Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

57

thao, tỷ lệ ở nam là 66,7% cao hơn ở nữ là 33,6%. Tính chung cả hai đối tượng

thì tỷ lệ về giới tính như sau: nam chiếm 56,8% và nữ chiếm 43,2%. Qua đó có

thể nhận thấy sự khác biệt về giới tính chỉ mang tính ngẫu nhiên, tỷ lệ giữa

bệnh nhân nam và nữ có sự khác biệt không đáng kể.

Về lứa tuổi, đối với bệnh nhân là vận động viên, một sự khác biệt khá rõ

là với xu hướng trẻ hơn rất nhiều so với người bệnh tham gia tập luyện thể

thao, cụ thể tuổi của bệnh nhân – VĐV dao động từ 15 đến 32 tuổi: dưới 20

tuổi chiếm 35,8%, từ 20 đến 30 chiếm tỷ lệ cao nhất là 57,1% và duy nhất 1

VĐV trên 30 tuổi chiếm 7,1%. Trong khi đó, tuổi của những bệnh nhân tham

gia tập luyện thể thao dao động từ 19 đến 55: tuổi dưới 20 chiếm 6,7%, từ 20

đến 30 chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,0%, tiếp theo tuổi từ 30 đến 40 chiếm 30,0%,

và trên 40 chiếm tỷ lệ 22,3%. Đây là sự khác biệt rất đáng quan tâm. Điều này

có ý nghĩa trong việc phòng ngừa chấn thương khớp cổ chân nói riêng và chấn

thương thể thao nói chung đối với vận động viên thành tích cao. Chấn thương

khớp cổ chân chiếm khoảng 15% tổng số chấn thương ở vận động viên, với

23.000 ca chấn thương dây chằng cổ chân được báo cáo mỗi ngày ở Mỹ. Đặc

biệt thường gặp ở mơn bóng rổ, bóng chuyền, bóng đá, nhảy hiện đại và múa

ba lê. Hầu hết bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, nhưng những triệu chứng mãn

tính về đau và mất vững phát triển trong khoảng 20% đến 40% số bệnh nhân.

Về vị trí chấn thương khớp cổ chân khơng có sự khác biệt giữa chân phải

và chân trái với tỷ lệ chia đều là 50% ở đối tượng VĐV, còn ở đối tượng là

người tập thể thao, thì tỷ lệ chấn thương cổ chân phải là 56,7% cao hơn so với

cổ chân trái là 43,3%. Điều này có thể giải thích là phần lớn người tập thể thao

có chân thuận là chân phải, còn VĐV sự khác biệt giữa chân thuận và chân

không thuận không có ý nghĩa đặc biệt.



58



Bảng 3.2. Đặc điểm bệnh học và mức độ chấn thương khớp cổ chân

Vận động viên Người tập thể thao

Tổng số

(n = 14)

(n = 30)

(n = 44)

Tiêu chí, chỉ tiêu

n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %

Chấn thương cấp tính

13

92.8

22

73.3

35

79.5

Chấn thương mãn tính

1

7.2

8

26.7

9

20.5

Chấn thương độ I

6

42.8

11

36.7

17

38.6

Chấn thương độ II

8

57.2

19

43.3

27

62.4

Chấn thương đơn thuần

11

78.6

21

70

32

72.7

Chấn thương kết hợp

3

21.4

9

30

12

27.3

(Nguồn tác giả khảo sát)

Từ kết quả ở bảng 3.2. cho thấy, phần lớn các chấn thương khớp cổ chân

là chấn thương cấp tính ở cả hai đối tượng với tỷ lệ là 79,5%, tuy nhiên tỷ lệ

này ở VĐV vẫn cao hơn là 92,8% so với 73,3% ở người tập thể thao. Điều này

có thể hiểu là VĐV sau khi bị chấn thương thường được khám và chẩn đoán và

điều trị sớm, nên tỷ lệ chấn thương mãn tính khơng cao.

