Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Danh mục các biểu đồ

Danh mục các biểu đồ

Tải bản đầy đủ - 0trang

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình đào tạo VĐV là quá trình huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, thể

lực và tâm lý cho VĐV tuy nhiên để có được thành tích cao thì cần chuẩn bị

cho VĐV nhiều yếu tố khác bao gồm: dinh dưỡng, khoa học công nghệ, y học

và đặc biệt là hồi phục khả năng vận động… Trong quá trình tập luyện và thi

đấu của VĐV, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên vấn đề xảy

ra chấn thương nói chung và chấn thương khớp cổ chân nói riêng thường

xun gặp phải. Vấn đề này ln ám ảnh và là nỗi lo sợ thường trực của các

HLV, VĐV vì nó làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tập luyện và thi đấu của

VĐV. Tuy nhiên, trong thực tế việc chú trọng phòng ngừa và hồi phục chấn

thương cho VĐV chưa được quan tâm đúng mức.

Phục hồi chức năng vận động có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng

trong quy trình đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao ở nhiều nước

trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Để đạt được thành tích thể thao, VĐV

phải chịu được lượng vận động lớn, trình độ thể lực, kỹ chiến thuật cao, tâm

lý vững vàng, các chức năng vận động đến ngưỡng giới hạn thậm chí có thời

điểm vượt ngưỡng cơ thể của con người do đó trong q trình tập luyện và

thi đấu không tránh khỏi những chấn thương đặc biệt là chấn thương khớp

cổ chân. Đây cũng là một trong những loại chấn thương hay xảy ra đối với

VĐV của các môn thể thao. Vì vậy, vấn đề hồi phục chấn thương có vai trò

quan trọng như chính sự tập luyện và thi đấu của VĐV.

Có thể nói tập luyện và hồi phục là hai mặt của một quá trình thống

nhất. Sự thống nhất và tương tác ảnh hưởng của tập thể lực và các quá tình

hồi phục là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả tập luyện. Dưới ảnh

hưởng của tập luyện thể lực, trong cơ thể diễn ra đồng thời hai q trình là

hồi phục và thích nghi. Do vậy, phục hồi chức năng có vai trò đặc biệt quan



2

trọng trong chu kỳ huấn luyện vận động viên.

Trong tập luyện và thi đấu thể thao, chấn thương bộ máy vận động nói

chung và chấn thương khớp cổ chân nói riêng thường xuyên xảy ra, điều này

ảnh hưởng rất lớn đến thành tích của VĐV, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt từ

phía các nhà quản lý, các huấn luyện viên, bác sĩ thể thao và chính bản thân

các vận động viên. Hầu hết các vận động viên đều có thể bị chấn thương

trong q trình tập luyện và thi đấu. Các nguyên nhân gây ra chấn thương

thường là tình trạng q tải hệ vận động, sự tích tụ các vi chấn thương dẫn

đến thối hóa trong các cấu trúc fibrin: gân, dây chằng, bao khớp, cơ, sụn và

xương. Hiểu được bản chất vấn đề này có vai trò rất quan trọng trong việc

tìm kiếm các giải pháp điều trị và phục hồi phù hợp cho các vận động viên

sau chấn thương.

Trước đây người ta quan niệm rằng, chữa trị và phục hồi là hai giai

đoạn khác nhau trong xử lý chấn thương thể thao. Ngày nay, quan niệm này

đã được thay đổi. Chữa trị và hồi phục phải được thực hiện đồng thời. Thực

hiện các biện pháp hồi phục sớm sẽ tránh được các biến chứng gây cản trở

quá trình hồi phục, sớm đưa VĐV trở lại tập luyện và thi đấu. Ngay cả khi

những chấn thương đã được xử lý tốt bằng phẫu thuật hoặc bằng các

phương pháp khác nhưng phương pháp hồi phục không đúng và kịp thời

cũng có thể đưa tới kết quả khơng như mong muốn. Khác với những tiêu

chuẩn lành bệnh khác, quá trình điều trị chấn thương thể thao cho vận động

viên chỉ thực sự được coi là triệt để khi vận động viên có thể quay trở lại tập

luyện tích cực và đạt thành tích thể thao cao.

Chấn thương khớp cổ chân là loại chấn thương phổ biến và ảnh hưởng

nhiều đến hiệu quả tập luyện và thi đấu của VĐV. Do vậy, luận án tiến hành

nghiên cứu: “Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các bài tập kết hợp vật lý

trị liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho



3

vận động viên”.

Những vấn đề cần đặt ra khi nghiên cứu vấn đề này là làm rõ các yếu

tố nguy cơ và đặc điểm chấn thương khớp cổ chân của các vận động viên

đồng thời đánh giá hiệu quả của các phác đồ điều trị phục hồi chức năng

bằng sử dụng các bài tập kết hợp vật lý trị liệu nhằm nâng cao hiệu quả điều

trị phù hợp với đặc điểm chấn thương và thể chất của vận động viên.

Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá thực trạng chấn thương và phương pháp điều trị chấn

thương khớp cổ chân của VĐV, trên cơ sở đó chọn lựa phác đồ điều trị, phục

hồi hiệu quả chức năng vận động của khớp cổ chân cho VĐV.

Mục tiêu nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án thực hiện các

mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng chấn thương khớp cổ chân và thực

trạng các bài tập phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho

VĐV.

Mục tiêu 2: Lựa chọn và xây dựng phác đồ các bài tập kết hợp vật lý trị

liệu phục hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV.

Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả tổ hợp các bài tập kết hợp

vật lý trị liệu phục hồi chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV.

Giả thuyết khoa học của luận án

Chấn thương là hiện tượng thường gặp trong huấn luyện và thi đấu

thể thao. Nhiều trường hợp chấn thương ảnh hưởng tới tuổi thọ thể thao

của VĐV.

Phục hồi chức năng vận động có vai trò đặc biệt quan trọng trong quy

trình đào tạo VĐV để thúc đẩy quá trình phục hồi chức năng, việc lựa chọn,

ứng dụng các bài tập phục hồi có vị trí quyết định. Trên cơ sở đánh giá thực



4

trạng chấn thương khớp cổ chân và thực trạng các bài tập phục hồi chức

năng sau chấn thương luận án sẽ lựa chọn và ứng dụng các bài tập phục hồi

chức năng sau chấn thương khớp cổ chân theo hướng phối hợp các loại hình

vật lý trị liệu trong điều trị chấn thương cho VĐV. Các bài tập mà luận án tìm

ra và ứng dụng sẽ đảm bảo tính khoa học, rút ngắn thời gian điều trị mang lại

hiệu quả tốt hơn trong hồi phục chấn thương cho VĐV.



5

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.Một số vấn đề về chấn thương và chấn thương khớp cổ chân ở vận

động viên.

1.1.1.Khái niệm về chấn thương và chấn thương thể thao

Chấn thương đó là sự tổn thương cấu trúc giải phẫu bình thường của

tổ chức do tác động bên ngoài gây nên kéo theo sự giảm, rối loạn hay mất đi

chức năng sinh lý bình thường của tổ chức đó [13314] [29]

Chấn thương khớp đó là tình trạng mất tương quan bình thường của

mặt khớp, hai mặt khớp bị xê dịch ra khỏi vị trí bình thường. Ngun nhân do

lực tác động lớn làm đứt, rách bao khớp và dây chằng quanh khớp. Biểu hiện:

đau dữ dội sau chấn thương, có thể nghe tiếng “bực” hay “rắc”, khớp mất khả

năng vận động, biến dạng: nhát rìu, dấu hiệu lò xo. Ngồi ra có thể sưng bầm

quanh khớp với nhiều mức độ khác nhau [24], [29]

Theo Lyle J.Micheli and Mark Jenking (1995) và Ủy ban Olympic quốc

tế IOC [60] [70] Chấn thương thể thao là những tổn thương do những hoạt

động thể thao gây ra sự giới hạn hay sự tạm ngưng khả năng tham gia các

hoạt động thể thao của VĐV. Chấn thương thể thao có thể do một chấn

thương đơn thuần hay do những chấn thương nhẹ lặp đi lặp lại của tình

trạng quá tải của một phần cơ thể.

Chấn thương thể thao bao gồm chấn thương cấp tính và mãn tính.

Chấn thương cấp tính trong thể thao là các chấn thương xảy ra đột

ngột, có hiện tượng chảy máu trong tổ chức cơ, sưng nóng đỏ đau. Những

dấu hiệu này thường là hậu quả của gẫy xương, rách tổ chức cơ, gân và dây

chằng.

Hệ thống theo dõi chấn thương thể thao Quốc gia (Mỹ) (National



6

Athletic Injury/Illess Reporting System) [62], [68] chia chấn thương thể thao

làm ba mức độ như sau:

Loại nhẹ: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 7 ngày

Loại vừa: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 7 – 21 ngày

Loại nặng: là những chấn thương làm giới hạn thi đấu trong 21 ngày

Theo Lyle J.Micheli và Mark Jenking (1995) [73], mức độ chấn thương

được phân loại dựa trên sự đáp ứng của VĐV với vận động thể thao như sau:

Chấn thương nhẹ: VĐV có cảm giác đau sau khi tập. Co cứng cơ trên

vùng bị chấn thương. Không sưng nền hoặc sưng rất ít, khơng có hiện tượng

bầm tím.

Chấn thương ở mức độ trung bình: VĐV đau liên tục trước và sau khi

tập và VĐV chỉ tham gia tập luyện được cường độ trung bình. Sưng nền và

bầm tím ở mức độ trung bình.

Chấn thương nặng: Đau liên tục và kéo dài không đỡ, VĐV không thể

tập luyện được do đau. Đau chói khi ấn trên vùng chấn thương, sưng nề và

bầm tím rất rõ.

Về cơ chế sinh bệnh học của chấn thương. Alvarez và cộng sự (1987)

mô tả ba giai đoạn phản ứng của mô bị chấn thương (dây chằng, gân cơ, mô

xương và sụn) như sau:

Giai đoạn viêm cấp (ngay sau chấn thương và trong khoảng 72 giờ sau)

Giai đoạn bắt đầu liên kết xơ hóa (từ giờ thứ 72 sau chấn thương và

kéo dài từ 6 tuần trở lên). Xơ hóa thật sự (từ sau 6 tuần tới nhiều tháng sau).

Cho dù cơ chế chấn thương đơn giản như đi vấp nhẹ trẹo cổ chân, bàn chân

nhưng chớ nên xem thường. Bởi vì lực như thế cũng đủ làm bạn bị gãy

xương mắt cá, tốc khớp, đòi hỏi phải phẫu thuật chỉnh sửa lại. Trong các

trường hợp này, đa số nạn nhân thường cho rằng bị bong gân nhẹ nên hay tự

điều trị theo các phương thức truyền thống như sửa trật đả, đắp lá, bó thuốc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Danh mục các biểu đồ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×