Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

Athletic Injury/Illess Reporting System) [62], [68] chia chấn thương thể thao

làm ba mức độ như sau:

Loại nhẹ: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 7 ngày

Loại vừa: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 7 – 21 ngày

Loại nặng: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 21 ngày

Theo Lyle J.Micheli và Mark Jenking (1995) [73], mức độ chấn thương

được phân loại dựa trên sự đáp ứng của VĐV với vận động thể thao như sau:

Chấn thương nhẹ: VĐV có cảm giác đau sau khi tập. Co cứng cơ trên

vùng bị chấn thương. Khơng sưng nền hoặc sưng rất ít, khơng có hiện tượng

bầm tím.

Chấn thương ở mức độ trung bình: VĐV đau liên tục trước và sau khi

tập và VĐV chỉ tham gia tập luyện được cường độ trung bình. Sưng nền và

bầm tím ở mức độ trung bình.

Chấn thương nặng: Đau liên tục và kéo dài không đỡ, VĐV không thể

tập luyện được do đau. Đau chói khi ấn trên vùng chấn thương, sưng nề và

bầm tím rất rõ.

Về cơ chế sinh bệnh học của chấn thương. Alvarez và cộng sự (1987)

mô tả ba giai đoạn phản ứng của mô bị chấn thương (dây chằng, gân cơ, mô

xương và sụn) như sau:

Giai đoạn viêm cấp (ngay sau chấn thương và trong khoảng 72 giờ sau)

Giai đoạn bắt đầu liên kết xơ hóa (từ giờ thứ 72 sau chấn thương và

kéo dài từ 6 tuần trở lên). Xơ hóa thật sự (từ sau 6 tuần tới nhiều tháng sau).

Cho dù cơ chế chấn thương đơn giản như đi vấp nhẹ trẹo cổ chân, bàn chân

nhưng chớ nên xem thường. Bởi vì lực như thế cũng đủ làm bạn bị gãy

xương mắt cá, tốc khớp, đòi hỏi phải phẫu thuật chỉnh sửa lại. Trong các

trường hợp này, đa số nạn nhân thường cho rằng bị bong gân nhẹ nên hay tự

điều trị theo các phương thức truyền thống như sửa trật đả, đắp lá, bó thuốc



7

rượu,... Ðiều này thường gây ra nhiều biến chứng, hơn nữa nếu để muộn sẽ

khó điều trị hơn rất nhiều.

Phân loại chấn thương khớp cổ chân [3], [26], [30], [33]

Các tốn thương của cổ chân được phân loại theo 2 cách. Chúng ta có

thể mơ tả những thay đổi giải phẫu học trong các dây chằng của cổ chân,

chẳng hạn rách một phần nhỏ, rách một phần lớn hay rách hồn tồn dây

chằng. Cách phân loại có ích hơn đối với thầy thuốc gia đình là dựa trên trạng

thái chức nǎng của khớp cổ chân. Cách phân loại này được trình bày dưới đây.

- Tổn thương độ 1: Rách một phần dây chằng nhưng không đủ mức để

gây ra sự bất ổn của khớp.

- Tổn thương độ 2: Rách một phần dây chằng, nhưng vận động khớp sẽ

khơng bình thường khi cổ chân bị ép mạnh bằng tác động vào khớp.

- Tổn thương độ 3: Rách toàn bộ dây chằng gây bất ổn định thực sự

khớp cổ chân.

1.1.2. Một số chấn thương thể thao và khớp cổ chân thường gặp

[25], [56], [71]

Tập thể dục thể thao là một hoạt động cần thiết của con người nhằm

năng cao chất lượng sức khỏe, chữa bệnh,… nhưng đồng hành cùng nó là

chấn thương, chấn thương khơng loại trừ một ai, không loại trừ một môn

thể thao nào, để hiểu được chấn thương trong thể thao là một điều vô cùng

cần thiết. Trong tập luyện thể dục thể thao các chấn thương phải được giảm

tới mức tối thiểu. Trong công tác phòng ngừa chấn thương cần có sự tham

gia của giáo viên, huấn luyện viên, để đạt hiệu quả cao họ cần phải hiểu biết

thấu đáo đặc điểm, nguyên nhân và điều kiện gây nên các chấn thương khác

nhau.