Về mức độ nặng, nhẹ và độ phức tạp của chấn thương, cho thấy hầu hết

chấn thương thể thao không quá nặng, tỷ lệ chấn thương độ I ở VĐV là 42,8%,

và ở người tập thể thao là 36,7%; còn chấn thương độ II, các tỷ lệ tương ứng là

57,2% và 43,3%. Về mức độ phức tạp, đa chấn thương, cũng nhận thấy phần

lớn là chấn thương đơn thuần là tổn thương dây chằng khớp cổ chân ở độ I và

II với tỷ lệ ở VĐV là 78,6% và và ở người tập thể thao là 70,0%. Còn chấn

thương kết hợp, phức tạp ở cả hai đối tượng chiếm tỷ lệ ít hơn, tương ứng là

21,4% và 30%.

Chấn thương khớp cổ chân là tình trạng các dây chằng xung quang khớp

cổ chân bị giãn quá mức dẫn đến rách môt phần hoăc tồn bơ dây chằng dưới

tác đơng của lực chấn thương. Chấn thương khớp cổ chân găp ở mọi lứa tuổi,



59

với mức đô tổn thương từ nhẹ đến n ăng, tùy thuôc mức đ ô tổn thương dây

chằng. Phần lớn các trường hợp chấn thương khớp cổ chân găp ở mức đ ơ

nhẹ, người bênh có thể tự điều trị, tự chăm sóc tại nhà bằng cách chườm đá,

nghỉ ngơi, hạn chế đi lại. Hầu hết những chấn thương cổ chân đều khó thể đỡ

nếu được nghỉ ngơi, chườm đá, thuốc giảm đau và phục hồi chức năng mà

không phải vấn đề thời gian dài. Tuy nhiên, khoảng 5-10% cơ đau và bất ổn

định có thể tiếp diễn và lâu khỏi hơn so với thơng thường có thể là 6 tới 12

tuần. Dây chằng có thể tổn thương và khỏi, sau đó có thể trở nên yếu hoặc

khiến tổn thương tới các khớp, một số cấu trúc gần đó. Mắt cá chân khơng ổn

định khi có xu hướng "nhượng bộ", thường có áp lực nhỏ làm cho nhắc lại

bong gân mắt cá chân. Điều này phổ biến do tổn thương dây thần kinh nhận

cảm trong cơ thể hơn là khớp và dây chằng yếu thực sự. Nhưng đầu dây thần

kinh nhỏ này trong khớp và dây chằng sẽ cho não biết nơi nào là mắt cá chân

và vị trí ở đâu. Nếu đầu dây thần kinh không làm việc hợp lý, não sẽ khơng có

được thơng tin thực tế và cơ xung quanh mắt cá chân không làm việc phối hợp

ăn ý với nhau.

Tuy nhiên, nếu chấn thương khớp cổ chân ở mức đơ vừa và năng thì bắt

bc phải đến bênh viên khám và điều trị kịp thời. Ở mức đ ô n ăng và vừa,

nếu người bênh đến viên muôn hoăc điều trị không đúng (thường là đắp lá,

tự chữa theo dân gian) sẽ dẫn đến tình trạng bong gân mạn tính với các tri êu

chứng như sưng đau dai dẳng khớp cổ chân, khớp lỏng, dễ chấn thương tái

phát, ảnh hưởng rất lớn đến lao đông, sinh hoạt và chất lượng cu ôc sống. Hầu

hết bong gân khớp cổ chân xảy ra ở hê thống dây chằng bên ngoài, nằm ngoài

khớp.

Nguyên nhân do cổ chân bị xoắn văn đơt ngơt, găp trong các tình huống chấn

thương sau: Đi bô ho ăc tâp thể dục trên nền đất mấp mô; Ngã cao bàn chân

tiếp đất; Chơi các môn thể thao có đ ơng tác cắt hoặc lăn và xoắn chân: chạy



60

bộ đường dài, chơi bóng rổ, quần vợt, bóng đá…; Tai nạn giao thông; Sụt chân

xuống hố.

