Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bản chất pháp luật

Bản chất pháp luật

Tải bản đầy đủ - 0trang

quy phạm xử sự được xây dựng và ban hành nhăm thực hiện

mục tiêu điều chỉnh, quản lí các quan hệ phát sinh trong xã hội

Pháp luật được xây dựng và ban hành bởi các chủ thể có

thẩm quyền, nên pháp luật thể hiện ý chí, quan điểm của chính

những chủ thể đó về những vấn đề, những lĩnh vực mà pháp

luật điêu chỉnh. Theo đó, pháp luật của Cộng đồng ASEÁN và

pháp luật Việt Nam đều phản ảnh ý chí vả bảo vệ cho quyền và

lợi ích của các chủ thể xây dựng và ban hành.

Pháp luật Cộng đồng ASEAN hình thành trên cơ sở sự dung

hòa về ý chí, lợi ích của tât cả các giai tầng. Như vậy, pháp luật

Việt Nam và pháp luật AC đều mang tính xã hội, tính cộng

đồng, thơng qua đó, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững,

ổn định, hướng tới một xã hội, một cộng đồng hài hòa và ổn

định. Thêm vào đó hai hệ thống pháp luật này đều được xây

dựng phù hợp với các đặc điểm kinh tế kinh tế, chính trị, văn

hóa

của xã hội, cộng đồng mình, từ đó tạo dựng một mơi

trường bình ổn cho sự phát triển ở những mức độ cao hơn của

xã hội, của cộng đồng.f

b. Điểm khác nhau

Cộng đồng ASEAN là liên kết giữa các quốc gia - chủ thể

của Luật Quốc tế trên cơ sở một hệ thống pháp lý và thể chế

pháp lý, do đó mà pháp luật Cộng đồng ASEAN mang đầy đủ

bản chất của pháp luật quốc tế, khơng xuất phát từ một hay

một nhóm thành viên đơn lẻ, không xuất phát từ một giai cấp

cá biệt nào, cũng không hướng tới một chủ thể nhất định cụ

thể, mà là kết quả dựa trên sự dung hòa về ý chí của tắt cả các



9



nước thành viên và bảo vệ cho lợi ích chung của cả Cộng đồng

mà khơng phải lả của bât kì một quốc gia hay một giai cấp

riêng lẻ nào. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam là pháp luật quốc

gia, do Nhà nước của giai cấp cầm quyền xây dựng và ban

hành, là công cụ pháp lí để giai cấp cầm quyền quản lí quốc

gia, bảo vệ cho quyền và lợi ích của giai cấp mình (tính giai cấp

rõ rệt của pháp luật quốc gia). Đây chính là sự khác biệt tối

trọng yếu, quyết định những điểm khác biệt khác giữa pháp

luật Việt Nam và pháp luật Cộng đồng ASEAN nói riêng, cũng

như giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế nói chung.

2. Quan hệ pháp luật

a. Điểm giống nhau

Thứ nhất, quan hệ pháp luật Cộng đồng ASEAN và quan hệ

pháp luật Việt Nam đều mang những đặc điểm chung của quan

hệ pháp luật, đều là các quan hệ xã hội được các quy phạm

pháp luật điều chỉnh (về mặt chủ thể quan hệ, quyền và nghĩa

vụ của chủ thể khi tham gia quan hệ, nội dung quan hệ, phạm

vi quan hệ...).

Thứ hai, về lĩnh vực điều chỉnh, pháp luật Cộng đồng ASEAN

và pháp luật Việt Nam đều thực hiện điều chỉnh các quan hệ

phát sinh trên mọi lĩnh vưjc của đời sống xã hội: chính trị - an

ninh, kinh tế - thương mại, văn hóa - xã hội,...

Thứ ba, về phạm vi điều chỉnh, cả pháp luẩ Việt Nam và

pháp luật ASEAN đều điều chỉnh các quan hệ pháp luật mang

tính chất "đối nội" và "đối ngoại". Pháp luật Việt Nam điều chỉnh

các quan hệ giữa các chủ thể trong nước với nhau (đối nội) và

giữa các chủ thể trong nước với bên ngoài (đối ngoại); tương tự,



10



pháp luật của Cộng đồng ASEAN điều chỉnh quan hệ giữa các

quốc gia thành viên ASEAN với nhau (nội khối) và quan hệ giữa

ASEAN với các đối tác quốc tế ngoài ASEAN (ngoại khối).

b. Điểm khác nhau

Điểm khác biệt lớn và rõ ràng nhất giữa quan hệ pháp luật

Cộng đồng ASEAN và quan hệ pháp luật Việt Nam là chủ thể

của quan hệ pháp luật. Do bản chất của luật Cộng đồng ASEAN

là pháp luật quốc tế,|chủ thể của quan hệ pháp luật phải là các

quốc gia, các tổ chức quốc tế liên Chính phủ... khơng chỉ có đầy

đủ điều kiện và năng lực của chủ thể luật quốc tế, mà còn phải

đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật Cộng đồng về chủ thể

Trong khi đó, do bản chất là pháp luật quốc gia, chủ thể của

quan hệ pháp luật Việt Nam là các chủ thể trong nước (cá nhân,

pháp nhân Việt Nam: cá nhân. pháp nhân nước ngoài ở Việt

Nam; các cơ quan Nhà nước) mà khơng phải là chủ thể mang

tính chất quốc tế.

