Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 1.1: Phân loại sinh lý các bài tập thể lực (theo Pharphell)

Sơ đồ 1.1: Phân loại sinh lý các bài tập thể lực (theo Pharphell)

Tải bản đầy đủ - 0trang

29

- Các bài tập động có chu kỳ ưa khí là những bài tập mà khi thực hiện

chúng, năng lượng cung cấp cho hoạt động cơ chủ yếu do các q trình trao

đổi chất có oxy (hệ oxy hóa). Tố chất thể lực đóng vai trò quyết định trong

thực hiện các bài tập này là khả năng sức bền.

Tóm lại, bài tập thể lực, dưới góc độ sư phạm và đặc điểm sinh lý, đó

là tổ hợp các động tác vận động được hệ thống hóa thành bài tập sắp xếp

theo một quy trình nhất định và phù hợp với tâm lý, sinh lý người tập, để

luyện thân thể, tăng sức khỏe, kỹ năng vận động, chuẩn bị những điều kiện

tốt nhất cho người tập theo một mục đích định trước.

1.4.2. Phục hồi chức năng và một số bài tập phục hồi sau chấn

thương khớp cổ chân.

a). Phục hồi chức năng.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật ngày càng khẳng định

vai trò của thể dục trong việc giữ gìn sức khỏe và chữa bệnh, đặc biệt trong

thời đại hiện nay, thể dục chữa bệnh nói chung và vận động trị liệu nói riêng

là một phần cơ bản của chuyên ngành phục hồi chức năng.

Thể dục chữa bệnh, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “là phương

pháp chữa bệnh dùng các liệu pháp vận động để điều chỉnh trạng thái cơ thể,

thống nhất giữa hoạt động thể lực và tâm lý, những cảm xúc có tác dụng điều

hòa hoạt động của hệ thần kinh nội tiết, huy động “khả năng tự điều chỉnh,

duy trì, phục hồi hồn thiện ở mức độ cao của cơ thể” (theo Paplov I.P.), Thể

dục chữa bệnh là phương pháp điều trị toàn diện, chủ động, tích cực vì nó

huy động tiềm lực của chính bản thân người bệnh vào việc chữa bệnh. [69],

[79]

Phục hồi chức năng, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “là hồi phục

khả năng hoạt động của một cơ quan, một bộ phận cơ thể bị suy giảm, rối



30

loạn, bị mất đi, có nguy cơ làm cho đương sự trở thành một người tàn tật,

tàn phế. Cần thiết trong điều trị tất cả các loại bệnh, đề phòng các hậu quả

do thiếu vận động bình thường hay vì một lý do nào khác gây ứ trệ trong cơ

thể. Phục hồi chức năng là phương pháp chữa bệnh dưới sự hướng dẫn của

thầy thuốc; cần thiết cho các đối tượng mà hoạt động hàng ngày bị giảm

(phụ nữ lúc có thai, lúc sinh đẻ, trong thời kỳ sau đẻ; người bị các thương tật

ở các mức độ khác nhau; người cao tuổi khơng còn làm việc; người lao động

nhất là trong các ngành nghề nặng nhọc, có nhiều độc hại, hoặc làm việc

trong các tư thế gò bó v.v.)”. [38]

Theo Nguyễn Xuân Nghiên, “Phục hồi chức năng là biện pháp y học, xã

hội, hướng nghiệp, giáo dục làm hạn chế tối đa giảm chức năng, tạo cho

người khuyết tật có cơ hội tham gia các hoạt động để hội nhập, tái hội nhập

xã hội, có cơ hội bình đẳng trong cộng đồng xã hội” [20]. Trong định nghĩa

này, tác giả muốn nói đến đối tượng người tàn tật hoặc bị khiếm khuyết một

chức năng sống cơ bản nào đó mà thơi. Khái niệm này coi phục hồi chức

năng là mục tiêu cao của sự hợp tác đa ngành (y học, xã hội, giáo dục…)

nhằm ngăn ngừa các khiếm khuyết tàn tật, không chỉ là đối tượng của ngành

y tế mà của nhiều ngành và toàn xã hội.