Cơ chế tổn thương cổ chân

Sự lật nghiêng cổ chân mạnh (trẹo chân) gây ra 90% trường hợp tổn

thương cổ chân. Dây chằng chuyên biệt bị tổn thương sẽ tùy thuộc vào vị trí

của bàn chân lúc bị thương.

Nếu bàn chân ở tư thế gấp gan chân thì dây chằng mác-sên trước sẽ

cǎng ra. Đây là dây chằng có thể bị tổn thương nhiều nhất nếu bàn chân bị trẹo

mạnh. Nếu bàn chân gập về phía mu chân thì dây chằng mác-sên sau bị cǎng

và việc trẹo này sẽ làm tổn thương dây chằng này. Nếu bàn chân ở thế trung

gian, trẹo mạnh rất có thể sẽ làm tổn thương dây chằng mác-gót.

Các dây chằng giữa của khớp cổ chân (dây chằng delta) rất chặt và cho

phép vận động ít hơn nhiều so với các dây chằng bên. Do đó trẹo bàn chân

mạnh kiểu này tính ra chỉ dưới 10% của tất cả các tổn thương cổ chân. Tổn

thương các dây chằng delta gây ra bởi trẹo mạnh khớp cổ chân, thường kèm

theo sự quay vào trong của xương chầy trên bàn chân. Vì lực quay này, các

thành phần trước của dây chằng delta hay bị tổn thương trước nhất.

Phân đô dựa trên mức đô tổn thương dây chằng.

Đô 1 (mức đô nhẹ): Các dây chằng bị kéo giãn nhẹ, tổn thương ở mức

đô vi thể trên các sợi xơ. Biểu hiên: sưng nề nhẹ quanh mắt cá chân.

Đô 2 (mức đô trung bình): Đứt mơt phần dây chằng. Biểu hiên: Sưng nề

mức đơ vừa phải quanh khớp cổ chân, có cảm giác mất vững khớp cổ chân khi

thăm khám.

Đô 3 (mức đô năng): Đứt hồn tồn dây chằng. Sưng nề, bầm tím tồn

bơ khớp cổ chân. Thăm khám thấy khớp cổ chân mất vững rõ.

Đánh giá tổn thương cổ chân



61

Dấu hiệu nhận biết: Ngay sau chấn thương, khớp cổ chân đau kèm theo

sưng nề, bầm tím, căng mọng, giảm hoăc mất vân đ ơng. Khi tình trạng cấp

tính qua đi, thăm khám lâm sàng có thể thấy khớp cổ chân mất vững.

Nếu bong gân mức đơ n ăng, người bênh có thể nghe tiếng “rắc” khi

chấn thương, sau đó mất cơ năng cổ chân giống gãy xương.

Đầu tiên hỏi tiền sử bệnh với câu hỏi mở về tai nạn xẩy ra như thế nào.

Sự mô tả đầy đủ nên gồm những câu trả lời cho các câu hỏi sau đây: Bàn chân

trẹo ra hay trẹo vào trong khi xẩy ra thương tích? Cẳng chân có bị vặn khơng?

Bàn chân gập về phía mu chân hay về phía gan chân trong khi bị thương tích?

Bị thương ở chỗ nào? (yêu cầu bệnh nhân dùng ngón tay chỉ vào).

Hỏi bệnh nhân điều gì xẩy ra ngay sau khi bị thương. Nếu bệnh nhân có

thể đứng đậy và đi chung quanh hay tiếp tục hoạt động, như vậy tổn thương

dây chằng hay gẫy xương có thể ít nghiêm trọng. Nếu cổ chân sưng to và mất

mầu một vài phút sau khi bị thương, có thể nghi ngờ tổn thương nặng phần

mềm hoặc thậm chí gẫy xương.

Khám thực thể gồm quan sát và sờ nắn. Khám thực thể thấy sưng nhẹ ở

bong gân độ 1 và sưng vừa đến sưng nhiều ở khoảng giữa các bệnh nhân bị

bong gân độ 2 và độ 3. Luôn luôn bị đau khi sờ vào khi bị chạm ở gờ trước

xương mác với những chấn thương dây chằng sên mác trước và ở đầu mút

xương mác với những chấn thương dây chằng gót mác. Vùng khớp sợi chày

mác và nền xương bàn đốt ngón 5 nên được sờ để loại trừ những chấn thương

ở những cấu trúc đó.



