Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ - 0trang

1. Cơ sở lý luận:

“Hãy chung tay bảo vệ môi trường

Mơi trường hơm nay - cuộc sống ngày mai”

Đó là những thơng điệp được phổ biến rộng rãi trên tồn cầu. Thơng điệp

muốn nhắn nhủ chúng ta hãy sống hòa mình cùng mơi trường. Cần có ý thức bảo vệ

mơi trường trong sạch, lành mạnh.

Mỗi cá thể, quần thể sinh vật bất kỳ nào kể cả con người đều sống dựa vào

mơi trường và mơi trường có ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc sống của chúng ta. Sự

ô nhiễm môi trường đang là hiểm họa nguy hại đến cuộc sống con người và thiên

nhiên.

Đứng trước hiểm họa trên thì giáo dục bảo vệ môi trường trở thành một vấn

đề rất cấp bách đang được xã hội quan tâm, giáo dục bảo vệ môi trường là một hoạt

động giữ cho môi trường không bị ô nhiễm và ngăn chặn những hậu quả do con

người và thiên nhiên gây ra. Để đảm bảo cho con người được sống trong một môi

trường lành mạnh thì việc giáo dục ý thức bảo vệ mơi trường được hình thành và

rèn luyện từ rất sớm, từ lứa tuổi mầm non giúp trẻ có những khái niệm ban đầu về

mơi trường sống của bản thân mình nói riêng và con người nói chung là cần thiết.

Ngày nay trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước nhu

cầu đào tạo thế hệ trẻ trở thành lực lượng kế thừa xây dựng đất nước sau này, giáo

dục ý thức bảo vệ môi trường đã trở thành nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo ở

các trường học, và cần được quan tâm ngay từ bậc học mầm non.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã có chỉ thị số 02/2005/CT-BGDĐT ngày 31 tháng 1

năm 2005 về việc “Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường”, Chỉ thị số

40/2008/CT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 về “Phát động phong trào xây

dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo

các cơ sở giáo dục trong cả nước tổ chức triển khai các nhiệm vụ về giáo dục bảo vệ

môi trường. Nhiệm vụ trọng tâm đối với ngành giáo dục mầm non là cung cấp cho

trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân và môi trường sống

của con người nói chung, có một hành vi ứng xử phù hợp để giữ gìn và bảo vệ mơi

trường, biết sống hòa nhập vào mơi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh,

trẻ có một sức khoẻ tốt, phát triển một cách toàn diện.

2. Cơ sở thực tiễn: Bác Hồ kính u đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành,

biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan”. Đến trường, các con không chỉ được giáo dục

về tri thức mà còn được rèn luyện cả về đức, trí, thể, mỹ nhằm phát triển tồn diện.

Mặt khác còn giúp trẻ tìm hiểu về mơi trường sống của chính bản thân mình

trong hiện tại và tương lai bằng những việc làm cụthể như: giữ gìn vệ sinh thân thể

trẻ, vệ sinh đồ dùng, vệ sinh cảnh quan môi trường. Đây là một trong những việc

làm rất quan trọng không chỉ cung cấp cho các trẻ những kiến thức cơ bản trong

3/17



cuộc sống hàng ngày mà còn tạo cho trẻ có nề nếp thói quen tốt, những hành vi

đúng trong việc khám phá quy luật tự nhiên nhằm phục vụ cho con người bắt đầu từ

lứa tuổi mầm non. Bởi vì ở lứa tuổi này trẻ dễ hình thành nề nếp thói quen tạo cơ sở

cho việc hình thành nhân cách.Với những vấn đề đặt ra làm thế nào để giáo dục trẻ

giữ gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường, làm sao để mơi trường trong sạch, điều đó

hồn tồn phụ thuộc ý thức của con người.

Vì vậy giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường là giúp trẻ có thái

độ, kỹ năng, hành vi tốt trong cuộc sống.

Hiện nay tình trạng ơ nhiễm mơi trường ngày một gia tăng không chỉ làm suy

giảm chất lượng cuộc sống mà ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và

người dân chưa có ý thức về bảo vệ mơi trường dẫn đến tình trạng ơ nhiễm môi

trường.