Theo Dương Xuân Đạm, Vật lý trị liệu – phục hồi chức năng là một

chuyên ngành lâm sàng của y học [9]. Nửa cuối thế kỷ XX nhờ những thành

tựu to lớn của khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện cho y học nói chung

và chuyên ngành Vật lý trị liệu – phục hồi chức năng nói riêng có những phát

triển nhảy vọt. Phục hồi chức năng được coi là bước ba của y học hiện đại:

Phòng bệnh – Chữa bệnh – Phục hồi chức năng. Do lịch sử phát triển của

chuyên ngành nên khái niệm về tên gọi còn khác nhau:

Vật lý trị liệu (Physiotherapy) bao gồm cả phục hồi chức năng hoặc thể

dục chữa bệnh.



31

Phục hồi chức năng (Rehabilitation) bao gồm cả Vật lý trị liệu.

Vật lý trị liệu – phục hồi chức năng (Physiotherapy - Rehabilitation).

Nhưng về mục tiêu và kỹ thuật đều thống nhất: Là ứng dụng các kỹ

thuật bằng các nhân tố vật lý, sinh lý, tâm lý…tác dụng trực tiếp hoặc gián

tiếp lên cơ thể nhằm nâng cao sức khỏe, góp phần điều trị tồn diện và phục

hồi về y học, dự phòng di chứng hạn chế tàn tật. [9], [69].

Như vậy, Phục hồi chức năng, có thể hiểu là: hồi phục khả năng hoạt

động của một cơ quan, một bộ phận cơ thể bị suy giảm, rối loạn, bị mất đi,

có nguy cơ làm cho đương sự trở thành một người tàn tật, tàn phế… nhằm

nâng cao sức khỏe, góp phần thực hiện phương châm điều trị toàn diện.

Các nguyên tắc chung hồi phục chấn thương cho vận động viên.

Hồi phục sau chấn thương thể thao cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

- Các biện pháp hồi phục chấn thương cho vận động viên bắt đầu càng

sớm càng tốt để tránh các biến chứng gây cản trở quá trình hồi phục. Tiến

hành hồi phục sớm, đúng đắn có ý nghĩa quan trọng quyết định hiệu quả của

các biện pháp hồi phục tiếp theo.

- Đánh giá tổng thể tình trạng VĐV về sức khỏe, trạng thái tâm lý, trình

độ chun mơn và hiểu biết xã hội. Trong thực tiễn huấn luyện thể thao,

đánh giá trình độ chun mơn có vai trò đặc biệt quan trọng. VĐV cần trở lại

tập luyện và thi đấu thể thao ở tình trạng như trước khi bị chấn thương, có

khả năng duy trì việc thực hiện các lượng vận động tập luyện lớn và căng

thẳng. Đây là điều khác biệt quan trọng của hồi phục sau chấn thương thể

thao.

- Kế hoạch hồi phục phải dựa trên những phương châm cụ thể: VĐV

quay trở lại tập luyện thể thao như một người hoàn toàn khỏe mạnh.

- Sử dụng tất cả các biện pháp nhằm để cơ thể vận động viên ở trạng

thái có thể đạt được thành tích cao nhất (hồi phục hoàn toàn khả năng vận



32

động).

- Khi xây dựng kế hoạch hồi phục phải quyết định tổ hợp các biện pháp

hồi phục sẽ áp dụng, thời gian và cách thức áp dụng từng biện pháp, người thực

hiện.

- Bản chất của quá trình hồi phục là một q trình tích cực. Vì vậy, VĐV

phải được phổ biến cụ thể về chương trình hồi phục để họ tự giác thực hiện

các yêu cầu của chuyên gia hồi phục và tích cực tham gia vào q trình đó.

- Q trình hồi phục VĐV sau chấn thương không chỉ kết thúc bằng hồi

phục y học. Giai đoạn sau tiến hành hồi phục sư phạm bằng các bài tập nhằm

chuẩn bị thể lực chung và các bài tập chữa bệnh đinh hướng thể thao. Hồi

phục sư phạm phải được tiến hành trên cơ sở hồi phục về mặt hình thái và

chức năng của bộ phận tổn thương nhằm phòng ngừa tái chấn thương.

- Trong khi thực hiện kế hoạch hồi phục, phải có sự kết hợp chặt chẽ

giữa cơ sở chữa trị với bác sĩ của đội, huấn luyện viên và các nhà quản lý thể

thao để tạo điều kiện cho sự hồi phục của VĐV đạt kết quả tốt nhất.