62



Hình 3.1: Test đối với sự mất vững dây chằng bằng test ngăn kéo trước.

Nắm giữ gót bàn chân bệnh nhân và kéo về trước trong khi giữ mặt trước

đầu xa xương chày ở vị trí cố định bằng tay kia. Sự xê dịch hơn 3mm hay

có khác biệt khi xê dịch ra trước so với cổ chân bên lành gợi ý có rách dây

chằng sên gót trước (SGT).



Hình 3.2: Sự xê dịch quá mức theo hướng trước sau của xương chày trên

xương sên trong test ngăn kéo trước cho thấy bệnh nhân có một chấn

thương dây chằng sên gót trước.



63



Hình 3.3: Test nghiêng xương sên (test ép lật trong) lượng giá sự tồn vẹn

của dây chằng gót mác. Test này có lẽ được thực hiện bằng một giá đỡ hoặc

bàn tay bằng chì có bán ngồi thị trường khi thực hiện chụp x quang. Lật

trong bàn chân trong khi một tay cố định xương chày, tay kia giữ khớp dưới

sên.

Lúc quan sát, tìm chỗ sưng ở mắt cá trong và mắt cá ngoài. So sánh các

điểm mốc với những điểm tương ứng ở chân đối diện. Nếu có sự biến dạng có

nghĩa là bị sưng hay chảy máu tại chỗ và giúp cho việc xác định vùng tổn

thương. Ngoài ra, da đổi màu chứng tỏ chảy máu ở trong tổ chức. Đổi màu ít

nghĩa là tổn thương một phần dây chằng, còn mất màu nhiều thường là có gẫy

xương hay tổn thương dây chằng lan rộng hơn.

Sờ trên vùng đau nhức sẽ giúp khu trú cấu trúc bị tổn thương. So sánh

các cử động thụ động của cổ chân bị thương với cổ chân bên lành. Nếu có

tiếng lạo sạo thường là có gẫy xương. Một thao tác có ích là "dấu hiệu kéo về

phía trước". Tiến hành thao tác này như sau: bàn chân bị thương đặt ở tư thế

gấp về phía gan chân, một tay cố định xương chầy, tay kia đặt ở sau gót, và bàn

chân kéo ra phía trước. So sánh với bên lành, nếu chuyển động ra trước thái

quá, điều đó nói lên dây chằng mác sên trước bị đứt.



64

Chụp X-quang không cần thiết đối với đa số các tổn thương cổ chân. Chỉ

định chụp X-quang cho các trường hợp sau đây : (a) Ngay sau khi bị thương,

bệnh nhân không thể mang nổi trọng lượng của mình; (b) Cổ chân thấy sưng

to và đổi màu ngay sau khi bị thương tích; (c) Đau dữ dội khi vận động hay sờ

nắn vào cổ chân và các vùng mà bạn cho rằng bị chấn động nhiều nhất sau khi

bị thương tích; (d) Có tiếng lạo sạo khi sờ nắn hay vận động cổ chân; (e) Những

trường hợp có thể gây kiện cáo, chẳng hạn tai nạn do xe cộ, bị thương ở nơi

công cộng,…

3.1.2. Phương pháp điều trị, phục hồi chấn thương khớp cổ chân.

Điều trị tổn thương cổ chân bao gồm hai giai đoạn. (a) Chǎm sóc cấp

tính nhằm làm dịu đau và giảm sưng, (b) Phục hồi chức nǎng.

Chǎm sóc cấp tính

Việc điều trị thường lệ tập trung vào bǎng ép, chườm đá lạnh, nâng

chân cao, chống đau, sử dụng dây đeo, nẹp kim loại, hướng dẫn cách dùng

nạng. Tuỳ mức độ tốn thương mà thay đổi việc sử dụng cách điều trị nào trong

số trên.

