Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.13: Bài tập gấp duỗi cổ chân

Hình 3.13: Bài tập gấp duỗi cổ chân

Tải bản đầy đủ - 0trang

104

Lặp lại động tác 10 lần, 2 đợt tập/ngày.

Bài tập gập mu bàn chân tập sức mạnh (mã E29)

Các bài tập tăng sức mạnh nên được thực hiện với một dải băng

Theraband để tạo lực đối kháng với chuyển động của bạn. Đừng bao giờ buộc

Theraband (hoặc bất kỳ thứ gì khác) quanh bàn chân, mắt cá chân hoặc cẳng

chân theo cách hạn chế máu lưu thông.

Bài tập này cũng sẽ hiệu quả cho việc tăng cường sức mạnh cơ quanh

mắt cá chân của bạn. Điều này sẽ bổ trợ thêm cho khớp. Thực hiện từng bài tập

từ 10 đến 15 lần liên tiếp.

Chỉ di chuyển mắt cá chân của bạn, hướng bàn chân của bạn trở lại về

phía mũi của bạn (trong khi vẫn giữ đầu gối thẳng). Tiếp tục cho đến khi bạn

cảm thấy khó chịu hoặc khơng thể nghiêng lại nữa.

Giữ tư thế này trong hai giây và từ từ nhả ra.

Quay trở lại tư thế bình thường, và sau đó lặp lại bài tập.

Các bài tập liên quan đến môn thể thao của vận động viên (mã E30)

Trong chương trình tập luyện này cần lựa chọn bài tập phù hợp với môn

thể thao chuyên sâu với mục đích: hồi phục tình trạng thể lực chung (sức mạnh,

sự dẻo dai, sức bền tim mạch), hồi phục biên độ vận động ở khớp cổ chân, lực

và sức bền ở các nhóm cơ cẳng chân và bàn chân, hồi phục các kỹ năng vận

động của môn thể thao chuyên sâu. Hồi phục các kỹ năng thể thao chuyên sâu

là giai đoạn kết thúc của quá trình hồi phục trước khi trở lại chương trình tập

luyện bình thường.

Các giai đoạn tiếp theo của phục hồi chức năng đặc biệt quan trọng để

ngăn ngừa đau mãn tính, giảm khả năng, và các chấn thương tái phát. Việc

phục hồi tầm vận động, cơ lực, cảm thụ bản thể, và cuối cùng tiến tới chức

năng, thậm chí các hoạt động chuyên biệt của thể thao đơi khi khó khăn. Phục



105

hồi tầm vận động với các bài tập tầm vận động thụ động, chủ động trợ giúp và

chủ động hoàn toàn. Nên bắt đầu các bài tập đẳng trường (gồng cơ) sớm trong

chương trình phục hồi chức năng để ngăn ngừa teo cơ.

Các bài tập tầm vận động có kháng trở bắt đầu một khi đã phục hồi tầm

vận động và mềm dẻo. Những bài tập này bao gồm sử dụng trọng lượng ở cổ

chân hoặc dây đàn hồi để tăng dần sức mạnh. Tập mạnh cơ bắt đầu ở một mặt

phẳng và tiến triển đến các bài tập nhiều mặt phẳng để tăng cường chức năng.

Cơ quan trọng nhất cần làm mạnh là các cơ vặn ngoài bàn chân và gập mu bàn

chân. Đây là những nhóm cơ có thể kiểm sốt hoặc hạn chế vặn trong và gập

lòng mà có thể gây bong gân cổ chân tái diễn. Khi có thể chịu trọng lượng hồn

tồn, các bài tập có thể tiến triển từ các bài tập chuỗi mở sang bài tập chuỗi

đóng và cuối cùng tiến đến các hoạt động chức năng và/hoặc thể thao. Các bài

tập để cải thiện kiểm soát thần kinh cơ và cảm thụ bản thể bên được bắt đầu

một khi tầm vận động được phục hồi và sức mạnh được cải thiện. Có thể bắt

đầu ở tư thế ngồi, chịu trọng lượng một phần và tiến tới các hoạt động đứng

thẳng, chịu trọng lượng toàn phần.

Các bài tập như đứng một chân ở các bề mặt khác nhau với mắt mở hoặc

đóng, tập trên ván thăng bằng, đứng một chân trong khi thực hiện các hoạt

động chức năng.

Ngồi ra, nên thực hiện phân tích dáng đi và cả động tác chạy để xác định

các bất thường sinh cơ học. Các bất thường trong dáng đi có thể dẫn đến sự

mất cân bằng cơ và cuối cùng là chấn thương do quá sử dụng nếu bị bỏ qua.

Cần phân tích chuỗi chuyển động với chú ý đặc biệt đến hơng và thân mình.