- Trong điều trị chấn thương thể thao phải dùng các phương pháp can

thiệp ngoại khoa, hồi phục thường được bắt đầu ngay ở giai đoạn trước ca

phẫu thuật (đặc biệt khi vận động viên có hiện tượng bị teo cơ) , tiếp tục tập

luyện trên giường từ ngày thứ 2 sau phẫu thuật (nếu không có chống chỉ định

chung); hoặc có thể muộn hơn tùy theo tình trạng chấn thương của VĐV [1],

[12].

Việc lựa chọn các bài tập và xác định thời gian của bài tập phải dựa

trên nguyên tắc nâng dần (từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp), cũng

như đặc điểm cá nhân của người bệnh và sự tiến triển của bệnh.

Thời gian bài tập thực tế được xác định bằng thời gian người bệnh bỏ

ra để thực hiện các bài tập đó. Nó phụ thuộc vào độ khó của bài tập, số



33

lượng động tác của bài tập, phản ứng cá biệt của cơ thể người tập đối với lượng

vận động.

Số lần lặp lại mỗi bài tập phụ thuộc vào đặc điểm của sự tiến triển của

bệnh, số lượng, tính chất và loại động tác nhiều lần, sau đó là do tăng biên

độ và nhịp độ động tác của bài tập, thời gian thực hiện bài tập, số lần lặp lại

các động tác đối với các nhóm cơ nhỏ có thể nhiều hơn so với các nhóm cơ

lớn.

Nhịp độ thực hiện động tác có thể khác nhau. Có nhịp chậm, trung

bình và nhanh. Trong điều kiện đang nằm viện thì các bài tập thực hiện với

nhịp độ chậm và trung bình. Trong thời kỳ hồi phục ở bệnh viện và ở viện

điều dưỡng – với nhịp độ chậm, trung bình và nhanh. Giảm hoặc tăng biên

độ động tác cũng có thể giúp điều chỉnh được lượng vận động thể lực.

Mức độ gắng sức khi thực hiện động tác phụ thuộc vào sự nỗ lực ý chí,

sử dụng các trọng lượng phụ, lực cản hoặc kết hợp các yếu tố đó. Trọng

lượng phụ có thể là trọng lượng của các dụng cụ, trọng lượng hoặc lực đối

kháng của người cùng tập.

Độ khó của động tác cũng có ảnh hưởng đến độ lớn của lượng vận

động. Cần phải tăng độ khó của bài tập một cách từ từ, phù hợp với mức độ

tiếp thu bài tập cũng như theo sự tăng tiến về khả năng chức phận của cơ

thể.

Nhịp điệu động tác, hoặc hệ thống luân phiên các động tác cũng có

nhiều ảnh hưởng đối với khả năng vận động. Lựa chọn đúng nhịp điệu động

tác sẽ làm chậm mệt mỏi. Tính nhịp điệu của động tác có tác dụng làm giảm

lượng vận động đối với hệ thần kinh nhờ việc hình thành khả năng tự động hóa.

b). Một số bài tập phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ

chân cho vận động viên.



34

Sau phẫu thuật, VĐV tập luyện tích cực hay thụ động (có sự trợ giúp

của nhân viên lý liệu) biên độ vận động ở mức cho phép. Nhân viên lý liệu

cần thực hiện động tác vận động bàn chân, cổ chân và cẳng chân VĐV về các

hướng cơ bản. Chỉ vận động với biên độ ở giới hạn không ảnh hưởng đến sự

ổn định của vùng phẫu thuật.

Các bài tập tĩnh lực và tập luyện biên độ vận động có sự giúp đỡ của

nhân viên lý liệu sẽ được tiếp tục cho đến khi VĐV vẫn chưa tự thực hiện

được các bài tập.

Khi VĐV đã thực hiện được các động tác vận động ở các khớp bị tổn

thương, thì có thể chuyển sang thực hiện được các bài tập tập luyện biên độ

vận động cũng như sức mạnh và độ mềm dẻo.

Các bài tập này có thể thực hiện ở giai đoạn đầu của chương trình hồi

phục cho những VĐV bị chấn thương mức trung bình và nặng ở vùng bàn

chân, cổ chân và cẳng chân nhưng khơng đòi hỏi phẫu thuật. Trước hết tập

hồi phục biên độ vận động ở khớp, còn các bài tập tĩnh lực phòng ngừa teo cơ.

