Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Phân tích các điều kiện để cuộc đình công là hợp pháp

I. Phân tích các điều kiện để cuộc đình công là hợp pháp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Liên quan đến vấn đề này, Khoản 2 Điều 209 Bộ luật lao động

2012 đã quy định tại cuộc đình công chỉ được tiến hành sau thời

hạn quy định tại Khoản 3 Điều 206 Bộ luật lao động 2012. Theo

đó, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải

thành, sau thời hạn 5 ngày sau đó tập thể lao động có quyền tiến

hành các thủ tục đình cơng. Hoặc sau thời hạn 3 ngày kể từ ngày

Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải khơng thành. Sở

dĩ có quy định này là do mục đích của đình cơng như định nghĩa

đã nêu là nhằm đạt được các yêu cầu trong quá trình giải quyết

tranh chấp lao động và việc giải quyết này trước tiên được hòa

giải giữa các bên và việc đình cơng chỉ đặt ra khi hòa giải khơng

thành hay thành nhưng một trong các bên không thực hiện thỏa

thuận.

Thứ tư, về chủ thể tổ chức và lãnh đạo cuộc đình công

Điều 210 Bộ luật lao động 2012 quy định về vấn đề này như

sau: “Ở nơi có tổ chức cơng đồn cơ sở thì đình cơng phải do Ban

chấp hành cơng đồn cơ sở tổ chức và lãnh đạo; Ở nơi chưa có tổ

chức cơng đồn cơ sở thì đình cơng do tổ chức cơng đồn cấp trên

tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động”. Quy định

này có ý nghĩa lớn cho việc đình cơng diễn ra đúng vai trò, ý nghĩa

của nó. Một cuộc đình cơng diễn ra phải có tổ chức và lãnh đạo,

khơng thể diễn ra tùy tiện và ngẫu hứng. Không chỉ vậy, luật

không cho phép một cá nhân, hay tổ chức nào khác tổ chức và

lãnh đạo cuộc đình cơng mà chỉ cho phép Ban chấp hành cơng

đồn là do đây là tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi cho người lao

động, tập thể lao động và chủ thể này có đầy đủ những điều kiện

cho phép để thực hiện cơng việc này.

Thứ năm, về trình tự tiến hành cuộc đình cơng.

Theo đó, một cuộc đình cơng được coi là hợp pháp nếu thực

hiện đầy đủ các bước quy định tại Điều 211 Bộ luật lao động 2012,

cụ thể gồm ba bước, là:

Bước 1. Lấy ý kiến tập thể lao động

Đối với việc lấy ý kiến này, Điều 212 đã quy định chi tiết như

sau: Đầu tiên, về chủ thể lấy ý kiến, đối với tập thể lao động có tổ

chức cơng đồn cơ sở thì lấy ý kiến của thành viên Ban chấp hành

cơng đồn cơ sở và tổ trưởng các tổ sản xuất. Nơi chưa có tổ chức

cơng đồn cơ sở thì lấy ý kiến của tổ trưởng các tổ sản xuất hoặc

2



của người lao động. Việc lấy ý kiến các chủ thể nêu trên phải được

thực hiện bằng phiếu hoặc chữ ký. Thời gian, hình thức lấy ý kiến

do Ban chấp hành cơng đồn quyết định. Đồng thời, các quyết

định này phải được thông báo cho người sử dụng lao động biết

trước ít nhất một ngày.

Bước 2. Ra quyết định đình cơng

Quyết định đình cơng được ra khi có ít nhất 50% sơ người

được lấy ý kiến đồng ý với phương án mà Ban chấp hành cơng

đồn đưa ra. Quyết định đình cơng phải được thể hiện bằng văn

bản bao gồm các nội dung cơ bản là kết quả lấy ý kiến, thời điểm

bắt đầu, địa điểm đình cơng; phạm vi đình cơng; u cầu của tập

thể lao động; …

Bước 3. Tiến hành đình cơng.

Theo Khoản 4 Điều 213 Bộ luật lao động 2012 thì Ban chấp

hành cơng đồn tổ chức và lãnh đạo đình cơng nếu đến thời điểm

bắt đầu đình cơng, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận

giải quyết yêu cầu của tập thể lao động.