Là một giáo viên đang trực tiếp làm công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tơi nhận

thấy trẻ của lớp tơi hiện nay nói riêng và trẻ trong tồn trường nói chung ý thức giữ

gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường còn hạn chế vì vậy từ những vấn đề cấp bách trên

và nhận thức tầm quan trọng của việc phải giáo dục trẻ biết giữ gìn vệ sinh và bảo

vệ môi trường ngay ở lứa tuổi mầm non.

Xuất phát từ những vấn đề trên, để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục

trẻ trong ngành học mầm non nói chung và trong trường mầm non tơi đang cơng tác

nói riêng, tơi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao

chất lượng giáo dục ý thức vệ sinh,bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi

trong trường Mầm non”.

II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1. Mục đích:

Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu lý luận và thực trạng việc tổ chức các hình

thức giáo dục giữ gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường cho trẻ để góp phần định hướng

nhận thức, nhân cách, hành vi tốt cho trẻ ở trường Mầm non.

2. Nhiệm vụ:

Nhiệm vụ chính của q trình giáo dục giữ gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường

cho trẻ 4-5 tuổi nhằm giúp trẻ có thái độ, kỹ năng hành vi tốt trong cuộc sống, giúp

môi trường xanh - sạch - đẹp hơn.

III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC



1. Đối tượng:

Đối tượng là trẻ mẫu giáo lớn 4-5 tuổi – B2 tại Trường Mầm non.

2. Phạm vi nghiên cứu:

Vận dụng vào công tác giảng dạy ở lớp mẫu giáo 4-5 tuổi–B2.

3. Giả thuyết khoa học:

4/17



Việc nghiên cứu trên nếu áp dụng đại trà thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả

trong lĩnh vực giáo dục ý thức vệ sinh, bảo vệ môi trường

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong đề tài tôi đã chọn và sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Thu thập những thông tin lý luận về vấn đề giáo dục trong lĩnh vực giữ gìn vệ

sinh và bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động trên các tập san giáo dục, các

bài tham luận trên Internet, các bài báo liên quan,…trên các phương tiện thông tin

đại chúng.

2. Phương pháp quan sát:

3. Phương pháp điều tra(tuyên truyền với các bậc phụ huynh):

4. Phương pháp đàm thoại nêu gương:

5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:

V. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Từ tháng 9 năm 2017.

- Hết tháng 4 năm 2018.

PHẦN THỨ HAI:GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Để giúp trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường thì chúng ta phải

có kiến thức vững chắc về mơi trường. Mơi trường chính là những yếu tố tự nhiên

và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống và sự tồn tại

phát triển của con người và sinh vật. Chính vì thế mà đối với cơ thể sống, môi

trường sống là tập hợp tất cả những điều kiện bên ngồi có ảnh hưởng tới đời sống

và sự phát triển của cơ thể cho nên trẻ em cần phải thực sự có một mơi trường an

tồn xanh - sạch - đẹp.

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

Ngày nay trường mầm non nơi tôi đang công tác đã trở thành một trường

mầm non với cơ sở vật chất khang trang. Nhà trường ln đổi mới hình thức,

phương pháp ni dạy trẻ, góp phần cùng ngành học Mầm non thực hiện chiến lược

nâng cao chất lượng giáo dục. Áp dụng phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung

tâm, xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

Trường có 24 nhóm lớp với tổng số 1.011 cháu, trong đó có 6 nhóm lớp mẫu

giáo 4-5 tuổi với số lượng 268 cháu. Nhà trường ln quan tâm đến chất lượng ni

dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Bản thân tôi là giáo viên giảng dạy lớp 4-5 tuổi , là

giáo viên dạy giỏi cấp thị xã, chiến sỹ thi đua cơ sở nhiều năm, nắm được đặc điểm

tâm sinh lý phát triển của trẻ 4-5 tuổi. Tơi nhận thấy lớp có những thuận lợi và khó

khăn sau:

5/17



1. Thuận lợi:

Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, trường có quy mơ tương đối gọn

gàng, sạch sẽ, đảm bảo an toàn cho trẻ, hàng năm đã tổ chức các chuyên đề bồi

dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các giáo viên trong toàn trường để học hỏi, trao

đổi kinh nghiệm về chuyên môn cũng như việc giáo dục ý thức vệ sinh và bảo vệ

môi trường cho trẻ.

Cơ sở vật chất của nhà trường cơ bản thuận lợi.