Bǎng ép và nâng cao chân sẽ hạn chế việc rỉ máu và dịch ngoài tế bào xung

quanh vết thương. Với cách giảm sưng, các biện pháp này giúp vết thương

mau lành hơn. Thường thường bǎng chun dãn được dùng để bǎng ép, chẳng

hạn khǎn chồng hình con bài "át", áp lực tổng cộng lên cổ chân tuỳ thuộc vào

độ kéo và số vòng cuốn xung quanh cổ chân. Nếu ép khơng đúng và q mạnh

lên cổ chân thì phù có thể xuất hiện ở cạnh chỗ bǎng bó. Nâng cao chân bị

thương sẽ thúc đẩy việc trở về của máu tĩnh mạch vì giảm áp lực tĩnh mạch ở

ngọn chi dưới, do đó sẽ làm giảm phù. Khi ngồi, bệnh nhân phải ở tư thế cổ

chân được nâng lên tới mức xương chậu. Một phương pháp có hiệu quả là kết

hợp chườm lạnh và ép, bằng cách nhúng một hoặc vài bǎng hình con "át",



65

trong nước đá rồi áp ngay vào cổ chân sau khi bị chấn thương. Bǎng buộc vào

cổ chân sau khi cuốn một hai vòng rồi đặt vào trong bǎng một ít đá. Sau khi lấy

đá lạnh ra, có thể tiếp tục bǎng khơ.

Lựa chọn nạng thích hợp và hướng dẫn cách sử dụng đúng có tầm quan

trọng đặc biệt đối với việc điều trị và phục hồi chức nǎng. Nạng chỉ giúp bệnh

nhân di chuyển an tồn trong thời kỳ dưỡng bệnh nếu nó được sử dụng đúng.

Nếu nạng quá ngắn đối với bệnh nhân thì sẽ khơng có tác dụng mang trọng

lượng cơ thể. Đơi nạng quá dài ǎn khít vào hố nách sẽ làm cǎng nách và có thể

gây ra tổn thương thần kinh-cơ. Việc điều chỉnh cho thích hợp cần được thực

hiện bởi nhân viên có kinh nghiệm.

Vì đi lại sớm là yếu tố then chết để hồi phục nhanh và hoàn toàn sau khi

bị tổn thương cổ chân, đeo cổ chân sao cho vẫn gập về phí mu chân và cả về

phía gan bàn chân, nhưng hạn chế xoay vào trong hay ra ngồi thì rất tốt. Dây

đeo ép bơm hơi rất hữu dụng vì nó đủ chắc để giữ lực phía bên và giữa, trong

khi vẫn có thể thích nghi về giải phẫu học khớp cổ chân và giảm phù nề. ở

những bệnh nhân có tổn thương độ I và II, đi lại thường có thể bắt đầu ngay từ

khi có thể đứng được mà khơng thấy đau. Ngồi ra, vì dây đeo có thể tháo ra

một cách nhanh chóng nên đắp đá lạnh hay nóng cũng rất dễ dàng.

Một điều quan trọng về điều trị nhưng thường không chú ý là phải chǎm

sóc liên tục và đầy đủ. Sau khi đánh giá sơ bộ, bệnh nhân cần được thǎm khám

lại vào 48 giờ sau và một đến hai tuần sau khi bị thương.

Việc đánh giá lại tổn thương là phải khẳng định chắc chắn rằng bong gân

đang lành và bệnh nhân đang chấp hành những điều cǎn dặn.

Phục hồi chức nǎng

Việc chuyển từ giai đoạn cố định sang giai đoạn phục hồi chức nǎng là

một quá trình từ từ. Ngay khi thấy khơng còn đau lúc nghỉ, có thế bắt đầu tập



66

vận động dần và thường được tập tǎng dần lên với xoa lạnh hay nóng. Dần dần

bệnh nhân tiến lên đi bộ hay chạy. Khi dây chằng đang lành, giữ trương lực cơ

tốt sẽ hỗ trợ thêm cổ chân. Như vậy, phục hồi chức nǎng nhằm giữ trương lực

cơ bằng cách sử dụng những luyện tập đặc biệt.