Khi VĐV đã có thể tự thực hiện được các động tác của bài tập nhóm

trên khơng còn khó khăn hay khơng đau, thì chuyển sang bài tập sau đây. Các

động tác của bài tập mức 3 được sử dụng để bắt đầu hồi phục sau những

chấn thương vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân.

Ngoài tập các động tác động lực nhằm phát triển lực của các cơ ở cẳng

chân, cổ chân và bàn chân, cần tập các bài tập phát triển sức dẻo dai của các

cơ và khớp ở các vùng này.

Phát triển sức mạnh và căng dãn các cơ bụng chân, gân asin và các cơ

mặt trước cẳng chân; phát triển biên độ vận động ở khớp cổ chân (gấp và

duỗi bàn chân).

Củng cố biên độ vận động của khớp cổ chân.



35

Tập cảm giác cơ khớp (cảm thụ bản thể) ở cổ chân và bàn chân.

Tập sức mạnh ngón chân và biên độ vận động.

Trước khi trở lại tập luyện môn thể thao, VĐV phải thực hiện được các

công việc sinh hoạt trong ngày mà khơng cảm thấy khó khăn hay cảm giác đau.

*Một số bài tập sử dụng sau chấn thương khớp cổ chân từ 1-3 tháng.

Việc quyết định cho phép người bệnh (VĐV) tập các bài tập sức mạnh

của cơ, cũng như tham gia tập luyện thể thao hoàn toàn phụ thuộc vào kết

quả tập luyện phục hồi chức năng sau phẫu thuật, cũng như ý kiến của bác sĩ

phẫu thuật cũng như chuyên gia vật lý trị liệu phục hồi chức năng.

Dưới đây là một số bài tập cơ bản.

Luyện tập sức mạnh:

Tập sức mạnh cho cơ cẳng chân.

Trên những máy tập chuyên dụng làm uốn gân kheo và dãn cổ chân,

bàn chân nên để một cách chắc chắn trên sàn. Những loại bài tập này có thể

gây ra sự căng, dãn trên dây chằng bị chấn thương và thường được tránh

suốt giai đoạn phục hồi chức năng. Động tác thực hiện càng chậm càng tốt,

trọng lượng tạ xuất phát ở mức 1/10 – 1/12 trọng lượng cơ thể.

Đối với những bài tập có tư thế ngồi xổm, bàn chân được giữ chắc trên

sàn và không di chuyển. Điều này cho phép có thể điều khiển được vận động

của chân một cách chắc chắn, có thể làm giảm sự giãn, căng đặt lên vùng bị

chấn thương. Động tác thực hiện thật chậm đến khi có cảm giác căng chối

trong cổ chân thì kìm giữ trong vòng 5 – 10 giây.

-Bài tập luyện tập sự nhanh nhẹn [54], [67].

Bài tập luyện tập sự nhanh nhẹn được thiết kế để tăng nội lực và sức

mạnh trong các cơ và phối hợp vận động.

Những bài tập này thường được gọi là Plyometrics, và chúng là một



36

phần quan trọng của những bài tập luyện sự nhanh nhẹn.

Trong bài tập nhảy hộp đầu tiên, đứng bên cạnh hộp và nhảy lên hộp,

hạ xuống bằng hai chân, sau đó nhảy xuống mặt đất và hạ xuống bằng hai chân.

Khi sức mạnh và sự nhanh nhẹn tăng lên, vận động viên (người bệnh)

có thể tiến đến nhảy qua hộp, hạ xuống bằng hai chân cùng nhau phía bên kia

hộp.

* Xoa bóp chữa bệnh. Xoa bóp tuy đơn giản, dễ làm nhưng là một

phương tiện cực kỳ hữu hiệu để chống lại mệt mỏi, nâng cao năng lực vận

động, phát triển các tố chất thể thao. Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ

XX, xoa bóp được dùng rộng rãi trong lĩnh vực TDTT, trở thành bộ phận

không thể tách rời của huấn luyện thể thao. Ngồi ra, xoa bóp còn có vai trò

đặc biệt quan trọng trong phòng ngừa và điều trị chấn thương thể thao [6],

[77], [89].

Xoa bóp có tác dụng huy động các chức năng của cơ thể, trung hòa các

biểu hiện tiêu cực của một số cơ quan và hệ cơ quan, tạo trạng thái tối ưu

cho cơ thể người bệnh và VĐV; đặc biệt xoa bóp có khả năng tăng tuần hồn

tại chỗ, loại trừ cảm giác đau.

