Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
sử dụng trong điều trị chấn thương khớp cổ chân

sử dụng trong điều trị chấn thương khớp cổ chân

Tải bản đầy đủ - 0trang

52

2.2.6. Phương pháp thử nghiệm lâm sàng

Luận án tiến hành nghiên cứu trên hồ sơ bệnh án của VĐV và người

tập thể thao giai đoạn 2014-2015 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Thể

thao Việt Nam với chẩn đoán là chấn thương khớp cổ chân. Sau đó luận án

tiến hành nghiên cứu trên khách thể là vận động viên đến khám và điều trị

cũng với chẩn đoán là chấn thương khớp cổ chân từ tháng 1/2016 đến tháng

12/2017 với phác đồ điều trị mới. Sau đó đánh giá thời gian hồi phục tại

nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng (nhóm hồi cứu) [9], [13], [16].

2.2.7. Phương pháp tốn học thống kê

Sử dụng phần mềm SPSS phân tích thống kê tìm ra các chỉ số thống kê

trên cơ sở các số liệu thu được. Trong quá trình xử lý số liệu, luận án sử dụng

một số phương pháp phân tích cơ bản như sau:

- Phân tích thống kê mơ tả (Descriptive Analysis): Sử dụng phân tích

thống kê mơ tả để phân tích giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm, phương sai....

của các số liệu thu thập để phân tích các vấn đề cơ bản của luận án.

- Phương pháp phân tích độ tin cây Cronbach’s alpha: Phương pháp

phân tích độ tin cậy Cronbach’s alpha là chỉ số đánh giá sự thống nhất nội tại

trong tập biến quan sát đo lường khái niệm, còn gọi là đánh giá độ tin cậy

của thang đo khái niệm. Kỹ thuật này chủ yếu được sử dụng trong các nghiên

cứu cơ bản để loại bớt các biến quan sát (đo lường) không đạt yêu cầu. Một

thang đo khái niệm được gọi là “đạt độ tin cậy” khi đảm bảo đạt 02 yêu cầu

đồng thời, đó là hệ số tin cậy Cronbach’s alpha đạt giá trị tối thiểu là 0,6 (nếu

đạt từ 0,8 – 1 là thang đo tốt) và các tương quan biến tổng khơng nhỏ hơn

0,3 (Nunnally and Bernstein, 1994) [3627]. Ngồi ra, khi sử dụng kỹ thuật

phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cần lưu ý các vấn đề sau:

1) Hệ số tin cậy Cronbach’s alpha chỉ dùng để đánh giá thang đo đơn

hướng (một thành phần);



53

2) Nếu hệ số Cronbach’s alpha khi loại biến cao hơn hệ số Cronbach’s

alpha tổng thì có thể xem xét loại biến đó để tăng hệ số Cronbach’s alpha tổng;

3) Hệ số Cronbach’s alpha không nên quá cao, nếu cao hơn 0,95 thì

nên xem xét lại thang đo, nhưng điều này chỉ có thể kết luận là thang đo

chưa tốt chứ không phải là “không được chấp nhận”.

- Phương pháp kiểm định Wilcoxon

Sử dụng phương pháp này để kiểm định sự khác biệt của qua 02 lần

khảo sát chuyên gia để xác định hệ thống các phương pháp điều trị, bài tập

hồi phục cho các VĐV và người tập thể thao:

-Nếu Sig.<0,05 có nghĩa rằng kết quả hai lần khảo sát có sự khác biệt.

-Nếu Sig.>0,05 có nghĩa rằng kết quả hai lần khảo sát khơng có sự khác

biệt [36].

2.3. Tổ chức nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học TDTT TP.HCM, Bệnh viện Thể

thao Việt Nam: Thu thập số liệu, khám sức khỏe định kỳ và tiến hành điều trị

những chấn thương của VĐV.

