Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.10: Mặt ngoài cổ chân

Hình 1.10: Mặt ngoài cổ chân

Tải bản đầy đủ - 0trang

20

hiện áp dụng các hình thức điều trị sau đối với chấn thương thể thao:

Điều trị bảo tồn: điều trị triệu chứng, vật lý trị liệu

Điều trị ngoại khoa: phẫu thuật chấn thương - chỉnh hình

Phục hồi chức năng và vận động trị liệu

Các giải pháp khác: dinh dưỡng, tâm lý …

Trong những phương pháp điều trị trên, phẫu thuật chấn thương

chỉnh hình, vật lý trị liệu đồng thời kết hợp phục hồi chức năng vận động trị

liệu là những giải pháp phổ biến, đạt kết quả cao nhất.

* Vật lý trị liệu:

Vật lý trị liệu được coi là phương pháp đầu tay trong điều trị chấn

thương thể thao. Ưu điểm dễ tiến hành, thời gian điều trị ngắn, có thể tiến

hành ngay tại các cơ sở huấn luyện và thi đấu. Vật lý trị liệu hầu như được chỉ

định cho tất cả các loại chấn thương ở các mức độ khác nhau trong thời gian

48 giờ sau chấn thương (có xuất huyết, tụ máu) hoặc có thể áp dụng ngay

sau khi chấn thương (giãn cơ, co cứng cơ, chấn thương không kèm theo xuất

huyết…). Đặc biệt nhờ áp dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật, các thế hệ

máy - thiết bị điều trị vật lý trị liệu ngày nay rất đa dạng và tích hợp nhiều

chức năng tiên tiến cho phép nâng cao hiệu quả của việc điều trị chấn

thương của vận động viên.

Một số thiết bị vật lý trị liệu hiện được sử dụng phổ biến như: sóng

ngắn, từ trường, điện phân kết hợp điện xung, thủy trị liệu, kéo nắn trị liệu,

từ nhiệt rung trị liệu, siêu âm điều trị, kích thích liền xương…

* Phẫu thuật chấn thương chỉnh hình [5]:

Phẫu thuật soi khớp được áp dụng cho đa số các chấn thương thể thao

khi có chỉ định, ví dụ nội soi khớp gối (tạo hình dây chằng chéo trước, ghép

sụn chêm hoặc cắt sụn chêm…), nội soi khớp vai, khớp cổ chân… Phẫu thuật

nội soi có thể ưu thế tuyệt đối trong việc đẩy nhanh q trình hồi phục đối



21

với bệnh nhân nói chung và đặc biệt là VĐV. Những chấn thương thể thao

đặc trưng nhất như đứt dây chằng chéo trước - rách sụn chêm khớp gối

được điều trị triệt để nhờ phẫu thuật nội soi kết hợp vận động trị liệu sớm

48 giờ sau phẫu thuật.

Những trường hợp cần điều trị ngoại khoa khác tùy theo tiến triển của

bệnh nhân việc điều trị kết hợp với các phương pháp phục hồi, vật lý trị liệu

có thể thay đổi theo từng giai đoạn. Tuy nhiên, đưa ra các giải pháp vận động

phục hồi sớm với các bài tập sức mạnh cơ trạng thái tĩnh cho phép rút ngắn

thời gian điều trị, nhanh chóng đưa vận động viên quay trở lại tập luyện và thi đấu.

* Phục hồi chức năng và vận động trị liệu [10], [21]:

Sự suy giảm chức năng vận động luôn gắn liền với quá trình chấn

thương và thời gian điều trị của vận động viên. Suy giảm chức năng vận động

bao gồm các tình trạng suy giảm tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền, độ

linh hoạt của khớp, kéo dài thời gian phản xạ, giảm trương lực và độ đàn hồi

của cơ, sưng nề mô cơ và khớp… Đây là những yếu tố chính từng bước làm

mất dần khả năng quay trở lại tập luyện và thi đấu thể thao của vận động

viên. Ngay cả khi những chấn thương đã được xử trí tốt bằng phẫu thuật

hoặc bằng các phương pháp khác nhưng nếu thiếu phương pháp phục hồi

đúng cách và kịp thời cũng có thể đưa tới kết quả không được như mong

muốn. Khác với những tiêu chuẩn lành bệnh khác, quá trình điều trị chấn

thương thể thao cho vận động viên chỉ thực sự được coi là triệt để khi vận

động viên có thể quay trở lại tập luyện tích cực và đạt thành tích thể thao.