Nghiên cứu trước đó cho thấy chức năng cơ gốc chi thay đổi sau bong gân cổ

chân nặng một bên. Do đó, cần phải phân tích các cơ thân chính như cơ mơng

lớn, cơ mơng nhỡ, cơ ngang bụng và cơ vuông thắt lưng và điều trị nếu có rối



106

loạn chức năng.

Các bài tập aerobic cũng cần phải được đưa vào chương trình. Những bài

tập này cần thiết để duy trì chức năng tim phổi và sức bền cơ. Bắt đầu bằng tập

đạp xe đạp tĩnh, tiến triển sang các bài tập có chịu trọng lượng như chạy trên

máy tập chạy bộ…

Nguyên tắc RICE ngay sau chấn thương (giai đoạn cấp) (mã E31)

Phác đồ RICE là hòn đá tảng trong việc tự chữa các chấn thương có thể

xuất hiện trong tập luyện. Phác đồ RICE được hội Y học thể thao của Tổ chức

Olympic quốc tế - IOC công bố năm 1981, là phác đồ điều trị cơ bản bước đầu

nói chung cho các chấn thương thơng thường, đặc biệt các chấn thương cấp

tính của hệ cơ xương khớp. RICE là tên viết tắt của một cụm từ tiếng Anh: R

(Rest) - nghỉ ngơi; I (Ice) - chườm lạnh; C (Compression) - băng ép; E (Elevation)

- giữ cao tư thế.

R - Nghỉ ngơi: Cần phải ngừng bài tập ngay sau khi bị chấn thương hoặc

ngay sau khi xuất hiện triệu chứng của chấn thương. Nếu tiếp tục thực hiện bài

tập sẽ làm cho quá trình tổn thương thêm nặng và kéo dài thời gian nghỉ tập.

Phụ thuộc vào mức độ tổn thương, trong giai đoạn từ 24 - 72 giờ vùng tổn

thương cần yên tĩnh hoàn toàn để thực hiện các phương pháp khác của phác

đồ RICE.

I - Chườm lạnh. Được tiến hành ngay lập tức sau khi bị chấn thương.

Cũng là liệu pháp trong giai đoạn hồi phục.

Kỹ thuật chườm lạnh được tiến hành như sau:

- Dùng nước đá hoặc đá chưa tan đập nhỏ bọc trong nilon hoặc khăn

bông ẩm (nhiệt độ nước đá khoảng 0°C - 30C).



107

- Vùng chườm lạnh cần được bôi một lớp kem trung tính vaseline ... để

tránh nguy cơ bị tổn thương do lạnh.

- Áp nhẹ khối nước đá lên bề mặt vùng da chấn thương, xoa nhẹ theo

đường tròn đồng tâm, tăng dần tốc độ xoa trong 5 - 10 phút tuỳ đặc điểm giải

phẫu của vùng tổn thương.

Cảm giác đặc trưng khi sử dụng phương pháp chườm lanh là vùng được

chườm cảm thấy lạnh, đau buốt, và cuối cùng là cảm giác tê dại.

C - Băng ép. Dùng băng vải hay băng chun băng ép vùng chấn thương đủ

chặt để giảm phù nề và tạo điểm tựa vững chắc cho vùng cơ khớp bị chấn

thương. Băng ép vùng chấn thương tiến hành trong thời gian tiến hành phương

pháp chườm lạnh bằng cách bang đè lên khối nước đá, trong thời gian giữa hai

đợt chườm lạnh.

E - Giữ cao tư thế. Vùng tổn thương cần được giữ ở tư thế nâng cao để

tránh tình trạng ứ máu và hạn chế phát triển phù nề. Tùy theo bộ phận chấn

thương mà ta có tư thế treo cao phù hợp, để không cản trở tới sinh hoạt người

tập. Nếu điều kiện cho phép nên nâng vùng tổn thương cao hơn đầu. Người tập

bị chấn thương vùng cổ chân cần nằm có thể dùng gối, đệm để kê cao chân bị

đau.

Điều trị bằng siêu âm (mã E32)

Luận án sử dụng máy Siêu âm điều trị: ULTRASOUND

-Chuẩn bị VĐV: Kiểm tra vùng cổ chân bị tổn thương. Tư thế thuận lợi

(nằm hoặc ngồi). Giải thích kỹ cho VĐV.

-Chọn đầu điều trị: Đầu lớn, xung 1:10; Bôi gel chuyên dùng; giữ đầu

điều trị thẳng góc với mặt da, ln ln tiếp xuc tốt với da, hỏi VĐV về cảm giác

(ấm, nóng, đau)



108

-Thời gian điều trị: 5 phút. 1 lần/ngày.