Nhà trường tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc sử dụng

trang thiết bị dạy học, sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động.

Tổ chuyên môn tập huấn cho giáo viên đầy đủ các nội dung về chuyên đề:

“Nâng cao chất lượng giáo dục ý thức vệ sinh, bảo vệ môi trường cho trẻ trong

trường mầm non”, tập huấn các hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và xây

dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm, thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt, dự

giờ bồi dưỡng chuyên môn các hoạt động giáo dục,bảo vệ mơi trường ở từng nhóm

lớp trong trường.

Lớp có 2 giáo viên có trình độ chun mơn đạt trên chuẩn, luôn yêu nghề,

mến trẻ, các cháu ngoan, đi lớp rất chuyên.

Phụ huynh học sinh quan tâm đến tình hình sức khỏe và chương trình hoạt

động một ngày của trẻ.

2. Khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi của trường lớp và sự cố gắng nỗ lực của bản thân,

tôi thấy có một số khó khăn nhất định:

Là một trường nằm ở xa trung tâm thị xã, địa bàn dân cư rộng, giao thơng đi

lại còn gặp nhiều khó khăn. Kinh tế của địa phương còn nghèo nên ảnh hưởng đến

cơng tác giáo dục cũng như cơ sở vật chất của nhà trường, đa số phụ huynh làm

nghề nông nghiệp, một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của

con em mình cũng như việc giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh trong gia đình. Nhiều

phong tục tập qn của gia đình kéo theo thói quen mất vệ sinh, phụ huynh chưa

thực sự phối hợp với giáo viên để quan tâm chăm sóc con em mình cũng như chưa

có ý thức giữ gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường.

Lớp có số lượng trẻ đơng, các cháu đều rất hiếu động, còn có những cháu

chưa qua lớp 3 tuổi. Nhiều trẻ còn vứt rác bừa bãi ra sân trường, đồ dùng đồ chơi

chưa cất gọn gàng ngăn nắp.

Giáo viên chưa có nhiều hình thức tổ chức linh hoạt sáng tạo vào hoạt động

khiến trẻ gò bó.

Giáo viên khơng có nhiều thời gian để làm những đồ dùng sáng tạo, ngại khi

tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường cho trẻ.

III. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI THỰC HIỆN

1. Khảo sát thực tế:

6/17



Là một trường nông thôn, địa bàn dân cư rộng, đi lại còn gặp nhiều khó khăn

trong việc đưa đón trẻ đến trường.

Vào năm học 2017 - 2018 lớp tơi có 48 trẻ, trong đó trẻ nam là 25, trẻ nữ là

23.Trẻ chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh cá nhân, chưa có ý thức về

bảo vệ mơi trường.

2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện:

- Số cháu của lớp là: 48 trẻ, có 2 giáo viên phụ trách lớp.

3. Kết quả khảo sát thực tế: Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài:

Minh chứng

(Tổng số trẻ: 48)



Thườn

g xuyên



Tỷ lệ

%



Chưa

thường

xuyên



Tỷ lệ

%



20



41,7



28



58,3



25



52,1



23



47,9



18



37,5



30



62,5



20



41,7



28



58,3



17



35,4



31



64,6



20



41,7



28



58,3



Biết rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn

và sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn.

Đi vệ sinh đúng nơi quy định.

Biết nhặt rác, bỏ rác vào thùng rác đúng

nơi quy định.

Biết tiết kiệm nước khi rửa mặt, rửa tay.

Không bứt lá, bẻ cành cây; Biết chăm

sóc cây.

Tham gia tích cực hoạt động dọn dẹp lớp

theo yêu cầu của cô.



IV. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường, tạo không gian giữ gìn vệ sinh bảo

vệ mơi trường, xây dựng lịch lao động vệ sinh cho trẻ.