Vận động trị liệu trước đây thường tách riêng khỏi quá trình điều trị

vật lý trị liệu hoặc phẫu thuật, tuy nhiên từ đầu những năm 2000 Y học thể

thao coi vấn đề kê đơn tập luyện là một khâu không thể thiếu và việc này

phải được thực hiện sớm nhất ngay khi có thể.

Tại các nước có nền Y học thể thao phát triển như Trung Quốc, CHLB



22

Đức hay tại Thái Lan, Singapore từ những năm 1990 đã áp dụng các thiết bị

phục hồi thể lực đồng bộ, hiện đại với các hệ thống bài tập Isometric (co cơ

tĩnh) và Isokinetic (vận cơ với một tốc độ ổn định cho trước) nhằm đẩy

nhanh tốc độ phục hồi của vận động viên sau chấn thương, các phương pháp

này đã cho thấy hiệu quả rõ rệt.

Các bài tập Isometric có ưu điểm đặc biệt do có thể áp dụng ngay cho

vận động viên chấn thương hệ cơ - xương - khớp trong những ngày đầu tiên,

ngay cả khi vận động viên cần phẫu thuật hoặc mang dụng cụ bất động khớp.

Việc tính tốn đưa ra cường độ bài tập phù hợp và đúng cách với từng bệnh

nhân cụ thể là một trong những điểm mới của công tác phục hồi sau chấn

thương thể thao. Ưu điểm của phương pháp là đơn giản, khơng tốn kém và

có thể áp dụng sớm, hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện các tố chất thể lực

[81]

Việc áp dụng các bài tập Isokinetic đòi hỏi thiết bị đặc biệt, hiện đại.

Hiện nay Isokinetic được coi là “chìa khóa vàng” trong việc phục hồi

chức năng hệ vận động sau chấn thương. Các chỉ số về sức mạnh, sức bền,

độ linh hoạt của hệ cơ - khớp được đánh giá chính xác, chi tiết giúp cho việc

thực hiện các hệ thống bài tập phục hồi đạt hiệu quả cao nhất.

Tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam hiện đang áp dụng các biện pháp

điều trị phục hồi chức năng dựa trên các thiết bị tiên tiến, đồng bộ kết hợp

với các phương pháp vật lý trị liệu. Hầu hết các kết quả điều trị đều cho thấy

xu hướng tích cực, hiệu quả cao, đặc biệt đối với những trường hợp phục hồi

chức năng khớp cổ chân sau chấn thương có các di chứng như teo cơ, giảm

biên độ khớp, suy giảm khả năng vận động. Việc tiến hành nghiên cứu đánh

giá các kết quả điều trị này sẽ tạo cơ sở cho việc mở rộng ứng dụng tiến bộ

khoa học kỹ thuật trong cơng tác chăm sóc sức khỏe vận động viên.



23

1.4. Một số vấn đề về bài tập thể chất, phục hồi chức năng và vật lý trị liệu.

1.4.1. Bài tập thể chất và bài tập thể lực.

Bài tập thể chất, theo định nghĩa được ghi trong Từ điển bách khoa

Việt Nam, “Đó là những cách vận động gồm các động tác có ý thức của con

người, được sử dụng như các phương tiện chủ yếu của giáo dục thể chất và

hoạt động thể thao”. [38]

Bài tập thể chất ra đời gắn liền với điều kiện sống, trước hết là hoạt

động lao động của con người. Từ thời kỳ lịch sử xa xưa, lúc đầu là những

động tác mơ phỏng q trình lao động (chạy, nhảy, ném…), dần dần được xây

dựng thành lý luận và chia thành các bài tập tự nhiên và bài tập phân tích,

được quy định bởi quy luật giáo dục thể chất và hoạt động thể thao.

Bài tập thể lực, theo định nghĩa được ghi trong Từ điển bách khoa Việt

Nam, “là tổng hợp các động tác vận động được hệ thống hóa thành bài tập

sắp xếp theo một quy trình nhất định và phù hợp với tâm lý, sinh lý người

tập, để luyện thân thể, tăng sức khỏe, kỹ năng vận động, chuẩn bị những

điều kiện tốt nhất cho người tập theo một mục đích định trước (học tập, lao

động, thi đấu thể thao…). Về nguyên tắc, Bài tập thể lực, khác với các hoạt

động thường lệ trong sinh hoạt, lao dộng chân tay (gánh nước, đốn củi, cày

ruộng, giã gạo…). Tuy nhiên có một số hoạt động lao động thể lực có thể

dùng trong các Bài tập thể lực, nếu thực hiện đúng theo những quy định, yêu

cầu của giáo dục thể chất”. [38]