Các dạng chấn thương: Trong chấn thương thể thao phần đa các chấn



8

thương đều là chấn thương kín như: đụng dập, dãn dây chằng, đứt cơ và dây

chằng. Chấn thương đụng dập thường rơi vào chấn thương khớp (gần 50%),

trong đó có tới 30% là chấn thương khớp gối. Theo vị trí tổn thương, trong

thể thao thường gặp các chấn thương tứ chi trong đó có 80% là chấn thương

khớp chủ yếu là khớp gối và khớp cổ chân. Trong thể dục dụng cụ thường

gặp các chấn thương chi trên (gần70%), nhưng đại đa số các mơn thể thao

thì chấn thương chi dưới gặp nhiều hơn. Nếu so sánh, tỷ lệ gãy xương, sai

khớp của thể thao lớn hơn 8 – 10 lần các hoạt động phi thể thao [4]

Những chấn thương thường gặp trong tập luyện TDTT và cách xử trí ban đầu:

Sai khớp: Là sự dịch chuyển của 2 đầu xương và diện khớp vượt quá

giới hạn của cấu trúc giải phẫu cho phép và diện khớp mất đi sự tiếp xúc. Sai

khớp có thể gây rách bao khớp, đứt dãn dây chằng, gây tổn thương phần

mềm. Sai khớp có thể hoàn toàn hoặc một phần.

Triệu chứng: Đau mạnh ở vùng khớp, chi bị sai. Mọi cố gắng để đưa chi

trở lại vị trí bình thường rất khó khăn và gây đau đớn. Khi quan sát so sánh ta

nhận thấy hình dạng khớp thay đổi. Phương pháp sờ nắn đôi khi có thể xác

định được đầu xương sai lệch còn ở vị trí thơng thường xuất hiện rãnh lõm.

Sơ cứu ban đầu: Cố gắng giữ bất động hoàn toàn chi bị sai khớp ở vị trí

thuận lợi nhất. Nếu nặng sử dụng nẹp chuyên dùng để cố định, sau đó nhanh

chóng chuyển tới cơ sở y tế. Tuyệt đối nghiêm cấm việc cố gắng phục khớp

của bạn tập, hoặc người không có chun mơn vì rất dễ dẫn tới những tổn

thương phụ.

Gãy xương: Là sự phá hủy cấu trúc giải phẫu bình thường của xương

dưới tác động của lực cơ học trực tiếp hay gián tiếp gây nên, thường với

xương bị gãy bao giờ cũng gây tổn thương cho các tổ chức cơ, gân, dây

chằng, thần kinh và mạch máu bao quanh. Gãy xương thuộc loại chấn

thương nặng, có gãy xương hồn tồn và gãy xương khơng hồn tồn.



9

Triệu chứng: Thường chính nạn nhân cũng xác định được mình bị gãy

xương vì ở thời điểm gãy nghe tiếng gãy và tiếng lạo xạo, cảm giác đau buốt

tăng lên rất nhanh khi cố gắng chuyển động. Gãy xương làm thay đổi độ dài,

tại điểm gãy tạo thành khớp giả, vùng tổn thương sưng tấy, nề. Đặt tay lên

vùng nghi vấn lay nhẹ cảm giác lạo xạo xuất hiện. Trường hợp gãy xương hở

đầu xương gãy gây tổn thương phần mềm và da. Phương pháp chung và

chuẩn xác nhất là chụp X quang.

Sơ cứu ban đầu: Trường hợp gãy xương hở ngoài việc bất động cần

tiến hành cầm máu và sử lý sơ bộ vết thương. Khi bất động cần lưu ý phải bất

động hai khớp về phía hai đầu gãy của xương trong trường hợp khơng có nẹp

có thể cố định chi trên vào thân mình, chi dưới vào chân còn lành.

Bong gân: Đây là dạng chấn thương khá phổ biến. Hiện tượng căng

hoặc rách dây chằng gây nên những cơn đau nhói và sưng tấy ở các khớp bị

tổn thương. Các biểu hiện của bong gân rất giống với gãy xương.

