữa bố mẹ đang sống với con cái là hiện thân của mối

quan hệ giữa tổ tiên với con cháu sau này. Sự kính hiếu cha mẹ

được tiếp nối bằng sự tơn thờ, sùng bái tổ tiên. Bổn phận kính

trọng, biết ơn, báo hiếu, đền ơn công sinh thành dưỡng… dục của

bố mẹ cũng là bổn phận báo hiếu, ơn đền tổ tiên. Thờ phụng tổ

tiên là cách thể hiện lòng hiếu thảo, sự thành kính biết ơn các bậc

đã sinh thành, ni nấng mình. Tuy nhiên, con cháu chỉ được tổ

tiên bao dung, che chở phù hộ khi sống xứng đáng với ước nguyện

của tổ tiên, sống sao cho tốt đời, đẹp đạo. Mặt khác, con cháu chỉ

tơn kính, qui thuận và thờ phụng tổ tiên khi tổ tiên xứng đáng là

tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Trách nhiệm được biểu

hiện không chỉ trong các hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục

truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong các

hành vi cúng tế cụ thể. Từ đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên dần

được hình thành. Tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên tồn tại ở

nhiều dân tộc Đơng Nam Á song nó vẫn được xem như là tín

ngưỡng đặc trưng cho người Việt về tính phổ biến của nó đối với

cộng đồng, hầu như trong mỗi gia đình người Việt đều có bàn thờ

gia tiên.

Người Việt Nam thường trọng tình nhẹ lý, cọi trọng tình cảm

và được thể hiện sâu sắc qua cuộc sống hàng ngày cũng như tín

ngưỡng của mình. Con người vừa chịu quan niệm “sống vì mồ vì

mả, ai sống vì bát cơm” mong được nhận “phúc ấm của tổ tiên”

nhưng lại lo trách nhiệm để phúc cho con cháu “đời cha ăn mặn

đời con khát nước”. Bởi vậy mà khi cúng lễ tổ tiên, một mặt con

12



người hướng về quá khứ, định hướng cho hiện tại, giáo dục truyền

thống gia đình, đạo lý làm người cho con cháu và mặt khác đã

chuẩn bị cho tương lai. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một tín

ngưỡng bình dị gắn liền với mỗi người dân đất Việt và giàu tính

thực tiễn. Bằng việc thờ cúng tổ tiên, thế hệ trước nêu gương cho

thế hệ sau khơng chỉ vì trách nhiệm đối với các bậc sinh thành mà

còn để giáo dục dạy dỗ con cháu lưu truyền, tiếp lửa duy trì nòi

giống. Lời cầu xin che chở, phù trợ cho cuộc sống hàng ngày của

họ được bình n, sn sẻ, điều đó giúp con người cảm thấy thanh

thản về mặt tâm linh, điểm tựa tinh thần quan trọng cho cuộc

sống. Có chăng chính bởi lẽ đó mà khả năng phổ biến trong không

gian và thời gian của tín ngưỡng này ngày càng rộng lớn và phát

triển

Có thể khẳng định yếu tố đóng vai trò quyết định đến việc

duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là sự tơn kính,

lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước, là tình yêu thương và lòng

hiếu thảo của con cháu đối với tổ tiên, ơng bà, cha mẹ.

Dân Việt trọng lễ nghĩa, hiếu thảo với cha mẹ và có hiếu với

ơng bà tổ tiên, với nguồn gốc của mình bởi:

"Cây có gốc mới nở ngành xanh ngọn

Nước có nguồn mới bể rộng nơng sâu"

Xin tổ tiên phù hộ cho gia quyến bình an, đó là tâm niệm

của tất cả người Việt Nam. Trên đây là những nguồn gốc xã hội,

nhận thức và tâm lý của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Song để làm

sáng tỏ vấn đề, cần thiết phải xem xét những đặc trưng chủ yếu

nhất, tức là bản chất của nó.

13



c. Cơ sở kinh tế- xã hội

* Cơ sở kinh tế:

Xã hội cổ truyền của người Việt cũng có những cơ sở kinh tế

nhất định cho việc hình thành và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ

tiên. Trước hết đó là nền kinh tế tiểu nơng tự cung tự cấp. Đây

chính là mơi trường thuận lợi cho sự xuất hiện tín ngưỡng đa thần.