Theo Nguyễn Toán, bài tập thể lực là phương tiện TDTT cơ bản nhất,

được tạo thành từ những động tác cụ thể, chuyên dùng để tăng cường thể

chất, vui chơi, giải trí hoặc nâng cao trình độ thể thao. Bài tập thể lực chủ

yếu là động (quá trình động thái) nhưng cũng có thể là tĩnh (q trình tĩnh

thái). Không phải bất cứ tổ hợp động tác nào cũng được gọi là bài tập thể

lực, mà chỉ những động tác trong TDTT, được dùng để thực hiện mục đích,



24

nhiệm vụ giáo dục thể chất mới được gọi là bài tập thể lực. Những động tác

đó phải phù hợp với yêu cầu và có lợi cho thực hiện các nhiệm vụ trên. Vì

vậy, một số động tác trong sinh hoạt và lao động tuy giống với các động tác

bài tập thể lực nhưng do được sử dụng vì mục đích khác nên khơng được gọi

là các bài tập thể lực.

Thí dụ, cùng là một động tác “đi” nhưng đi trong xưởng dệt lúc sản

xuất là động tác lao động, còn khi đi bộ để rèn luyện sức khỏe thì đó lại chính

là bài tập thể lực. Khi được thực hiện một cách khoa học, hợp lý, bài tập thể

lực sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong cơ thể, rút ngắn quá trình hồi

phục và nâng cao năng lực thích ứng. Qua bài tập thể lực, người tập còn có

thể nâng cao kỹ năng và năng lực vận động và rèn luyện phẩm chất, đạo đức,

ý chí… Chính vì vậy, lao động thể lực khơng thể thay thế cho TDTT, mặc dù có

khi có thể dùng để bổ trợ cho rèn luyện thân thể [34]

Cũng theo Nguyễn Toán, bài tập thể lực có thể phân loại như sau:

a. Phân loại theo kỹ năng hoạt động cơ bản

Bao gồm các kỹ năng như đi, chạy, nhảy, leo trèo, bò chui, mang vác…

b. Phân loại theo tố chất thể lực

Muốn phát triển tốc độ là chính thì tập chạy cự ly ngắn, phát triển sức

mạnh thì tập cử tạ, phát triển sức bền thì chạy dai sức… Tất nhiên trong thực

tế ít có những bài tập chỉ tập trung vào phát triển một tố chất thể lực, mà

thường là kết hợp một số tố chất ưu thế như các môn ném đẩy cần phát

triển sức mạnh bột phát (một dạng sức mạnh - nhanh).

c. Phân loại theo các bộ phận cơ thể trong vận động

Bao gồm những bài tập với các động tác tay, chân, đầu, mình và tồn thân.

d. Phân loại theo cấu trúc kỹ thuật



25

Đó là cách phân loại theo đặc điểm cấu trúc kỹ thuật động tác của các

môn thể thao (các nội dung trong điền kinh, bơi, võ, các mơn bóng, thể dục

dụng cụ, bắn súng…).

Ngay trong cách phân loại này cũng còn có thể căn cứ vào những nhân

tố chủ đạo trong năng lực vận động để phân ra thành các môn sức mạnh tốc độ, sức mạnh bền, đối kháng và biểu diễn.

Nêu phân loại theo cách đánh giá thành tích thể thao thì ngồi các loại

đo lường chính xác (giây, mét, kg…) còn có đánh giá theo điểm, tỷ số… Theo

đặc điểm cấu trúc của động tác, bài tập thể lực thường được phân chia như

trong bảng dưới đây.

Bảng 1.1. Phân loại theo cấu trúc kỹ thuật [34, [37]

Loại lớn

(thứ bậc 1)



Loại vừa



tác đơn nhất



(thứ bậc 2)

Tính phi chu kỳ

Tính chu kỳ

Tính hỗn hợp



Cấu trúc liên



Tổ hợp cố định



Cấu trúc động



hợp động tác

Cấu trúc tổng

hợp nhiều môn



Các môn thể thao

Ném đĩa, ném tạ…

Chạy, bơi, xe đạp

Nhảy xa, nhảy cao, ném lao

Từng môn trong thể dục dụng cụ,



Tổ hợp linh hoạt

Tổ hợp nhiều môn cùng loại



võ thuật…

Bóng rổ, bóng đá, bóng chuyền….

