Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Danh mục các hình vẽ, đồ thị.pdf

Danh mục các hình vẽ, đồ thị.pdf

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, toàn Thế giới đang đứng trước mối đe dọa từ sự bùng nổ của đại

dịch HIV/AIDS. Đại dịch HIV/AIDS đã lan rộng và có mặt ở tất cả các khu vực

trên tồn Thế giới với tốc độ nhanh chóng. Kể từ mẫu máu có HIV dương tính

được phát hiện từ năm 1959 tại Zaize-Châu Phi và bệnh AIDS trên lâm sàng được

phát hiện đầu tiên tại Mỹ năm 1981 thì đến nay trên Thế giới có 33,4 triệu người

nhiễm HIV còn sống.[14]

Việt Nam nằm trong khu vực Nam và Đông Nam Á có tỷ lệ nhiễm

HIV/AIDS cao thứ hai thế giới [14], do đó cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của đại

dịch này. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam có nguy cơ bị

đe dọa bởi sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS. Đại dịch gây ảnh hưởng tới kinh tế

của từng gia đình, cộng đồng, đất nước do làm mất đi một phần nguồn nhân lực,

gây ảnh hưởng tới tâm lý xã hội, do mọi người sợ hãi dẫn đến phân biệt đối xử,

cuộc sống của người nhiễm HIV trở nên căng thẳng, mâu thuẫn dẫn đến tình trạng

mất thăng bằng trong cuộc sống. Gây ảnh hưởng nặng nề cho hệ thống y tế do nguy

cơ lây nhiễm cao trong môi trường y tế, chi phí điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS

vơ cùng lớn.

Những khó khăn đặt ra điều trị HIV/AIDS bằng thuốc ARV ở Việt Nam: Hiện

nay nguồn tiền của Quốc gia chỉ đảm bảo cung cấp thuốc cho khoảng 2.800 bệnh

nhân trên tổng số 35.000 bệnh nhân được điều trị [3]. Trong những năm qua, đa số

chi phí điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS đặc biệt là chi phí cho liệu pháp điều trị

bằng thuốc kháng Retrovirus (thuốc ARV) chủ yếu do các quĩ, các tổ chức chính

phủ và phi chính phủ trên thế giới tài trợ (như: Quĩ Clinton, Quĩ toàn cầu,

PEPFAR,…). Do mỗi dự án được kí kết trong một thời gian xác định nên việc điều

trị cho bệnh nhân HIV/AIDS sẽ khó khăn khi các dự án kết thúc. Chính vì vậy



1



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Chính phủ Việt Nam sẽ phải chủ động hơn trong nguồn kinh phí cũng như trong

việc cung ứng thuốc ARV cho bệnh nhân HIV/AIDS.

Với mong muốn tìm hiểu về các hoạt động quản lý thuốc ARV đã sử dụng

cho bệnh nhân HIV/AIDS tại một Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS những năm

qua, đề tài: “Phân tích thực trạng sử dụng thuốc ARV và thuốc Methadone tại

Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Kạn năm 2013”.

Được thực hiện với hai mục tiêu:

1. Mô tả cơ cấu thuốc ARV và thuốc Methadone đã sử dụng tại trung tâm

phòng chống HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Kạn năm 2013.

2. Phân tích thực trạng kê đơn thuốc ARV cho bệnh nhân nhiễm HIV điều trị

ngoại trú tại tỉnh Bắc Kạn.

Từ kết quả nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị và đề xuất để góp phần nâng

cao hiệu quả điều trị bằng thuốc kháng Retrovirus cho bệnh nhân HIV/AIDS tại

cộng đồng.



2



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Chương 1. TỔNG QUAN

1.1. Tình hình HIV/AIDS trên Thế giới, Việt Nam và vấn đề điều trị bằng

thuốc ARV ở Việt Nam.

1.1.1. Tình hình HIV/AIDS trên Thế giới và Việt Nam

 Tình hình HIV/AIDS trên Thế giới

Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới là nhóm 5 thanh niên

đồng tính luyến ái ở miền Bắc nước Mỹ vào tháng 5 năm 1981. Đến tháng 12 năm

2013 theo UNAIDS & WHO trên thế giới có 35,5 triệu người nhiễm HIV/AIDS

đang còn sống. Số người tử vong do AIDS giảm từ 1,7 triệu người năm 2012 xuống

còn 1,6 triệu người năm 2013. Số người nhiễm mới cũng giảm từ 2,5 triệu người

trong năm 2012, xuống còn 2,3 triệu người năm 2013[13].