1.1. Xây dựng môi trường trong lớp học của trẻ:

Việc tạo mơi trường trong phòng học của trẻ là việc làm vô cùng quan trọng

đối với một người giáo viên. Lớp học ln sạch sẽ thống mát, đồ dùng đồ chơi

trong lớp được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp



Hình ảnh:Mơi trường lớp trang trí gần gũi thiên nhiên

1.2. Tạo mơi trường cảnh quan ngồi lớp học:

7/17



Xây dựng góc thiên nhiên phong phú đa dạng như trồng một số loại cây tạo

không gian xanh, gần gũi với trẻ để tạo điều kiện cho trẻ tham quan thực tế



Hình ảnh: Góc thiên nhiên

Để tạo cảnh quan sân trường luôn sạch đẹp, trước giờ học tôi thường cho trẻ

nhặt rác, lá cây để cho môi trường sạch đẹp, tôi tận dụng những chiếc lá vàng cho

trẻ chơi bán hàng, nấu ăn, làm những con vật ngộ nghĩnh thân thuộc với trẻ từ lá

cây, tận dụng vỏ lon, hộp cô và trẻ làm bơn trồng hoa...thơng qua đó giáo dục cho

trẻ lòng u thiên nhiên, biết chăm sóc, bảo vệ, giữ gìn mơi trường thiên nhiên.

Qua các hoạt động vui chơi của trẻ như hoạt động ở các góc tơi cho trẻ trang

trí xé dán, vẽ, cắt trang trí thùng rác thật đẹp như: Khuân mặt cười ngộ nghĩnh của

bạn trai, bạn gái để khuyến khích các con biết bỏ rác vào thùng.

Ví dụ: Thùng rác vẽ hình các loại hoa, rau, củ, quả, lá cây...để rác hữu cơ . Thùng

rác vẽ chai lọ thuỷ tinh, sành, sứ, túi ni lông... để rác vô cơ.

Thùng rác thông minh được thiết kế phát ra âm thanh lời nói và đèn màu để

trẻ chú ý đến thùng rác mỗi khi tôi tổ chức hoạt động vệ sinh cho trẻ vệ sinh lớp học

hay sân trường.



Hình ảnh: Thùng rác được trang trí ký hiệu ngộ nghĩnh và thùng rác thông minh



8/17



Qua việc trang trí thùng rác giúp trẻ có ý thức và hiểu biết về hoạt động giữ

gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường trong nhà trường cũng như ở gia đình và ngoài xã

hội.

2. Biện pháp 2: Lồng ghép nội dung giáo dục vệ sinh và bảo vệ môi trường

theo từng tháng và theo chủ đề sự kiện.

Việc lồng ghép giữ gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường thơng qua các chủ đề sự

kiện là vô cùng phong phú và đa dạng. Chúng ta khơng chỉ lồng ghép, tích hợp giúp

trẻ có kiến thức về bản thân, mơi trường sống, biết sắp xếp đồ dùng đồ chơi ngăn

nắp gọn gàng mà còn biết giữ gìn mơi trường sống.

Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là một môn học mà nó là một nội

dung được tích hợp vào tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ theo từng tháng, vì

thế giáo viên cần chọn nội dung giáo dục cho trẻ theo từng tháng khác nhau sao cho

phù hợp với nội dung của tháng đó. Nhằm tạo quan hệ chặt chẽ giữa nội dung tích

hợp với nội dung chính của từng hoạt động. Dựa vào thực tế của lớp tôi đã lựa chọn

các nội dung tích hợp qua một số sự kiện như sau:

Ví dụ 1: Ở chủ đề sự kiện “Trường mầm non”:

Ngoài việc cung cấp cho trẻ kiến thức về chủ đề tơi còn giáo dục trẻ giữ gìn

vệ sinh trường lớp sạch sẽ.

Để lơi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt động của lớp mình tơi thường xuyên

lên kế hoạch hoạt động cho trẻ tham gia vào các hoạt động chủ đích, hoạt động vui

chơi, hoạt động chăm sóc vệ sinh của trẻ hàng ngày tại lớp. Ví dụ: Tơi tổ chức cho

trẻ chơi “Ai rửa tay đúng cách” qua trò chơi giúp trẻ nắm chắc các bước rửa tay từ

khi lấy xà bông cho đến khi lau tay, tắt vòi nước đúng cách.



Hình ảnh: Trẻ tham gia trò chơi rửa tay

Thơng qua các hoạt động nhằm giúp trẻ có nề nếp, thói quen tự phục vụ bản

thân được tốt hơn mà khơng cần có sự hỗ trợ của người lớn.

Ví dụ 2: Khám phá về “Thế giới thực vật”:



9/17



Qua hoạt động khám phá khoa học "Cây xanh và môi trường sống” giáo viên

cần cho trẻ biết cây xanh để làm gì? Cây xanh có lợi ích như thế nào đối với cuộc

sống?