Triệu chứng: Khi bị bong gân, người tập cảm thấy đau nhói như điện

giật ở vùng khớp bị trẹo. Sau đó, khớp tê dại khơng còn đau nữa. Khoảng 1

giờ sau, cảm giác đau nhức dần dần trở lại. Nếu bong gân ở bàn chân, mắt cá

chân, người tập sẽ không bước đi được nữa, phải đặt bàn chân nằm xuống

đất.

Xử trí ban đầu: Nên chườm lạnh bên ngồi bằng nước đá (hoặc nước

lạnh) trong 4 giờ đầu. Việc chườm đá làm dịu đau và co mạch, ngưng chảy

máu, bớt phù nề. Và sau ngày thứ 2, nên ngâm chỗ bị bong gân trong nước

ấm từ 3-4 lần trong ngày. Ngay sau khi bị bong gân, phải làm ngừng chảy máu

(nếu có) và hạn chế phù nề tối đa. Có thể dùng băng thun băng ép khớp bị

bong gân giúp khớp có chỗ tựa và giữ cố định cho khớp. Có thể dùng Ethyl

clorua xịt vào nơi bong gân để gây tê làm lạnh tại chỗ giúp giảm đau cho

người bệnh. Ngồi ra, có thể dùng thuốc giảm đau, tiện nhất là Alaxan uống



10

1-2 viên/lần, 3 lần trong ngày. Nghiêm cấm dùng rượu, xoa cao vào nơi bị tổn

thương, các chất nóng tác động tại chỗ do những chất này gây chảy máu

mạnh hơn. Những trường hợp bong gân nặng: không cử động được khớp,

dây chằng khớp bị đứt hoàn toàn,… hãy đến ngay cơ sở y tế để khám và điều

trị.

Đau cơ: Những cơn đau nhức mà người tập phải trải qua sau khi tập

luyện vốn thường xảy ra vào ngày hôm sau, ngay cả khi chỉ thực hiện những

bài tập với cường độ nhẹ nhàng. Nguyên nhân: Do mới tập luyện, hoặc tập

luyện không thường xuyên. Cách khắc phục: Nghỉ ngơi, xoa bóp nhẹ nhàng

vùng cơ bị đau và chế độ ăn uống cân đối sẽ giúp loại bỏ được cơn đau. Duy

trì lượng vận động đều đặn, hoặc tăng dần với khối lượng thích hợp.

Chuột rút (vọp bẻ). Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến

chuột rút. Xảy ra trong hoặc sau khi tập luyện, sự co thắt tình cờ và gây đau

đớn của cơ bắp là dấu hiệu cho thấy người tập đã tập luyện quá sức (thời

gian tập quá lâu hoặc cường độ tập quá nặng). Cách khắc phục: Khi bị chuột

rút chúng ta sẽ cảm thấy đau. Để nhanh chóng thốt khỏi tình trạng này, bạn

cần làm ngay những bước sau:

- Kéo giãn phần cơ bị đau để chống lại sự co cơ do bị chuột rút gây

nên.

- Nằm thẳng lưng, duỗi thẳng chân, gập bàn chân về phía người. Giữ

nguyên tư thế này trong khoảng vài giây.

- Xoa bóp nhẹ nhàng phần cơ bị chuột rút. Cần xoa bóp phần bắp chân

từ dưới lên trên để giúp máu lưu thông.

1.1.3. Các nguyên nhân chấn thương thể thao thường gặp [4], [28],

[70], [80]

Theo nhiều nghiên cứu, nguyên nhân gây ra chấn thương gồm:

Việc huấn luyện dồn ép, việc sử dụng thường xuyên lượng vận động



11

lớn với công suất cực hạn và dưới cực hạn; sự thiếu hiểu biết trong việc sử

dụng các phương pháp thúc đẩy phục hồi trong và sau khi luyện tập.

Không đánh giá đúng ý nghĩa của việc tập luyện thường xun có hệ

thống và tính kế thừa trong q trình huấn luyện kỹ thuật.

Việc áp dụng các bài tập mà cơ thể người tập chưa có sự chuẩn bị cần

thiết về thể lực hay mỏi mệt của buổi tập trước chưa được khắc phục.

