Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chế độ trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng cho người khuyết tật

Chế độ trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng cho người khuyết tật

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đây là chế độ trợ cấp cơ bản của bảo trợ xã hội cho người khuyết tật. Theo

quy định Luật người khuyết tật, để được hưởng khoản trợ cấp và hỗ trợ đối

tượng khuyết tật phải đảm bảo điều kiện hưởng. Điều kiện để hưởng trợ cấp xã

hội và hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng với hai nhóm đối tượng có sự khác

nhau. Đối với chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, cần xác định không phải mọi

đối tượng khuyết tật đều được hưởng trợ cấp này mà điều kiện hưởng thực hiện

theo nguyên tắc lũy thoái từ đối tượng khuyết tật nặng nhất với nhu cầu cấp

thiết nhất. Theo Luật người khuyết tật, để hưởng trợ cấp này đối tượng phải

được xác định là người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng

(theo khoản 1 Điều 44 Luật người khuyết tật). Như vậy, theo Luật người khuyết

tật tiêu chí xác định đối tượng hưởng trợ cấp chỉ dừng lại ở mức độ khuyết tật

mà khơng đề cập đến các điều kiện khác như hồn cảnh kinh tế, tình trạng tài

sản,tình trạng thân nhân… So với pháp luật quốc gia khác, quy định về điều

kiện hưởng này tỏ ra “thoáng” hơn.

Đối với chế độ trợ cấp xã hội, đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng

tháng quy định tại Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách

trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hộiư:

“1. Trẻ em dưới 16 tuổi khơng có nguồn ni dưỡng thuộc một trong các

trường hợp quy định sau đây:

a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;



2. Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại

Khoản 1 Điều này mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp,

cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.



5



3. Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo

khơng còn khả năng lao động mà khơng có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội

hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.

4. Người thuộc hộ nghèo khơng có chồng hoặc khơng có vợ; có chồng hoặc

vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi

con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó

đang học phổ thơng, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn

bằng thứ nhất (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo khơng có người có nghĩa vụ và quyền

phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người

này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;



6. Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo

quy định của pháp luật về người khuyết tật.”

Bên cạnh chế độ trợ cấp với bản thân đối tượng khuyết tật, luật hiện hành

cũng quy định quyền lợi cho thân nhân, gia đình và người nhận nuôi người

khuyết tật thông qua chế độ hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng. Những đối

tượng được hỗ trợ kinh phí ni dưỡng người khuyết tật được quy định tại Điều

44 Luật ngươi khuyết tật quy định về trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc

hàng tháng:

“2. Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:

a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp ni dưỡng,

chăm sóc người đó;

b) Người nhận ni dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;



6



c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi

con dưới 36 tháng tuổi.

3. Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi

được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật.

4. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng

đối với từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủ quy định.”

Để được hưởng trợ cấp, hỗ trợ hàng tháng đối tượng phải đảm bảo thủ tục

với quy định về hồ sơ, trình tự xin hưởng trợ cấp, hỗ trợ. Hồ sơ của đối tượng

bao gồm: đơn đề nghị hưởng trợ cấp của đối tượng hoặc gia đình, người thân,

người giám hộ theo mẫu quy định; sơ yếu lý lịch của đối tượng hưởng trợ cấp

và biên bản họp hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội tại xã, phường, thị trấn hoặc

văn bản xác nhận của bệnh viện cấp huyện trở lên. Trong trường hợp có ý kiến

thắc mắc, khiếu nại, tố cáo sau khi đã niêm yết danh sách cơng khai cần có văn

banr kết luận của Hội đồng xét duyệt cấp xã. Hồ sơ được gửi tới ủy ban nhân

dân cấp xã xét duyệt. Quy định về thủ tục hưởng trợ cấp của người khuyết tật

khá chặt chẽ. Thực tế hoàn cảnh sống cụ thể và những khó khăn của người

khuyết tật trong cuộc sống thể hiện rõ trong cộng đồng và điều này cũng được

truyền tải trong thủ tục xét duyệt ở các cấp địa phương. Mặt khác, vì khoản trợ

cấp có tính xã hội áp dụng đối với những đối tượng đặc biệt khó khăn nên cũng

có sự tác động lớn đến ý thức của bản thân và thân nhân người thụ hưởng, nếu

khơng thực sự khó khăn, khơng thực sự cần thiết họ cũng không lạm dụng hoặc

trục lợi khoản trợ cấp mang đầy ý nghĩa nhân đạo này.