Điều trị bằng sóng ngắn (mã E33)

Luận án sử dụng máy Sóng ngắn điều trị: PHYSIOTHERM-S

-Chuẩn bị VĐV: Kiểm tra vùng gối bị tổn thương. Lau khơ vùng gối bị tổn

thương nếu có mồ hơi, thông thường giữa điện cực và da nên ngăn cách bằng

lớp khăn khô sạch. Tư thế thuận lợi (nằm hoặc ngồi). Giải thích kỹ cho VĐV. VĐV

phải bỏ trang sức hay dụng cụ kim loại trên người.

-Đề phòng các tai biến: điện giật, bỏng, phản ứng bất thường như

choáng, nhức đầu, mệt mỏi, lo âu, do VĐV quá mẫn cảm với bức xạ điện từ

hoặc quá liều.

-Chọn đầu điều trị: Đặt hai điện cực đối diện, khoảng cách với mặt da từ

3 – 5 cm, công suất 400w, luôn hỏi VĐV về cảm giác khi điều trị.

-Thời gian điều trị: 10 phút. 1 lần/ngày.

Điều trị bằng từ trường (mã E34)

Luận án sử dụng máy Điều trị bằng từ trường: MAGNOMED M300

-Chuẩn bị VĐV: Kiểm tra vùng cổ chân bị tổn thương. Lau khô, sạch vùng

cổ chân bị tổn thương , đặt bề mặt đầu phát tiếp xúc với vùng điều trị, đặt một

đầu hoặc hai đầu phát đối diện. Tư thế thuận lợi (nằm hoặc ngồi). Giải thích kỹ

cho VĐV. VĐV phải bỏ trang sức hay dụng cụ kim loại trên người.

-Đề phòng các tai biến: điện giật, bỏng, phản ứng bất thường như

choáng, nhức đầu, mệt mỏi, lo âu, do VĐV quá mẫn cảm với bức xạ điện từ

hoặc quá liều.

- Chọn đầu điều trị: Cường độ từ trường tại bề mặt đầu phát từ 80 – 100

mT. luôn hỏi VĐV về cảm giác khi điều trị.

-Thời gian điều trị: 15 – 30 phút. 1 lần/ngày.



109

Đề xuất về cách điều trị:

Tổn thương độ I:

- Đắp đá lạnh càng sớm càng tốt, trong 20 phút, cứ 2 đến 4 giờ một lần,

đối với 48 giờ đầu

- Dùng khǎn chun dãn hay giây đeo ép bơm hơi.

- Nâng bàn chân lên (bằng mức hông) khi ngồi.

- Dùng nạng để hỗ trợ đỡ trọng lượng cơ thể trong 48 giờ đầu hoặc cho

đến khi đứng mà không thấy đau.

- Dùng thuốc giảm đau, acetaminophen hay aminophen với codeine

chống đau.

- Thǎm lại sau 48 giờ. Lúc này khuyên bệnh nhân:

a. Bắt đầu vận động nhiều loại và tập luyện đẳng trương.

b. Dần dần mang đầy đủ trọng lượng cơ thể khi thấy chịu đựng

được (có thể dùng gậy để đi lại)

c. Thỉnh thoảng chườm ẩm nóng (bỏ chườm túi đá)

- Trong 1 tuần đánh giá lại. Nếu triệu chứng còn rất ít, cho phép mang

trọng lượng cơ thể như bình thường. Bắt đầu tập để tǎng cường cho cơ bụng

chân và kéo giây gót. Mục đích nhằm hoạt động đầy đủ sau 2 tuần. Quấn bǎng

thường giúp ích cho các hoạt động thể thao mạnh.

Tổn thương độ II:

- Chườm đá ngay, trong 20 phút, cứ hai đến bốn giờ chườm một lần.

- Bǎng khí ép hoặc hình "át".

- Dùng nạng và khơng để mang trọng lượng cơ thể trong 48 giờ hoặc cho

đến khi đứng khơng còn thấy đau nữa. Rồi cho phép mang một phần trọng

lượng (với nạng) và di chuyển dần dần.



110

- Bắt đầu chương trình luyện như đã được mơ tả cho tổn thương độ I.

- Thǎm lại vào 48 giờ sau khi bị thương và khoảng hàng tuần sau đó.

Tổn thương độ III:

Mọi tổn thương độ III đều có chỉ định đến khám thầy thuốc chuyên khoa

chỉnh hình. Việc chọn cách xử trí phẫu thuật hay khơng phẫu thuật tuỳ thuộc

vào nhiều yếu tố. Tuổi bệnh nhân, tình trạng sức khỏe chung, các hoạt động thể

lực thường xuyên và nghề nghiệp đều phải xem xét đến. Có một thời, mọi tổn

thương độ III đều nghĩ đến yêu cầu điều trị phẫu thuật mở. Tuy nhiên ngày nay,

nhiều phẫu thuật viên chỉnh hình đang chọn cách điều trị cho các tổn thương

này theo các yếu tố đã ghi nhận được.