Thứ sáu, về vấn đề thông báo thời điểm bắt đầu đình cơng

Khoản 3 Điều 213 Bộ luật lao động 2012 đã quy định về vấn

đề này như sau: “Ít nhất là 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu

đình cơng, Ban chấp hành cơng đồn gửi quyết định đình cơng

cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi 01 bản cho cơ quan

quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh, 01 bản cho cơng đồn cấp

tỉnh”. Như vậy, sau khi ra quyết định tiến hành đình cơng có nêu

rõ thời điểm bắt đầu, Ban chấp hành cơng đồn ra quyết định phải

gửi quyết định đó cho người sử dụng lao động; sở lao động thương

binh xã hội tỉnh nới diễn ra cuộc đình cơng và cơng đồn cấp tỉnh

của tỉnh đó.

Thứ bảy, khơng thuộc các trường hợp đình cơng bất hợp pháp

Vậy thế nào là một trường hợp đình cơng bất hợp pháp, Điều

215 Bộ luật lao động 2012 đã nêu ra cụ thể 5 trường hợp. Do đó,

một cuộc đình cơng phải khơng thuộc 5 trường hợp này thì mới

hợp pháp, đó là:

- Khơng phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.

Trường hợp này như đã trình bày từ đầu thì cuộc đình cơng chỉ

3



được tiến hành trên căn cứ có tranh chấp lao động tập thể về lợi

ích.

- Tổ chức cho những người lao động không cùng làm việc cho

một người sử dụng lao động đình cơng. Điều này có nghĩa, những

người tham gia đình cơng đều phải cùng làm việc cho cùng một

người sử dụng lao động. Lý giải cho quy định này, như đã nói, đình

cơng là nhằm đáp ứng các yêu cầu của quá trình giải quyết tranh

chấp lao động mà tranh chấp lao động tập thể về lợi ích chỉ xảy ra

trong mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động

của chính mình. Do đó, khơng thể vì một tranh chấp mà lôi kéo

người lao động làm việc cho những người sử dụng lao động khác

nhau cùng tiến hành đình cơng, điều này là bất hợp pháp.

- Khi vụ việc tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc

đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định của

Bộ luật này. Điều này cũng hoàn toàn hợp lý bởi như đã nói ở trên

về thời gian tiến hành đình công theo quy định tại khoản 3 điều

206. Một vụ tranh chấp trước tiên được giải quyết bằng hòa giải;

được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết. Việc đình cơng chỉ đặt

ra nếu tranh chấp đó khơng thể hòa giải hay sau khi hòa giải mà

có một bên khơng thực hiện theo cam kết.

- Khi đã có quyết định hỗn hoặc ngừng đình cơng. Trước tiên,

mọi hoạt động của cá nhân, tổ chức đều phải dựa trên khuân khổ

hiến pháp, pháp luật. Một trong những hình thức của việc tuân thủ

này là chấp hành các quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền. Do đó, cũng đễ hiểu khi luật quy định một cuộc

đình cơng đã có quyết định hỗn hoặc ngừng nhưng vẫn tiếp tục

là bất hợp pháp cũng rất hợp lý.

- Cuối cùng, khơng thuộc các trường hợp khơng được đình

cơng. Thực tế cho thấy, hậu quả của một cuộc đình cơng để lại là

rất lớn, có thể kể đến sự gián đoạn sản xuất, kinh doanh, làm xấu

đi mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động…

Do đó, đình cơng ln phải tn theo một hành lang pháp lý chặt

chẽ, trong đó bao gồm các trường hợp khơng được phép tiến hành

đình cơng. Theo đó, điều 220 BLLĐ đưa ra hai trường hợp khơng

được phép đình cơng, cụ thể:

- Khơng được đình cơng ở đơn vị sử dụng lao động hoạt động

thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân mà việc đình cơng có thể đe

4



dọa đến an ninh, quốc phòng, sức khỏe, trật tự cơng cộng theo

danh mục do Chính phủ quy định.

- Cơ quan quản lý nhà nước phải định kỳ tổ chức lắng nghe ý

kiến của tập thể người lao động và người sử dụng lao động để kịp

thời giúp đỡ và giải quyết các yêu cầu chính đáng của tập thể lao

động.

Như vậy, một cuộc đình cơng được coi là hợp pháp phải đáp

ứng đủ các điều kiện nêu trên, nếu vi phạm bất kì điều kiện nào,

cuộc đình cơng sẽ được coi là không hợp pháp.