Mặt khác, cũng do bản chất pháp luật khác nhau mà địa vị

pháp lí giữa các chủ thể của pháp luật Cộng đồng ASEAN đều

hình đẳng với nhau ỵề qụyền và nghĩa vụ.cũng như có tiếng nói

ngang nhau trong việc quyết định các vấn đề chung của cả

Cộng đồng; còn các chủ thể của pháp luật Việt Nam. bên cạnh

các chủ thể có địa vị pháp lí ngang nhau (cá nhân, pháp nhân),

còn có sự những quan hệ thể hiện sự bất bình đẳng_giữa các

chủ thể (quán hệ giữa Nhà nước và các chủ thể còn lại, trong đó

Nhà nước ở địa vị pháp lý cao hơn. Sự khác biệt này chính là

một trong những nguyên nhân dẫn đến những sự khác biệt

khác giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng đồng ASEAN.



11



Sự khác biệt thứ hai là về phạm vi của quan hệ pháp luật:

pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ pháp luật thuộc

phạm vi nội bộ quốc gia, còn pháp Ịụật của Cộng đồng ASEAN

điều chỉnh quan hệ phát sinh trong đời sống đối ngoại, hợp tác

quốc tế của các quốc gia thảnh viên ASEAN.

3. Cơ chế xây dựng pháp luật

Như đã trình bày ở phần trước, pháp luât ASEAN được xây

dựng theo cơ chế tham vấn và đồng thuận piữa các thành viên

trên nguyên tắc binh đăng, tôn trọng và đảm bảo hài hòa lợi ích

của các thành viên, phù hợp với bản chất mà pháp luật quốc tế

của pháp luật Cộng đồng ASEAN. Pháp luật Việt Nam do mang

bản chất là pháp luật quốc gia, pháp luật của Nhà nước, của

giai cấp cầm qụyền, nên nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật

này được trao cho các cơ quan Nhà nước co thẩm quyền (các cơ

quan quỵển lực, cơ quan hành chính...). Hoạt động xây dựng

pháp luật ở Việt Nam cần tiến hành dựa trên các nguyên tắc:

đảm bảo sự lãnh đạo cùa Đảng Cộng sản Việt Nam, đảm bảo

tính, khoa học và dân chủ; đảm bảo tính pháp chế; đảm bảo hài

hòa lợi ích giữa các lực lượng xã hội tính tốn đến lợi ích tồn

dân.

Có thể thấy về cơ bản, cách thức xây dựng hai hệ thống

pháp luật là khác nhau, tuy nhiên vẫn có điểm chung là đều cố

gắng đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia vào quan

hệ pháp luật (dù khác nhau ở mức độ biểu hiện).

Điểm khác nhau rõ rệt nhất về cơ chế xây dựng pháp luật là

việc pháp luật Cộng đồng ASEAN không do một cơ quan cụ thể

nào xây dựng, mà do tất cả các quốc gia thành viên trực tiếp



12



thỏa thuận, trao đổi và thông qua, khác với hệ thống pháp luật

ở Việt Nam được xây dựng và ban hành bởi cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền - Quốc hội. Mục đích của việc xây dựng pháp

luật Cộng đồng ASEAN là đảm bảo cho ASEAN có thể phát triển

theo định hướng ‘‘thống nhất trong đa dạng”, giữ cho ASEAN

hợp tác lâu dài, ổn định và đoàn kết, trong khi mục đích của

việc xây dựng pháp luật Việt Nam nhằm đảm bảo cho lợi ích

của tồn thể nhân dân và sự phát triển của Việt Nam.

4. Cơ chế thực thi và tuân thủ pháp luật

a. Cơ chế thực thi pháp luật:

Việc thực thi pháp luật ở Việt Nam được giao chủ yếu cho

hệ thống các cơ quan quản lí - hành chính cơ quan chấp hành

của hệ thống cơ quan quyền lực, mà cụ thể là Chính phủ, các

bộ và cơ quan ngang bộ trực thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân

các cấp với các cơ quan chuyên môn trực thuộc... Đây chính là

những cơ quan có trách nhiệm tổ chức thi hành các văn bản

quy phạm pháp luật; đề xuất, triển khai các dự án, các chương

trình, các hoạt động thực thi pháp luật trên thực tiễn,

Như vậy, nếu so sánh với cơ chế thực thi thông qua hoạt

động của các quốc gia thành viên và các thiết chế cộng đồng

của pháp luật Cộng đồng ASEAN ta có thể nhận thấy có nét

tương đồng khi cả hai hệ thống pháp luật đêu sử dụng các cơ

quan thiết chế cụ thể để triển khai thực thi pháp luật. Mặc dù

vậy, cũng có thể thấy cơ chế thực thi pháp luật của Việt Nam có

tính tập trung, đồng bộ và chặt chẽ hơn so với hệ thống. các

thiết chế thực thi pháp luật còn có phần lỏng lẻo, thiếu thống



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bản chất pháp luật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×