Về chế độ hưởng, mức trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng

tháng được Chính phủ quy định cụ thể. Mức trợ cấp này được xác định và điều

chỉnh trong tương quan mối quan hệ chung với mức trợ cấp của các đối tượng

chính sách khác, phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước và điều kiện thực

7



tế. Việc đáp ứng nhu cầu trợ giúp cho người khuyết tật nói riêng và các đối

tượng xã hội khác nói chung phải được tính tốn cân đối với khả năng đáp ứng

và điều kiện kinh tế xã hội từng giai đoạn cụ thể của đất nước, nếu không sẽ ảnh

hưởng đến các chính sách kinh tế, phát triển khác. Hơn nữa, nếu mức trợ cấp

quá cao cũng sẽ gây tâm lý ỷ lại phải trông chờ vào trợ cấp của cả đối tượng và

thân nhân. Tuy nhiên nếu mức trợ cấp quá thấp lại không đảm bảo được ý nghĩa

và mục đích trợ giúp bởi lẽ xét cho cùng khoản trợ cấp này là lưới đỡ cận kề

nhất với cuộc sống của người khuyết tật, và trong thực tế,ở nhiều trường hợp

đây là nguồn đảm bảo cơ bản, duy nhất của đối tượng.

Do mục đích của trợ cấp bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là nhằm hỗ

trợ, giúp đỡ ở mức độ cần thiết đảm bảo các nhu cầu sinh sống cơ bản của

người khuyết tật nên mức trợ cấp được xác định trên cơ sở của chi phí sinh hoạt

tối thiểu. Việc quy định mức trợ cấp cho đối tượng tính đến sự cơng bằng nhất

định với nhu cầu sử dụng thực tế của đối tượng. Mức trợ cấp hiện hành được

thiết kế bằng việc quy định mức chuẩn với mức độ suy giảm sức khỏe, có tính

đến yếu tố hồn cảnh gia đình. Để đảm bảo công bằng cho đối tượng hưởng,

trường hợp người khuyết tật thuộc diện hưởng các mức khác nhau thì được ưu

tiên hưởng mức cao nhất. Luật người khuyết tật cũng quy định rõ tài khoản 3

điều 44 đối với người khuyết tật là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức cao

hơn đối tượng có cùng mức độ khuyết tật. Trường hợp đối tượng không đảm

bảo được cuộc sống ở cộng đồng sẽ được xem xét tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ

xã hội để nuôi dưỡng. Những đối tượng hưởng trợ cấp xã hội Hàng tháng khi

chết được hỗ trợ chi phí mai táng.

Mức chuẩn xác định mức trợ cấp xã hội và hỗ trợ hàng tháng được điều

chỉnh khi mức sống tối thiểu của dân cư thay đổi. Căn cứ vào điều kiện cụ thể

của địa phương, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố Trung ương quy

8



định mức trợ cấp xã hội hỗ trợ kinh phí ni dưỡng, mai táng phí cho phù hợp

nhưng khơng thấp hơn mức thấp nhất do Chính phủ quy định. Trên cơ sở đó

mức trợ cấp của người khuyết tật sống ở địa phương được xác định theo quy

định của địa phương và đương nhiên cũng sẽ có sự khác nhau nhất định giữa

các địa phương. Bên cạnh khoản trợ cấp phải hỗ trợ từ nguồn tài chính cơng,

nhà nước cũng chú trọng tới việc phát huy tối đa khả năng của bản thân đối

tượng, gia đình và cộng đồng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc

sống cho người khuyết tật.