Xét về phương diện kinh tế, làng xã Việt Nam đã gần như một đơn

vị độc lập và tương tự như thế, là tế bào của nó - hộ gia đình nhỏ.

Đây là nhân tố quan trọng gắn bó các thành viên của gia đình

cùng một thế hệ và giữa các thế hệ. Mở rộng ra, các gia đình cư

trú quần tụ theo họ, và nhiều họ tập hợp thành làng. Trước làng,

con người không tồn tại với tư cách cá nhân mà dưới danh nghĩa

gia đình dòng họ - những đơn vị huyết thống. Có thể nói nền kinh

tế tiểu nông ấy là mảnh đất thuận lợi cho việc củng cố và phát

triển ý thức dân tộc cũng như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở làng

xã.

Trong khía cạnh kinh tế có một điểm quan trọng tạo nên nét

khác biệt trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và Trung

Hoa. Do đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa nên

Việt Nam sản xuất lúa nước theo truyền thống tiểu canh kết hợp

với nuôi gia súc. Vì vậy sản xuất khơng đòi hỏi tập trung nhân

cơng theo quy mô lớn như ở nơi sản xuất lúa mỳ khô, công cụ xản

xuất cũng nhỏ, gọn, nhẹ, mọi thành viên trong gia đình từ phụ nữ,

trẻ em đều sử dụng dễ dàng. Kết hợp tất yếu của quy trình này

khiến người Việt gắn bó với gia đình, thường là gia đình hạt nhân

chặt hơn với dòng họ. Hầu như gia đình nào cũng có bàn thờ tổ

14



tiên (dù thờ chính hay thờ vọng) nhưng khơng phải dòng họ nào

cũng có từ đường.

* Cơ sở lịch sử- xã hội:

Hình thức tổ chức xã hội cũng là yếu tố quan trọng trong việc

hình thành tín ngưỡng. Sự ra đời của chế độ thị tộc phụ hệ là kết

quả của việc công cụ sản xuất phát triển kéo theo sự phân công

lao động giữa trồng trọt, chăn nuôi và thủ công ngày càng rõ rệt.

Từ yêu cầu sản xuất đến nhu cầu lãnh thổ đã nâng địa vị của

người đàn ông lên hàng đầu. Khi trình độ sản xuất phát triển, của

cải xã hội làm ra ngày càng nhiều làm xuất hiện một lớp tích luỹ

được nhiều của cải và dẫn tới có quyền uy chi phối người khác và

là mầm mống cho sự phân chia xã hội thành giai cấp. Trong xã hội

có gia cấp, vị trí của người đàn ơng trong gia đình và ngồi xã hội

ngày càng được củng cố - cơ sở đích thực trong q trình chuyển

đổi sang việc thờ cúng tổ tiên là con người thực cùng chung dòng

máu. Cùng với sự biến đổi từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ,

trình độ sản xuất của xã hội ngày càng cao, của cải làm ra ngày

càng nhiều. Bằng uy tín của mình, những người đàn ơng đã củng

cố và thiêng hóa sự thờ cúng tổ tiên. Trong xã hội có giai cấp, vị trí

của người đàn ơng trong gia đình và ngồi xã hội càng được khẳng

định, tạo điều kiện cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phát triển

mạnh. Nền kinh tế tiểu nông theo kiểu tự cung tự cấp đã tồn tại

lâu dài trong xã hội Việt Nam cũng là một cơ sở cho sự hình thành

và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Mỗi một gia đình là một cơ

sở kinh tế độc lập, sản xuất và tiêu thụ. Các thành viên trong gia

đình gắn bó chặt chẽ với nhau trong lao động sản xuất và trong

đời sống lấy gia đình là trung tâm.

15



Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ra đời và duy trì trong

những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định. Từ hình thức liên minh

cộng đồng nguyên thủy đến hình thức liên kết gia đình sơ khai

theo trục huyết thống nam đã là một chặng đường lịch sử khá dài.