Tóm lại: Qua nghiên cứu đã lựa chọn được 34 nội dung các bài tập kết

hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân

cho VĐV cụ thể bao gồm hai nhóm: Nhóm thứ nhất là các bài tập vận động:

VĐV tập luyện tích cực hay thụ động (có sự trợ giúp của nhân viên lý liệu) (1 bài

tập); sau đó VĐV đã tự thực hiện được các động tác vận động ở các khớp bị

chấn thương: tập luyện biên độ vận động cũng như sức mạnh và độ mềm dẻo

(gồm 3 bài tập).

Khi VĐV đã có thể thực hiện động tác của các bài tập trên khơng còn khó

khăn hay hay đau thì chuyển sang bài tập giai đoạn phục hồi (gồm 26 bài tập) và

kết hợp các bài tập sức mạnh. độ mềm dẻo của các cơ vùng cẳng chân. cổ chân

và bàn chân; Sử dụng bài tập Isokinetic; thời kỳ sớm 1 - 2 tuần sau chấn

thương; Sử dụng bài tập Isometric; thời kỳ giữa điều trị chấn thương; Nhóm

thứ hai là nhóm vật lý trị liệu: Điều trị bằng siêu âm; Điều trị bằng sóng ngắn;

điều trị bằng từ trường; sử dụng nguyên tắc RICE ngay sau chấn thương (giai

đoạn cấp). Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đặc điểm giải phẫu và



111

cấu trúc khớp cổ chân của VĐV, đặc điểm của tổn thương và cơ chế sinh bệnh,

lành bệnh của tổn thương khớp cổ chân, và kết quả lựa chọn bài tập thể dục

kết hợp lý liệu pháp phục hồi chức năng sau phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo

cho VĐV, đồng thời có tham khảo so sánh với một số phương pháp chăm sóc

phục hồi của một số bệnh viện ở trong nước, luận án đã đưa ra phác đồ điều trị

phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV ở từng giai đoạn:

cấp tính. bán cấp và hồi phục với trình tự và phương pháp phục hồi theo các bài

tập đã mã hóa từ E01 đến E24.



112

3.3. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả tổ hợp các bài tập kết hợp vật lý trị liệu

phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV.

Khách thể nghiên cứu của luận án gồm 23 bệnh nhân là VĐV chuyên

nghiệp có chẩn đoán chấn thương khớp cổ chân tại Bệnh viện Thể Thao Việt

Nam, từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2017. Luận án giới hạn phạm vi nghiên

cứu đối với VĐV có tổn thương dây chằng khớp cổ chân đơn thuần hay kết hợp

với một số chấn thương khác ở cấp độ I và 2, không phải dùng can thiệp bằng

phương pháp ngoại khoa. Tất cả bệnh nhân – VĐV được điều trị, phục hồi theo

phác đồ đã lựa chọn tùy mức độ chấn thương và thời gian hồi phục của VĐV.



110



Sơ đồ 3.1: Phác đồ điều trị tập phục hồi cho vận động viên



111



chấn thương khớp cổ chân

Đánh giá kết quả dựa trên thực tế lâm sàng bao gồm sự hồi phục lại biên

độ vận động khớp cổ chân, Bảng lượng giá chức năng sinh hoạt của người

bệnh, Luận án tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu và hiệu quả điều trị phục

hồi theo các nội dung sau:

3.3.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu theo tuổi và giới.

Kết quả bảng 3.7 cho thấy: tỷ lệ bị chấn thương cao nhất ở độ tuổi dưới

và bằng 20 với 14 trường hợp, chiếm 60,9% và lứa tuổi từ 21 đến 30 với 9

trường hợp chiếm 39,1%. Khơng có bệnh nhân nào trên 30 tuổi. Đây là những

dấu hiệu cảnh báo tình trạng trẻ hóa chấn thương khớp cổ chân ở VĐV.

Số bệnh nhân (BN) nam vẫn chiếm nhiều hơn với 12 trường hợp chiếm

52,2% trường hợp so với nữ là 11 (47,8%) trường hợp. Tỷ lệ % giới tính trong

nghiên cứu này tương tự như kết quả của các nghiên cứu đã được cơng bố

như: Nguyễn Tiến Bình (2005) [5], Lê Q Phượng (2000) [25] và Anderson

M.K., Hall S.J. (1997) [40].

Bảng 3.7: Tỷ lệ phân bố theo tuổi và giới (n =23)

Giới tính

Tuổi

≤ 20

21-30

31-40

>40

Tổng



Nam

Số lượng

%

7

30.4

7

30.4

0

0

0

0

14

60.8



Nữ

Số lượng

%

7

30.4

2

8.7

0

0

0

0

9

39.1



Tổng

Số lượng

14

9

0

0

23



%

60.9

39.1

0

0

100



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.13: Bài tập gấp duỗi cổ chân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×