Không áp dụng, áp dụng sai phương pháp bảo hiểm; khởi động không

đủ hay không hợp lý (đây là nguyên nhân thường gặp).

Không đáp ứng đầy đủ vật chất kỹ thuật của buổi tập (có thể dẫn tới

25% các chấn thương).

Điều kiện khí hậu, điều kiện vệ sinh không phù hợp (là nguyên nhân

của từ 2% - 6% các chấn thương).

Hành vi của người tập không đúng đắn (là nguyên nhân dẫn tới 5 -15%

số chấn thương). Biểu hiện: Sự vội vàng, thiếu tập trung chú ý, thiếu ý thức

tổ chức kỷ luật, thiếu đạo đức trong luyện tập và thi đấu.

Tuổi và giới tính: chấn thương có tỷ lệ cao hơn ở phụ nữ và tuổi càng

cao nguy cơ chấn thương càng nhiều. Tuy vậy theo nghiên cứu của K.S Clacke

và W.E Backly (1980), R.R Lanese và cộng sự (1990) khi nghiên cứu ở các

Trung tâm huấn luyện qn đội Mỹ thấy rằng khơng có sự khác nhau giữa tỷ

lệ chấn thương giữa nam và nữ trong tập luyện.

Trình độ tập luyện: Trình độ tập luyện của VĐV yếu sẽ dễ dàng dẫn đến

chấn thương trong khi luyện và thi đấu. Điều này được thể hiện rõ rệt trong

thi đấu thể thao. Theo Douglas B. Mc Keag và cộng sự, David O. Hough và

cộng sự (1993) thì tỷ lệ chấn thương tăng khoảng 2 tới 4 lần trong thi đấu khi

so với khi tập luyện.

Các giai đoạn trong quá trình tập luyện và thi đấu: các trường hợp

chấn thương có tỷ lệ cao ở thời kỳ đầu và thời kỳ cuối của chu kỳ huấn luyện.



12

Đây là các thời điểm có các biến đổi về lượng vận động và khả năng thích

nghi của VĐV. Tác giả Joseph J.Knappik and Rebecca L. McCollam thấy rằng

việc thực hiện các bài tập thể lực khi hệ cơ xương khớp chưa có sự thích nghi

đầy đủ với các u cầu vận động được đề ra là một yếu tố tất yếu đưa tới

chấn thương. Theo các tác giả B. H. Jones và cộng sự (1993); J. J. Knapik và

cộng sự (1999), ln có một mối tương quan tỷ lệ giữa việc tăng khối lượng

tập luyện với việc tăng tỷ lệ chấn thương ở VĐV.

Do sai sót trong khởi động trước khi tập luyện và thi đấu: các tác giả

Lyle J.Micheli and Mark Jenking cho rằng việc tập các bài tập nâng cao độ

mềm dẻo và căng cơ là biện pháp cơ bản phòng tránh chấn thương.

Yếu tố tâm lý: Căng thẳng tâm lý do sức ép của chế độ tập luyện hoặc

thành tích thi đấu là một yếu tố dễ gây chấn thương cho VĐV. Nghiên cứu

của J. J. Knapick và cộng sự (1999) cho thấy ở các đối tượng tham gia tập

luyện với sự hứng thú và tâm lý tốt sẽ ít bị chấn thương hơn các đối tượng khác.

Các nguyên nhân do trang thiết bị tập luyện và thi đấu: Bao gồm tất cả

các điều kiện trang thiết bị không phù hợp cho tập luyện và thi đấu, như: giày

thi đấu không vừa hoặc lâu không được thay thế, quần áo trang phục không

phù hợp với thời tiết, hệ thống chiếu sáng không đủ gây hạn chế tầm quan

sát của VĐV, sân bãi kém chất lượng… Theo nghiên cứu của Dr. Lytt Gardner

(1988), giày tập là một yếu tố quan trọng gây chấn thương. Các nguyên nhân

khách quan do thời tiết, khí hậu: nhiệt độ - độ ẩm - ánh sáng, lượng oxy

khơng khí, độ cao, sự thơng gió… dẫn đến chấn thương của VĐV. Theo kết

quả nghiên cứu của J. J. Knapik và cộng sự (2004), các chấn thương hay gặp

hơn trong khi tập luyện dưới điều kiện thời tiết nóng.