Thông qua tiết học giáo viên giáo dục trẻ không ngắt lá bẻ cành mà phải bảo

vệ chăm sóc cây xanh để cây cho ta nhiều lợi ích.

Trồng cây khơng cần đất vì có những loại cây sống được ở mơi trường nước

qua đó trẻ biết được có những loại cây khơng cần đất cũng sống được.

Để trẻ quan sát được sự phát triển của cây một cách thuận tiện tôi thường thu

gom những vỏ hộp sữa chua để cho trẻ làm một số thí nghiệm về cây, để trẻ tự tay

gieo hạt, hằng ngày chăm sóc, tưới nước cho cây, quan sát sự phát triển của cây. Với

hoạt động này giúp trẻ biết cải thiện mơi trường bằng cách trồng cây xanh.



Hình ảnh: Bé làm thí nghiệm ươm, trồng cây.

Bên cạnh đó tơi thường xuyên sưu tầm những bài thơ, câu đố về các loại cây

để trẻ biết được lợi ích của các loại cây cối đối với môi trường sống con người. Từ

việc làm cụ thể ấy đã khơi dậy cho trẻ niềm đam mê chăm sóc bảo vệ cây xanh,

cũng như khơng vứt rác bừa bãi, không bứt lá bẻ cành các loại cỏ cây hoa lá trong

và ngoài lớp học và cả những nơi cơng cộng.

Ví dụ 3: Khám phá về “Nước và hiện tượng tự nhiên”:

Dạy trẻ biết bản chất của nước: Không màu, không mùi, không vị nhưng khi

bị ô nhiễm nước chuyển thành các màu vàng, xanh đậm hoặc đen, có mùi. Cần xử

lý nước thải cơng nghiệp và nước thải trong sinh hoạt hợp lý, trẻ biết tiết kiệm nước

trong sinh hoạt ở trường cũng như ở trong gia đình, khơng mở vòi nước chảy bừa

bãi, vặn vòi nước nhỏ khi rửa mặt rửa tay, biết khóa vòi nước sau khi sử dụng.

Hiện nay nguồn nước đang bị ô nhiễm do chất thải của các nhà máy ra sông,

kênh rạch không được xử lý. Con người vứt rác bừa bãi ra ao, hồ, sông, suối gây ô

nhiễm mơi trường.



10/17



Hình ảnh: Vứt rác, nước thải làm ơ nhiễm nguồn nước.

3. Biện pháp 3: Giáo dục trẻ có ý thức vệ sinh và bảo vệ môi trường qua

một số hoạt động trong ngày của trẻ.

Các hoạt động trong ngày của trẻ diễn ra từ khi đón trẻ đến khi trả trẻ, đây là

thời gian chính để giáo viên kết hợp giáo dục bảo vệ mơi trường cho trẻ.

3.1. Đón trẻ và trò chuyện:

Để thực hiện tốt hoạt động chăm sóc giáo dục vệ sinh trong lớp học của mình

cũng như vệ sinh cá nhân trẻ tôi thường tuyên truyền cho phụ huynh về cách chăm

sóc vệ sinh cho trẻ hàng ngày. Vào mỗi buổi sáng tôi thường kiểm tra tay của các

con khi đến lớp, cháu nào tay bẩn nhắc nhở các con vào rửa tay và vận động phụ

huynh khơng mua q bánh cho con ở cổng trường.

Đón trẻ vào lớp tôi quan sát nhắc nhở trẻ cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy

định, ăn quà sáng bỏ rác vào thùng. Trò chuyện với trẻ về các biện pháp bảo vệ môi

trường, vệ sinh thân thể.

3.2. Hoạt động học:

Trong giờ hoạt động có chủ đích dạy trẻ, lồng nghép những bài thơ, câu

chuyện, bài hát...có nội dung về ý thức giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường.

VD: Trong câu chuyện "Tiếng kêu cứu của rừng xanh”. Giáo dục cho trẻ biết

sự nóng lên của trái đất, thời tiết khơ hanh dẫn đến cháy rừng... vì vậy giáo dục các

con bảo vệ rừng.

3.3. Hoạt động chơi ngoài trời:

Trước khi ra hoạt động ngoài trời giáo dục trẻ tiết kiệm điện và các nguồn

năng lượng.