Cũng như việc điều trị cấp tính, những luyện tập phục hồi chức nǎng

phụ thuộc vào mức độ tổn thương. Với tổn thương độ I, phục hồi bắt đầu

trong lần đến khám đầu tiên. Bệnh nhân thực hiện đi nạng và được hướng dẫn

lự giữ trọng lượng cơ thể một phần. Điều này giúp duy trì sức mạnh của các cơ

gấp và cơ duỗi. Sau 48 giờ, bệnh nhân được hướng dẫn vận động nhiều hình

thức và tập luyện đẳng trường (isometric exercises).

Các tập luyện đẳng trường cũng có thể được bắt đầu. Bản thân khớp cổ

chân không di chuyển trong quá trình tập luyện, nhưng lực tác động qua bàn

chân y như có thể di chuyển cổ chân theo hướng đặc biệt đó.

Với những tổn thương độ II, khơng chấp nhận việc mang trọng lượng cơ

thể trong khoảng 48 giờ hay cho đến khi đứng khơng còn thấy đau nữa. Vào

lúc đó, khuyến khích mang trọng lượng một phần với nạng. Cũng như với tổn

thương độ I, nếu thấy khó chịu hay sưng thì dừng lại các luyện tập đẳng

trương. Một khi đau và sưng giảm xuống, thường trong ít ngày, luyện tập đẳng

trường có thể bắt đầu như đối với tốn thương độ I.

Xử trí các tổn thương cổ chân độ III phải thực hiện theo ý kiến các

chuyên gia chỉnh hình thích hợp.

Trong q trình nghiên cứu trên 44 hồ sơ bệnh án có chẩn đốn chấn

thương khớp cổ chân đơn thuần hay kết hợp, luận án tổng hợp được những

phương pháp, phác đồ chủ yếu sau đã sử dụng để điều trị, phục hồi chấn

thương khớp cổ chân cho vận động viên và người tập thể thao.

Bước 1. Thăm khám, chẩn đoán và phân loại chấn thương khớp cổ chân.



67

Bước 2. Tùy theo chẩn đoán, bệnh nhân nhập viện được chia làm 2

nhóm: điều trị ngoại khoa và điều trị nội khoa, vật lý trị liệu phục hồi chức

năng. Trong số các bệnh án luận án tiếp cận được, phần lớn là điều trị bảo tồn,

nên phác đồ sử dụng chỉ dùng cho các trường hợp bị chấn thương độ I và độ

II, cùng với một số chấn thương kết hợp không quá phức tạp.

Bước 3. Phương pháp, phác đồ điều trị cho bệnh nhân không phẫu

thuật.

a) Các bài tập Isometric.

Bài tập với khớp xương bất động (isometric exercise, ISME): tạo ra sức

căng cơ nhưng không thấy cử động tại khớp xương (no visible joint

movement).

Các bài tập Isometric có ưu điểm đặc biệt vì có thể áp dụng ngay cho

vận động viên chấn thương hệ cơ - xương - khớp trong những ngày đầu tiên,

ngay cả khi vận động viên cần phẫu thuật hoặc mang dụng cụ bất động khớp.

Việc tính tốn đưa ra cường độ bài tập phù hợp và đúng cách với từng bệnh

nhân cụ thể là một trong những điểm mới của công tác phục hồi sau chấn

thương thể thao [20].

b) Các bài tập Isokinetic.

Việc áp dụng các bài tập Isokinetic đòi hỏi thiết bị đặc biệt, hiện đại.

Bài tập phục hồi chức năng (PHCN) cơ lực quanh vùng khớp cổ chân

sau chấn thương có bất động khớp và teo cơ trên trung bình trên hệ thống

Isokinetic-Biodex

Ngun tắc chung:

- Khơng có một bài tập cụ thể chung cho các bệnh nhân, việc áp dụng

bài tập đối với từng bệnh nhân cần căn cứ theo tình trạng bệnh nhân tại thời

điểm thăm khám hiện tại.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×