1.2. Đặc điểm giải phẫu khớp cổ chân [12], [8],[13], [15], [32]

Ba xương tạo thành khớp cổ chân: xương mác, xương chầy ở cổ chân

và xương sên ở dưới. Góc tạo bởi mặt xương chầy và xương mác được coi



13

như mộng của cổ chân. Mặt khớp của xương sên hình cái chêm, với đường

kính ngang-trước rộng hơn đường kính sau như ở hình 1.1.



Hình 1.1: Khớp cổ chân và bàn chân, nhìn từ trên xuống

Vì vậy, khi bàn chân ở tư thế gập về phía mu bàn chân, phần rộng nhất

của xương sên ǎn khớp vào mộng một cách khít khao, tǎng thêm sự ổn định

của khớp vào. Nếu bàn chân ở tư thế gập về phía gan bàn chân, phần hẹp

nhất của xương sên sẽ ǎn khớp vào mộng, gây ra khớp lỏng lẻo hơn và tính

ổn định của khớp giảm xuống.

Khớp có chân được ổn định bởi các dây chằng bên và giữa. Dây chằng

bên là: dây chằng mác - sên trước, dây chằng mác-gót và dây chằng mác-sên

sau. Dây chằng bên tương đối chùng và cho phép quay bàn chân vào phía

trong rất nhiều. Chúng được thể hiện ở hình 1.2.

Ở mặt giữa của cổ chân có các dây chằng delta nơng và sâu, chúng nối

xương chầy với xương sên, xương thuyền (navicular) và xương gót. Dây delta

nơng gồm ba dây chằng: dây chầy-thuyền, dây chầy-gót, dây chầy-sên nơng.

Dây delta sâu gồm có dây chằng chầy-sên trước và dây chằng chầy-sên sau.

Các hình 1.3 và hình 1.4 trình bày các dây chằng giữa của cổ chân.



14



Giây chằng

mác - sên

trước

Giây chằng

mác - sên sau



Giây chằng mácgót



Hình 1.2: Nhìn bên các dây chằng cổ chân



Giây chằng

chầy- sên

trước



Giây chằng

chầy- sên sau



Hình 1.3: Nhìn giữa các dây chằng delta sâu



15



Giây

chầythuyền

Giây

chầy-sên

nơng



Giây

chầy-gót



Hình 1.4: Nhìn giữa dây chằng delta nơng

Chạy qua khớp có một số gân giúp cho việc gấp, duỗi cũng như lật vào

hay lật ra của bàn chân. Các gân này có tác dụng như một hệ thống phụ trợ

cho khớp cổ chân.



Hình 1.5: Mặt trước khớp cổ chân

- Hình 5 là Hình ảnh X-Quang mặt trước của cổ chân. L- Mắt cá ngoài;

M- Mắt cá trong; T- Xương sên; F- Khớp chày mác dưới.

- Quan sát màng hoạt dịch trên cổ của xương sên.



16

- Diện khớp trước của xương sên và xương gót lồi từ bên này sang bên

kia làm bàn chân có thể xoay ngược tại khớp cổ chân ngang.

- Lưu ý những liên hệ của các gân với mỏm đỡ xương sên: Cơ gấp ngón

cái dài phía dưới, cơ gấp các ngón chân dài phía trong và cơ chày trước phía

trên và với dây chằng delta.



Hình 1.6: Mặt sau của khớp cổ chân

- Mặt sau của khớp cổ chân (Hình 6 và 7) được làm vững bởi các dây

chằng chày – mác sau và sên – mác.

- Dây chằng gót – mác giữ vững khớp phía ngoài và dây chằng chày –

sên sau và chày – gót cùng các phần dây chằng delta giữ vững khớp bên

trong.

- Rãnh gân cơ gấp ngón cái dài ở giữa các củ trong và ngoài của xương

sên và liên tiếp với mỏm đỡ xương sên.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×