Trong điều trị chấn thương thể thao nói chung và điều trị cho vận động

viên có tơn thương khớp cổ chân nói riêng, thủ pháp xoa bóp được dùng

thường xuyên. Mục đích chính của liệu pháp này là làm giảm căng thẳng về

tâm lý, bình thường hóa trạng thái chức năng của các hệ cơ quan, kích thích

quá trình oxy hóa khử, cải thiện tuần hồn ngoại vi [26]. Thời gian xoa bóp

kéo dài từ 5 đến 30 phút tùy thuộc vào trạng thái cơ thể của VĐV và theo chỉ

định của bác sĩ phẫu thuật, cũng như ý kiến của các chuyên gia phục hồi chức năng.

Tóm lại: Hệ thống các bài tập hồi phục chấn thương khớp cổ chân

nhằm mục đích cải thiện tuấn hồn vùng tổn thương, thúc đẩy quá trình liền



37

các tổ chức bị tổn thương ở khớp cổ chân. Sử dụng các bài tập phục hồi đảm

bảo quy tắc: Sau phẫu thuật tập biên độ vận động bắt đầu từ bài mức 1, tập

chủ động có sự giúp đỡ của nhân viên lý liệu; Nếu mức độ tổn thương không

nặng, tập biên độ vận động bắt đầu từ bài mức 2. Nếu tình trạng chấn

thương quá nặng, VĐV tập các bài này hoàn toàn thụ động (nhân viên lý liệu

thực hiện các động tác cho gối bị chấn thương trong vùng biên độ cho phép).

Kết hợp cho vận động viên tập trên máy tập Isokinetic “BIODEX”. Nếu sau

phẫu thuật có biểu hiện teo cơ thì cần phải tập các bài tập tĩnh lực để hồi

phục.

1.4.3. Vật lý trị liệu hồi phục chức năng sau chấn thương [1], [11], [18],

[76], [93]

Sử dụng các phương pháp vật lý trị liệu ngay sau chấn thương thì sự tái

tạo xương sẽ xảy ra rất nhanh. Áp dụng đúng lúc kịp thời những bài tập đặc

hiệu thì các quá trình hình thành và cấu trúc lại gân xương sẽ xẩy ra nhanh

hơn.

Vật lý trị liệu được coi là phương pháp đầu tay trong điều trị chấn

thương thể thao. Các liệu pháp này làm tăng tuần hoàn máu và trao đổi chất

có tác dụng làm tiêu các phần tử thương tổn và kích thích phát triển các mơ

liên kết, hình thành mao mạch. Ưu điểm của vật lý trị liệu là dễ tiến hành,

thời gian điều trị ngắn, có thể tiến hành ngay tại các cơ sở huấn luyện và thi

đấu. Vật lý trị liệu hầu như được chỉ định cho tất cả các loại chấn thương ở

các mức độ khác nhau trong thời gian 48 giờ sau chấn thương (có xuất huyết,

tụ máu) hoặc có thể áp dụng ngay sau khi chấn thương (dãn cơ, co cứng cơ,

chấn thương không kèm theo xuất huyết…). Đặc biệt nhờ áp dụng các tiến bộ

về khoa học kỹ thuật, các thế hệ máy - thiết bị điều trị vật lý trị liệu ngày nay

rất đa dạng và tích tích hợp nhiều chức năng tiên tiến cho phép nâng cao



38

hiệu quả của việc điều trị chấn thương của vận động viên.

Một số thiết bị vật lý trị liệu hiện được sử dụng phổ biến như: sóng

ngắn, từ trường, điện phân kết hợp điện xung, thủy trị liệu, kéo nắn trị liệu,

từ nhiệt rung trị liệu, siêu âm điều trị, kích thích liền xương…

Một số phương pháp vật lý trị liệu (Physiotherapy) thường sử dụng

trong điều trị phục hồi cho VĐV sau chấn thương dây chằng chéo khớp gối.

a) Điều trị bằng siêu âm (ultrasound therapy). Siêu âm ứng dụng trong

y học ở hai lĩnh vực chính: siêu âm chẩn đốn hình ảnh và siêu âm điều trị.