2. Thực tiễn thực hiện

Em xin lựa chọn tìm hiểu thực tiễn thực hiện về trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh

phí chăm sóc hàng tháng đối với người khuyết tật trên địa bàn Hà nội.

Hiện nay, tại Thành phố Hà Nội, số người khuyết tật nặng và người khuyết

tật đặc biệt nặng là 71.375 người (chiếm 73%) trong tổng số người khuyết tật

trên địa bàn. UBND Thành phố đã có nhiều chính sách phù hợp để trợ giúp họ

có một cuộc sống đảm bảo hơn và giúp họ hòa nhập vào cộng đồng. Việc xác

định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác nhận mức độ khuyết tật đã được Thành

phố Hà Nội quan tâm, chú ý để người khuyết tật được hưởng các trợ cấp phù

hợp, tương ứng với mức độ khuyết tật của họ. Tuy nhiên việc xác định mức độ

khuyết tật và cấp giấy xác nhận khuyết tật tại một số xã, phường vẫn còn chậm,

chủ yếu mới thực hiện cho nhóm đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng

tháng tại cộng đồng và các cơ sở bảo trợ xã hội do Sở Lao đông - Thương binh

và Xã hội quản lý. Thực tế áp dụng pháp luật về xác định đối tượng được hưởng

trợ giúp xã hội thì một số địa phương trên địa bàn Thành phố xảy ra một số vấn

đề như: bỏ sót các đối tượng hưởng trợ giúp xã hội và một số địa phương tìm

cách gian dối, khai man để xác định cả những người “không đủ tiêu chuẩn”

được hưởng trợ giúp xã hội. Ngồi ra, vì chính sách trợ giúp xã hội cho người

9



khuyết tật còn rất mới, từ việc xét duyệt công nhận dạng khuyết tật và mức độ

khuyết tật nên việc thực hiện rất khó khăn. Đối với đối tượng được hưởng hỗ

trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng: Ngồi những gia đình có người khuyết tật

đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt

nặng. Theo báo cáo kết quả thực hiện chính sách đối với người khuyết tật năm

2015 của UBND Thành phố Hà Nội thì số người khuyết tật đang được nhận

chăm sóc, ni dưỡng tại cộng đồng là 3.006 người. Thực tế cho thấy việc

hưởng hỗ trợ chi phí chăm sóc người khuyết tật cũng phải đặt trong mối tương

quan với những nhóm đối tượng hưởng trợ giúp khác của địa phương như trẻ

mồ côi, người già neo đơn, người nhận nuôi trẻ mồ côi trong mối tương quan

giữa số lượng đối tượng được hưởng, sự eo hẹp về nguồn tài chính như hiện

nay.

II.



QUYỀN LỢI THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI KHUYẾT

TẬT NHẸ, NẶNG KHI THAM GIA QUAN HỆ XÃ HỘI

Khám bệnh, chữa bệnh là quyền cơ bản của tất cả mọi người trong xã hội khi



có nhu cầu. Bên cạnh những quyền được quy định tại luật chung là Luật khám

bệnh, chữa bệnh 2009 thì Luật người khuyết tật cũng có những quy định riêng

về quyền được khám chữa bệnh cho người khuyết tật, theo đó Nhà nước phải

đảm bảo để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng các dịch

vụ y tế phù hợp và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần thực hiện những biện

pháp khám bệnh, chữa bệnh phù hợp cho người khuyết tật. Người khuyết tật là

đối tượng yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. Vì vậy, bên cạnh quyền

được khám chữa bệnh thì nhóm đối tượng người khuyết tật trên còn được

hưởng những chế độ ưu đãi khi họ có nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế.

1. Quyền lợi tham gia bảo hiểm y tế của người khuyết tật nhẹ khi tham gia

quan hệ xã hội

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chế độ trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng cho người khuyết tật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×