Các bệnh viện, cơ sở đào tạo vận động viên có vận động viên bị chấn

thương khớp cổ chân được điều trị phục hồi chức năng theo các phương

pháp khác, phác đồ được điều trị tại Bệnh viện Thể thao trước tháng 1/2016

với phác đồ được lựa chọn của luận án luận án.

Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 8/2015 đến tháng 3/2016: Lựa chọn luận án, xây dựng và bảo

vệ đề cương nghiên cứu trước Hội đồng khoa học của trường ĐH TDTT TP.HCM.

Từ tháng 11 năm 2015 tới tháng 3 năm 2016:

Hội thảo các chuyên gia y học thể thao, huấn luyện viên, bác sỹ, kỹ

thuật viên vật lý trị liệu, phục hồi chức năng nhằm thảo luận, lựa chọn các

phác đồ điều trị, đặc biệt là các bài tập kết hợp với lý liệu pháp trong phục



54

hồi chức năng khớp cổ chân cho vận động viên.

Tập huấn cho huấn luyện viên, kỹ thuật viên vật lý trị liệu phục hồi

chức năng các kỹ thuật cơ bản khi thực hiện các phác đồ điều trị đã được lựa

chọn.

Thông qua kế hoạch triển khai nghiên cứu tại bệnh viện Thể thao Việt Nam.

Từ tháng 3 năm 2016 tới tháng 11 năm 2017:

Học ngoại ngữ, các chương trình học theo quy định của cơ sở đào tạo

và bảo vệ ba chuyên đề tiến sĩ.

Xây dựng mơ hình nghiên cứu, lựa chọn các bài tập thể dục kết hợp với

lý liệu pháp, triển khai thực nghiệm điều trị phục hồi chức năng cho vận

động viên bị chấn thương chi dưới tại Bệnh viện Thể thao.

Tiến hành thu thập, phân tích, xử lý số liệu từ các nguồn sau: theo dõi

bệnh án lâm sàng và triển khai nghiên cứu tại Bệnh viện thể thao Việt Nam.

Từ tháng 12/2017 đến tháng 12/2018:

Viết và hoàn thiện luận án.

Xin ý kiến và các nhà khoa học.

Bảo vệ luận án trước Hội đồng cấp cơ sở.



55

Mơ hình nghiên cứu:

Khách thể nghiên cứu

BN CT khớp cổ chân



Nhóm nghiên cứu



Nhóm đối chứng: 44 BN (14

VĐV+ 30 người tập thể thao)



23 BN (VĐV)



Thăm khám chun mơn, lấy

các chỉ số nghiên cứu



Tìm hiểu các chỉ số nghiên

cứu ở bệnh viện TTVN



Tiến hành điều trị theo phác

đồ đã lựa chọn



Đã điều trị theo phác đồ ở

bệnh viện TTVN



Thu thập các số liệu nghiên

cứu



Thu thập kết quả điều trị ở

bệnh viện TTVN



So sánh các số liệu nghiên

cứu và hiệu quả điều trị



Sơ đồ 2.1: Mô hình nghiên cứu



56



CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng chấn thương khớp cổ chân và thực trạng các bài

tập phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV.

3.1.1.Tình hình và đặc điểm chấn thương khớp cổ chân của bệnh

nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện thể thao Việt Nam.

Trong quá trình khảo sát tình hình chấn thương của vận động viên và

người tập thể thao vào điều trị tại Bệnh viện thể thao giai đoạn từ năm 2014

đến cuối năm 2015 trên hàng ngàn bệnh án, luận án đã tổng hợp được 44 hồ

sơ bệnh án, trong đó có 14 vận động viên (chiếm 31,8%) và 30 người tham

gia tập luyện thể thao (chiếm 69,2%) có chẩn đốn liên quan đến chấn

thương khớp cổ chân. Danh sách vận động viên và người tập thể thao bị

chấn thương khớp cổ chân được trình bày tại Phụ lục 3.