Siêu âm điều trị thường sử dụng âm tần cao 0,7 – 3MHz; còn siêu âm chẩn

đốn hình ảnh có thể đến 10MHz.

Tác dụng sinh lý của siêu âm. Tác dụng đầu tiên của siêu âm là tác dụng

cơ học. Tác dụng cơ học được gọi là xoa bóp vi thể (micromassage); nó có thể

làm thay đổi thể tích tế bào khoảng 0,02%, thay đổi tính thấm màng tế bào,

cải thiện quá trình trao đổi các chất chuyển hóa.

Tác dụng thứ hai là tác dụng nhiệt (thermal effect); tác dụng này làm

mềm dãn các sợi collagen của gân và bao khớp tạo điều kiện vận động dễ

dàng, nên điều trị siêu âm trước điều trị vận động là hợp lý. Tác dụng thứ ba

là tác dụng sinh học (biologic effect): làm tăng tuần hoàn máu, làm giãn cơ,

tăng tính thấm của màng, tăng tái sinh tổ chức và làm giảm đau.

b) Điều trị bằng sóng ngắn (short wave therapy). Điện trị liệu

(Electrotherapy) là một phần cơ bản của vật lý trị liệu (Physiotherapy), ra đời

từ lâu và không ngừng phát triển trên cơ sở các thành tựu khoa học và công

nghệ điện tử. Các kỹ thuật điện trị liệu bao gồm: điều trị bằng dòng điện

(electric current) và điều trị bằng điện từ trường (electromagnetic field): điện

trường cao tần (sóng ngắn, vi sóng), cảm ứng, tĩnh điện trường, điện trường

cao áp (high electric potential treatment).



39

Cơ sở của điện trị liệu dựa trên sự tương tác trực tiếp hay gián tiếp của

dòng điện hoặc điện từ trường lên tổ chức cơ thể nhằm tạo ra các đáp ứng lý

học, sinh học, hóa học...có tác dụng về sinh lý và lâm sàng. Điều trị sóng ngắn

và vi sóng ra đời từ cuối thế kỷ XIX tới nay đã có nhiều tiến bộ cả về nguyên

lý và thực hành. Sóng ngắn (short wave) có tần số 3.10000000 – 3.100000000

Hz và bước sóng: 100 – 10m.

Tác dụng sinh lý của sóng ngắn. Sóng ngắn có tác dụng cơ bản là tăng

nhiệt tổ chức, còn gọi là nội nhiệt (endothermie), tăng khả năng di chuyển

của bạch cầu ra tổ chức xung quanh, tăng thực bào, giảm thời gian đông

máu, thay đổi tỷ lệ đường máu; tăng cung cấp oxy và dinh dưỡng cho tổ

chức, có tác dụng giảm đau, tăng tuần hoàn cục bộ, tái hấp thu các dịch tiết

bị hấp thụ, cho nên có thể loại trừ đau trong viêm, chấn thương và sau phẫu

thuật. Mặt khác tăng nhiệt làm giãn và giảm trương lực cơ vân.

c) Điều trị bằng từ trường (Magnetotherapy). Từ trường được quan

tâm nghiên cứu nhiều từ thế kỷ XX, đặc biệt khi phát triển ngành vật lý hạt

nhân và khoa học vũ trụ. Từ trường sớm được ứng dụng trong y học và phát

triển nhanh chóng trên các lĩnh vực chẩn đốn, điều trị và dược học...mà

thành tựu tiêu biểu là kỹ thuật ghi hình ảnh bằng cộng hưởng từ MRI

(Magnetic Resonance Imaging). Chữa bệnh bằng từ trường đã góp phần làm

phong phú ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng.

Tác dụng sinh lý của từ trường. Tới nay vẫn còn những vấn đề chứng

minh chưa thật rõ ràng. Cơ chế sinh học trong điều trị có thể tóm tắt: Chống

viêm (nhiễm và không nhiễm khuẩn); Giảm phù nề; Giảm đau (cơ chế trung

ương và ngoại vi); Tăng tuần hoàn máu ngoại vi, chỉnh áp lực động mạch;

Điều hòa hoạt động thần kinh thực vật; Giảm độ nhớt máu, hạn chế kết dính

tiểu cầu; Kích thích miễn dịch khơng đặc hiệu; Hạn chế lắng đọng cholesterol,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 1.1: Phân loại sinh lý các bài tập thể lực (theo Pharphell)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×