II. Bài tập

1. Nhận xét về hợp đồng thử việc và xác định HĐLĐ

giữa các bên vào thời điểm xảy ra tranh chấp

Hợp đồng thử việc cũng là hợp đồng lao động nên nó cũng

phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng lao động nói

chung. Ngồi ra, đối với hợp đồng này, pháp luật có những quy

định riêng bắt buộc nên một hợp đồng thử việc hợp pháp khi đáp

ứng cả các điều kiện sau:

Thứ nhất, điều kiện về chủ thể; hình thức; nội dung; nguyên

tắc; các loại hợp đồng. Do giải thiết tình huống không đưa ra các

thông tin về các nội dung này nên ta có thể coi như những điều

kiện này đã được áp ứng.

Thứ hai, bao gồm các quy định liên quan đến thời gian làm

việc và mức lương thử việc. Cụ thể:

Về thời gian thử việc, theo Điều 27 Bộ luật lao động năm 2012

thì thời gian thử việc được xác định dựa trên căn cứ về tính chất,

mức độ phức tạp của cơng việc, theo đó, mỗi cơng việc chỉ được

phép thử việc một lần và thời gian thử việc tối đa đối với một công

việc quy định tại các Khoản 1,2, 3 của Điều này. Như vậy, dù đối

với cơng việc có chức danh cần trình độ chun mơn, kỹ thuật từ

cao đẳng trở lên có thời gian thử việc dài nhất nhưng khơng q

60 ngày.

Trong tình huống này, chị V thử việc tại công ty S từ 1/5/2013

đến 31/7/2013. Như vậy, thời gian thử việc của chị V là 3 tháng,

tức đã dài hơn thời gian luật định là 60 ngày. Điều này gây ảnh

hưởng đến quyền, lợi ích của chị V và hợp đồng thử việc đã trái với

quy định này của Bộ luật lao động năm 2012.

5



Về mức lương trong thời gian thử việc, Điều 28 Bộ luật lao

động năm 2012 đã quy định vấn đề này. Theo đó, mức lương do

hai bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng việc thỏa thuận này có

phần bị giới hạn, đó là mức lương thỏa thuận ít nhất phải bằng

85% mức lương của cơng việc đó. Quy định này là hợp lý, giúp bảo

về quyền lợi cho cả người lao động lẫn người sử dụng lao động.

Dưới góc độ người sử dụng lao động, do người lao động chỉ là

trong thời gian thử việc, chất lượng, hiệu quả công việc là một

chưa xác định được, nên việc trả lương bằng 100% lương của cơng

việc đó sẽ gây thiệt thòi cho họ. Tuy nhiên, nếu khơng kiểm sốt

vấn đề thỏa thuận của hai bên thì quyền lợi của người lao động

trên thực tế khó mà bảo đảm được. Dưới góc độ của người lao

động, họ là bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động nên dễ bị ảnh

hưởng hay thiệt thòi nếu khơng có sự kiểm sốt của Nhà nước và

việc chấp nhận mức lương quá thấp để có một cơng việc là dễ

hiểu, đặc biệt trong điều kiện của nước ta hiện nay khi mà tình

trạng thất nghiệp, thừa lao động đang ở mức tương đối cao.

Trong tình huống này, mức lương chị V được hưởng trong suốt

3 tháng lao động chỉ bằng 75% lương của cơng việc kế tốn. Do

đó, vấn đề này đã thực hiện trái với quy định của pháp luật.

Như vậy, với việc không đáp ứng được hai quy định nêu trên,

hợp đồng thử việc của chị V ký với công ty S là không hợp pháp.

Tiếp theo, khi kết thúc thời gian thử việc, việc người lao động

có tiếp tục làm việc hay nói cách khác là kết quả thử việc thế nào

là vấn đề cần lưu tâm. Điều 7 nghị định số 05/2015/NĐ-CP đã quy

định chi tiết, cụ thể vấn đề này. Theo đó, đối với từng loại cơng

việc có thời gian thử việc khác nhau, việc thông báo kết quả thử

việc cũng khác nhau. Đối với cơng việc có thời gian thử việc tối đa

là 30, 60 ngày (Khoản 1, 2 Điều 27 Bộ luật lao động năm 2012) thì

người sử dụng lao động phải thơng báo cho người lao động trong

thời hạn 3 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc. Còn đối với

trường hợp tại Khoản 3 Điều 27 Bộ luật lao động năm 2012 thì kết

quả thử việc được thông báo cho người lao động khi kết thúc thời

gian thử việc.

Quy định của pháp luật quy định như vậy là hợp lý bởi bản

chất của thử việc là để người sử dụng lao động đánh giá khả năng

lao động của người lao động có phù hợp với công việc hay không.

Và trong thời gian 30, 60 ngày, người sử dụng lao động hoàn toàn

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Phân tích các điều kiện để cuộc đình công là hợp pháp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x