Điền kinh 7 hoặc 10 môn phối hợp



Tổ hợp nhiều môn khác loại



5 môn hiện đại, 2 môn mùa đông



thể thao

Trong thực tế, các cách phân loại trên cần được thực hiện rất linh hoạt,



sát mục đích, đối tượng sử dụng và ảnh hưởng tác động. Trong chương trình

giáo dục thể chất cho học sinh cấp 1, chủ yếu thường sử dụng cách phân loại

theo cấu trúc kỹ thuật (kỹ năng vận động cơ bản). Còn đối với vận động viên

thường kết hợp theo cấu trúc kỹ thuật và phát triển các tố chất thể lực. Các

nhiệm vụ giáo dục thể chất trong từng trường hợp cụ thể bao giờ cũng rất đa



26

dạng, khơng đơn nhất. Do đó, phải sử dụng một số cách phân loại, loại chính

và phụ.

Dưới góc độ y sinh học thể thao, bài tập thể lực là: “một tổ hợp các

động tác liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất

định được gọi là một bài tập thể lực”. [3], [95], [96]

Phân loại sinh lý các bài tập thể lực có thể dựa trên 4 đặc điểm quan

trọng trong hoạt động của các cơ thực hiện các bài tập tương ứng:

a).Dựa trên khối lượng cơ tham gia trong quá trình vận động chia thành:

+ Những bài tập thể lực cục bộ - có dưới 1/3 khối lượng cơ trong cơ thể

tham gia (các môn bắn súng, bắn cung, một số bài tập thể dục dụng cụ).

+ Những bài tập thể lực vùng - có 1/3 đến 1/2 khối lượng cơ tham gia

(những bài tập thể dục dụng cụ thực hiện chỉ các cơ tay và vùng bả vai, cơ

lưng).

+ Những bài tập thể lực vận động tồn thân – có trên 1/2 khối lượng cơ

tham gia (đi bộ, chạy, đạp xe đạp, bơi...)

b).Dựa trên đặc điểm co cơ, các bài tập được chia thành các bài tập

tĩnh (bài tập trồng chuối, hãm ngang trong thể dục dụng cụ...) và các bài tập

động (đi bộ, chạy, bơi...).

c).Dựa trên lực và công suất co cơ, các bài tập được chia thành: bài

tập sức mạnh, bài tập tốc độ - sức mạnh và các bài tập sức bền.

d).Dựa trên đặc điểm cung cấp năng lượng, các bài tập được chia

thành: bài tập ưa khí và bài tập yếm khí [19]

Trong hoạt động thể dục thể thao, phân loại sinh lý các bài tập thành

hai loại là các bài tập động và các bài tập tĩnh là mang tính tổng quát hơn cả.

Theo Pharphell và một số tác giả khác, các bài tập động có thể chia ra

thành hai loại là các bài tập chuẩn (định hình) – hình thức và trình tự các



27

động tác đã được biết trước và các bài tập khơng chuẩn (theo tình huống) –

tính chất của động tác ln thay đổi, ví dụ trong các mơn bóng, vật, võ.

Các bài tập chuẩn được chia ra thành hai loại: loại bài tập hoạt động

định lượng (bao gồm các hoạt động mà thành tích của chúng có thể đo đếm

được như chạy, nhảy, cử tạ...) và các bài tập định tính (kết quả phải đánh giá

bằng cách cho điểm, như thể thao dụng cụ, nhảy cầu...

Dựa vào cơ cấu động tác, các bài tập định lượng được chia thành [39]:

- Các bài tập động có chu kỳ gồm các bài tập chạy, đi bộ thể thao, bơi,

đua thuyền... Trong bài tập này, các động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần

theo một cấu trúc và hình thái giống nhau mặc dù các động tác có thể thay

đổi về biên độ và tần số.

- Các bài tập động khơng có chu kỳ (các chuyển động phức tạp, gồm

các động tác khác nhau về cấu trúc và được thực hiện theo một trình tự nhất

định, thay đổi đột ngột cơng suất vận động trong q trình thực hiện bài tập.

Ví dụ như: cử tạ, ném đĩa, võ vật, tất cả các trò chơi thể thao... Một số bài

tập có tính chất hỗn hợp, các động tác khơng có chu kỳ xảy ra sau các động

tác có chu kỳ, ví dụ như: nhảy xa, nhảy cao...