Khi trẻ ra hoạt động ngồi trời tơi giáo dục trẻ một số hoạt động bảo vệ môi

trường như: nhặt rác xung quanh sân trường, trong các luống rau...

Cho trẻ đi dạo quan sát sự vật hiện tượng xung quanh nhắc nhở trẻ không

ngắt lá, bẻ cành để giữ cho cây cối tươi tốt.

Nhắc trẻ rửa tay sạch sẽ trước khi vào lớp, trước khi rửa tay, tôi hỏi trẻ làm

thế nào để tiết kiệm nước? Vì sao phải tiết kiệm nước?

11/17



4. Biện pháp 4: Đưa nội dung giáo dục ý thức giữ gìn vệ sinh và bảo vệ

mơi trường cho trẻ vào các hoạt động ngoại khóa.

4.1. Hoạt động lao động:

Trẻ tự phục vụ cho mình như đi tiểu tiện, đại tiện đúng nơi quy định, khi đi vệ

sinh xong trẻ biết rửa tay sạch sẽ. Các đồ dùng vệ sinh được dùng để ngăn nắp, gọn

gàng. Trẻ biết tự lấy ghế và cất bàn ghế khi ăn xong... là những hành vi tốt giúp bảo

vệ môi trường.

Đây là một hoạt động rất tích cực khuyến khích rất nhiều trẻ tham gia: Tơi

thường xun trò chuyện về các cơng việc của bố mẹ, các con biết làm cơng việc gì

để giúp đỡ bố mẹ? Rồi gợi mở trẻ tham gia lau dọn đồ dùng, đồ chơi cùng với cô

vào các buổi chiều thứ 6 hàng tuần như: lau kệ, dọn dẹp đồ dùng, đồ chơi, vệ sinh

khu vực xung quanh lớp.



Hình ảnh: Trẻ lau bàn, cất bàn ghế giúp cô

Tôi thường tận dụng các giờ sinh hoạt theo nhóm để giáo dục trẻ trực nhật,

sắp xếp ngăn nắp đồ dùng, đồ chơi gọn gàng. Khi tổ chức cho trẻ tham gia tôi

thường xuyên động viên trẻ tham gia tích cực để trẻ nhận thấy rằng đây là việc làm

không nhỏ nhằm giữ gìn vệ sinh ngay chính lớp học của mình.Lao động chăm sóc

vật ni, cây trồng cũng chính là việc làm tốt cho môi trường. Lao động vệ sinh môi

trường: Cho trẻ lau chùi đồ dùng, đồ chơi, xếp gọn đồ dùng, đồ chơi ngăn nắp nhặt,

rác quanh sân trường...



12/17



Hình ảnh: Trẻ vệ sinh sân trường, nhổ cỏ dại chăm sóc cây xanh, rau.

Hoạt động giữ gìn vệ sinh mơi trường sư phạm của các cô giáo trong trường

mầm non là hoạt động hàng ngày, hàng giờ của một giáo viên, để giáo dục trẻ giữ

gìn vệ sinh và bảo vệ mơi trường sống một cách tồn diện nhất thì các cô giáo là

những tấm gương để các con noi theo bằng những việc làm rất thiết thực, giáo dục

các con ngay trong khu vực khuân viên của nhà trường.



Hình ảnh: Các cơ giáo tham gia lao động giữ gìn vệ sinh môi trường.

4.2. Hoạt động đi dạo, thăm quan:

Trẻ được quan sát tiếp xúc với môi trường tự nhiên, các địa danh ở xung

quanh trường để trẻ cảm nhận về vẻ đẹp của mơi trường quanh trẻ và có ý thức giữ

gìn và bảo vệ mơi trường. Thơng qua hoạt động này giúp trẻ hiểu được phải giữ gìn

vệ sinh nơi công cộng như: đền, chùa, nghĩa trang Liệt sỹ,đường làng ngõ xóm.

VD: Cho trẻ tham quan khu di tích Đền Măng Sơn, Khu di tích Đền Vua Lê

gần trường. Qua những lần thăm quan đó tơi cho trẻnhận xét khung cảnh, mơi

trường của khu di tích như thế nào?Con sẽ làm gì để cho mơi trường khu di tích

được sạch sẽ hơn và không bị ô nhiễm môi trường?



13/17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×