Theo con đường “ chung tộc danh về phía bố”, các gia đình nhỏ

liên kết lại với nhau thành họ. Đây là loại đơn vị ngoại hơn vì các

thành viên trong họ liên kết với nhau bằng sợi dây huyết thống và

cùng chung một vị thủy tổ.

d. Ảnh hưởng của một số tư tưởng tôn giáo đến tín ngưỡng thờ

cúng tổ tiên ở Việt Nam

Khơng chỉ chịu tác dụng của chế độ phụ quyền, tín ngưỡng thờ

cũng tổ tiên còn chịu ảnh hưởng từ ba dòng tơn giáo chính ở Việt

Nam. Đó là:

- Nho giáo: Theo Khổng Tử, sự sống của con người không phải

do tạo hóa sinh ra càng khơng phải do bản thân tự tạo ra mà nhờ

cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn với ông bà và cứ như vậy thế

hệ sau kế tiếp thế hệ trước, chính bởi vậy mà thế hệ sau phải biết

ơn thế hệ trước. Cùng với tư tưởng tôn quân, quyền huynh thế phụ

đã củng cố thêm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nước ta ngày một

thể chế hóa.

- Đạo giáo: Nếu Khổng giáo đặt nền tảng lý luận về đạo đức,

về trật tự kỉ cương xã hội cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của

người Việt thì Đạo giáo đã góp phần củng cố niềm tin vào sự tồn

tại và năng lực siêu nhiên của linh hồn những người đã chết thông

qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, bùa chú, ma chay, tang

lễ, mồ mả và đốt vàng mã.

16



- Phật giáo: Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn và

phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt.Đó là những quan

niệm về cái chết, sự luân hồi trong cuộc đời, kiếp này, kiếp sau.

Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo có ảnh hưởng lớn lao đến sự

phát triển của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt nhưng không

phải sao chép y nguyên. Người Việt Nam quan niệm rằng cha mẹ

tổ tiên luôn lo lắng, quan tâm cho con cái ngay cả khi họ đã chết.

Người sống chăm lo đến linh hồn người chết, vong hồn người chết

sẽ quan tâm đến sự sống của người đang sống.

3. Bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Về bản chất, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên khơng phải là một

tơn giáo. Bở mặc dù nó có những nghi lễ cụ thể nhưng khơng có

những tín điều, giáo lý chặt chẽ mà mỗi nơi có những biến tấu

khác nhau từ Bắc vào Nam. Mục đích cuối cùng của việc thờ cúng

tổ tiên là thể hiện sự tơn kính, thương yêu của người đang sống

đối với người đã chết và hi vọng người chết đi sẽ phù hộ, ban

phước lành cho những người trong gai đình, dòng họ. Nó mang ý

nghĩa tìm về cội nguồn.

Bản chất:

- Thờ cúng những người trong cùng dòng họ, máu mủ đã

khuất theo từng đơn vị gia đình, gia tộc

- Nó mang tính chất là một hình thái tín ngưỡng, thờ tự, cúng

lễ, cầu mong linh hồn ông bà tổ tiên phù hộ cho hiện thực cuộc

sống của con cháu

- Nó có cả khía cạnh uống nước nhớ nguồn:

“Công cha như núi Thái Sơn,

17



Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”

a. Thờ cúng để lưu giữ kí ức về tổ tiên

Tổ tiên hay những người đã khuất vẫn luôn tồn tại trong ký ức

của mỗi người, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình

cảm mà chúng ta gọi là chữ "hiếu", biết tơn kính những người đã

cho ta sự sống và ý thức nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ

cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái

ảo tưởng, một niềm tin tốt lành khơng ảnh hưởng đến ai rằng họ

còn tồn tại mãi. Việc thờ cúng người chết là tơn kính ký ức về họ,

cơ sở chữ hiếu và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi

giống.

b. Nhắc nhở ý thúc về cội nguồn:

“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là những

đạo lý tốt đẹp của cha ông ta từ xưa đến nay, việc thờ cúng tổ tiên

thành cẩn phải xuất phát từ lòng hiếu kính nhớ ân thâm nghĩa

trọng, nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người ngay từ lúc còn

thơ bé:

"Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn,

Nước có nguồn mới bể rộng sơng sâu.

Người ta nguồn gốc từ đâu?

Có cha có mẹ rồi sau có mình."

Trải qua biết bao thăng trầm lịch, Việt Nam đã chứng kiến biết

bao sự đổi thay mạnh mẽ trong q trình giao lưu văn hóa, tín

ngưỡng nhưng với phẩm chất ứng phó linh hoạt, mềm dẻo trong

phẩm chất cong người, ta đã hội nhập với văn hóa thế giới một

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở hình thành

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×