Các bài tập thể lực

Bài tập động



Bài tập tĩnh



Bài tập chuẩn



Bài tập không chuẩn



Bài tập định lượng



-



Bài tập có chu kỳ



Bài tập định tính



Bài tập khơng có chu kỳ



Bài tập sức

mạnh tốc độ



Bài tập công

suất tối đa



Bài tập công

suất dưới tối đa



Bài tập sức

mạnh



Bài tập cơng

suất lớn



Bài tập định

hướng



Bài tập cơng

suất trung bình



28



Sơ đồ 1.1: Phân loại sinh lý các bài tập thể lực (theo Pharphell)

Trong lĩnh vực TDTT củng cố và nâng cao sức khỏe (TDTT quần chúng)

người ra chia thành ba loại bài tập chính:

Loại I – các bài tập có tính chu kỳ ưa khí – thúc đẩy phát triển sức bền

chung.

Loại II – các bài tập có tính chu kỳ hỗn hợp ưa – yếm khí – nhằm phát

triển sức bền chung và sức bền chuyên môn (tốc độ).

Loại III – các bài tập khơng có chu kỳ, nhằm nâng cao sức mạnh bền.

Nhu cầu về năng lượng của cơ thể (các cơ hoạt động) được đáp ứng

bằng hai con đường trao đổi chất yếm khí và ưa khí. Vai trò của hai con

đường cung cấp năng lượng này khơng giống nhau ở các bài tập động có chu

kỳ khác nhau. Khi thực hiện bất kỳ một loại bài tập thể thao nào đều có sự

tham gia của cả ba hệ thống cung cấp năng lượng (hệ phosphagen, hệ glucophân yếm khí và hệ oxy hóa), đặc biệt là ở các bài tập thực hiện trong thời

gian dài.

Phụ thuộc vào vai trò của các hệ thống cung cấp năng lượng trong khi

thực hiện bài tập, người ta chia các bài tập động có chu kỳ thành các bài tập

yếm khí và các bài tập ưa khí.

- Các bài tập động có chu kỳ, yếm khí là những bài tập, khi thực hiện

chúng, năng lượng cung cấp cho hoạt động cơ chủ yếu do các quá trình trao

đổi chất yếm khí (hệ phosphagen, hệ gluco-phân yếm khí). Tố chất thể lực

đóng vai trò quyết định trong thực hiện các bài tập này là khả năng tốc độ và

sức mạnh.



29

- Các bài tập động có chu kỳ ưa khí là những bài tập mà khi thực hiện

chúng, năng lượng cung cấp cho hoạt động cơ chủ yếu do các quá trình trao

đổi chất có oxy (hệ oxy hóa). Tố chất thể lực đóng vai trò quyết định trong

thực hiện các bài tập này là khả năng sức bền.

Tóm lại, bài tập thể lực, dưới góc độ sư phạm và đặc điểm sinh lý, đó

là tổ hợp các động tác vận động được hệ thống hóa thành bài tập sắp xếp

theo một quy trình nhất định và phù hợp với tâm lý, sinh lý người tập, để

luyện thân thể, tăng sức khỏe, kỹ năng vận động, chuẩn bị những điều kiện

tốt nhất cho người tập theo một mục đích định trước.

1.4.2. Phục hồi chức năng và một số bài tập phục hồi sau chấn

thương khớp cổ chân.

a). Phục hồi chức năng.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật ngày càng khẳng định

vai trò của thể dục trong việc giữ gìn sức khỏe và chữa bệnh, đặc biệt trong

thời đại hiện nay, thể dục chữa bệnh nói chung và vận động trị liệu nói riêng

là một phần cơ bản của chuyên ngành phục hồi chức năng.

Thể dục chữa bệnh, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “là phương

pháp chữa bệnh dùng các liệu pháp vận động để điều chỉnh trạng thái cơ thể,

thống nhất giữa hoạt động thể lực và tâm lý, những cảm xúc có tác dụng điều

hòa hoạt động của hệ thần kinh nội tiết, huy động “khả năng tự điều chỉnh,

duy trì, phục hồi hồn thiện ở mức độ cao của cơ thể” (theo Paplov I.P.), Thể

dục chữa bệnh là phương pháp điều trị toàn diện, chủ động, tích cực vì nó

huy động tiềm lực của chính bản thân người bệnh vào việc chữa bệnh. [69],

[79]

Phục hồi chức năng, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “là hồi phục

khả năng hoạt động của một cơ quan, một bộ phận cơ thể bị suy giảm, rối



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.10: Mặt ngoài cổ chân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×