Bảng 3.1. Đặc điểm giới tính, lứa tuổi, vị trí chấn thương khớp cổ chân

Vận động viên Người tập thể thao

Tổng số

(n = 14)

(n = 30)

(n = 44)

Tiêu chí, chỉ tiêu

n

Tỷ lệ %

n

Tỷ lệ %

n Tỷ lệ %

Nam

5

35.7

20

66.7

25

56.8

Nữ

9

64.3

10

33.3

19

43.2

Tuổi dưới 20

5

35.8

2

6.7

7

15.9

Tuổi từ 21 - 30

8

57.1

12

40

20

45.5

Tuổi từ 31 - 40

1

7. 1

9

30

10

22.7

Tuổi trên 40

0

0

7

22.3

7

15.9

Chấn thương cổ chân trái 7

50

13

43.3

20

45.5

Chấn thương cổ chân

7

50

17

56.7

24

54.5

phải

(Nguồn tác giả khảo sát)

Kết quả ở bảng 3.1. cho thấy về giới tính với đối tượng là VĐV, tỷ lệ nữ là

64,3% cao hơn tỷ lệ nam VĐV là 35,7%; còn đối với bệnh nhân là người tập thể



57

thao, tỷ lệ ở nam là 66,7% cao hơn ở nữ là 33,6%. Tính chung cả hai đối tượng

thì tỷ lệ về giới tính như sau: nam chiếm 56,8% và nữ chiếm 43,2%. Qua đó có

thể nhận thấy sự khác biệt về giới tính chỉ mang tính ngẫu nhiên, tỷ lệ giữa

bệnh nhân nam và nữ có sự khác biệt không đáng kể.

Về lứa tuổi, đối với bệnh nhân là vận động viên, một sự khác biệt khá rõ

là với xu hướng trẻ hơn rất nhiều so với người bệnh tham gia tập luyện thể

thao, cụ thể tuổi của bệnh nhân – VĐV dao động từ 15 đến 32 tuổi: dưới 20

tuổi chiếm 35,8%, từ 20 đến 30 chiếm tỷ lệ cao nhất là 57,1% và duy nhất 1

VĐV trên 30 tuổi chiếm 7,1%. Trong khi đó, tuổi của những bệnh nhân tham

gia tập luyện thể thao dao động từ 19 đến 55: tuổi dưới 20 chiếm 6,7%, từ 20

đến 30 chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,0%, tiếp theo tuổi từ 30 đến 40 chiếm 30,0%,

và trên 40 chiếm tỷ lệ 22,3%. Đây là sự khác biệt rất đáng quan tâm. Điều này

có ý nghĩa trong việc phòng ngừa chấn thương khớp cổ chân nói riêng và chấn

thương thể thao nói chung đối với vận động viên thành tích cao. Chấn thương

khớp cổ chân chiếm khoảng 15% tổng số chấn thương ở vận động viên, với

23.000 ca chấn thương dây chằng cổ chân được báo cáo mỗi ngày ở Mỹ. Đặc

biệt thường gặp ở mơn bóng rổ, bóng chuyền, bóng đá, nhảy hiện đại và múa

ba lê. Hầu hết bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, nhưng những triệu chứng mãn

tính về đau và mất vững phát triển trong khoảng 20% đến 40% số bệnh nhân.

Về vị trí chấn thương khớp cổ chân khơng có sự khác biệt giữa chân phải

và chân trái với tỷ lệ chia đều là 50% ở đối tượng VĐV, còn ở đối tượng là

người tập thể thao, thì tỷ lệ chấn thương cổ chân phải là 56,7% cao hơn so với

cổ chân trái là 43,3%. Điều này có thể giải thích là phần lớn người tập thể thao

có chân thuận là chân phải, còn VĐV sự khác biệt giữa chân thuận và chân

khơng thuận khơng có ý nghĩa đặc biệt.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

sử dụng trong điều trị chấn thương khớp cổ chân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×