 Tình hình HIV/AIDS ở Việt Nam

Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên xuất hiện ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1990,

đến nay HIV/AIDS thực sự trở thành đại dịch, là mối nguy hại về cả kinh tế lẫn xã

hội đối với Việt Nam. Tính đến hết tháng 11 năm 2013, tổng số bệnh nhân đang

nhiễm HIV là 216,254 người, số bệnh nhân đang ở giai đoạn AIDS là 66,533

người, số người nhiễm HIV đã tử vong là 68,977 người. Tỷ lệ nhiễm HIV toàn

quốc theo số báo cáo là 239 người trên 100.000 dân. So sánh số trường hợp được

xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễm HIV 11 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ

năm 2012: Số trường hợp nhiễm HIV giảm 15% (2062 trường hợp), số bệnh nhân

AIDS giảm 16% (1064 trường hợp), tử vong do AIDS giảm 2% (40 trường hợp),

16 tỉnh có số người nhiễm HIV được mới xét nghiệm phát hiện tăng hơn so với

cùng kỳ năm 2012 và 47 tỉnh có số người nhiễm HIV được xét nghiệm phát hiện

giảm.

Tình hình dịch HIV/AIDS tiếp tục có xu hướng giảm, bao gồm giảm số mới

phát hiện nhiễm HIV/AIDS và tử vong, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích

3



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



ma túy và phụ nữ bán dâm tiếp tục giảm. Tuy nhiên tốc độ giảm chậm hơn nhiều so

với những năm trước đây [13].

 Đặc điểm dịch tễ học HIV/AIDS tại Việt Nam.

- Về địa bàn phân bố dịch: Tính đến hết tháng 11 năm 2013 toàn quốc đã

phát hiện người nhiễm HIV tại 79,1% xã/phường (tăng 1,6% so với cuối năm

2012), gần 98% quận/huyện (không thay đổi so với cuối năm 2012) và 63/63 tỉnh

thành phố.

- Người nhiễm HIV theo nhóm tuổi: Số người nhiễm HIV tập trung chủ yếu

ở nhóm tuổi từ 30 - 39 tuổi chiếm 45,1% số người nhiễm HIV và tỷ lệ này không

thay đổi nhiều trong khoảng 5 năm trở lại đây. Tuy nhiên trong năm 2013, hình thái

dịch HIV/AIDS đang có xu hướng “già hóa” trong số người nhiệm HIV được phát

hiện, nguy cơ các trường hợp nhiễm mới HIV đã có sự chuyển dịch từ nhóm tuổi từ

20 - 29 tuổi sang nhóm tuổi 30 - 39.

- Hình thái lây nhiễm HIV: Tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tình dục trong

năm 2013 chiếm 45,0%, tỷ lệ này giảm hơn 0,5% so với cùng kỳ năm 2012; Tiếp

theo là qua đường máu chiếm 42,4% giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2012; Còn lại

là từ mẹ sang con và không xác định rõ đường lây truyền chiếm tỷ lệ rất nhỏ

(12,6%) => Hình thái lây truyền HIV qua đường tình dục tiếp tục có xu hướng

ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn so với qua đường máu. Người nhiễm HIV nhóm

tuổi từ 30-39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất, tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện là nữ

tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây.

- Phân bố theo giới: Đa phần là nam giới, chiếm 67,5% So với năm 2012 và

các năm trước, phân bố theo giới trong năm 2013 có sự thay đổi và có xu hướng

chuyển dịch sang nữ giới. Tỷ lệ nam giới nhiễm HIV giảm 1,0% và tỉ lệ nữ giới

tăng 1,0% so với năm 2012.

- Phân bố theo nhóm đối tượng: Kết quả báo cáo xét nghiệm cho thấy tỷ lệ

nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy có xu hướng giảm, năm 2013 là

4



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



10,3% so với năm 2012 là 11,6% (giảm 1,3%) tiếp theo là nhóm phụ nữ bán dâm,

năm 2013 là 2,6% so với năm 2012 là 2,7% (giảm 0,1%) [12]

- Số bệnh nhân AIDS được điều trị ARV và số ca tử vong do AIDS trên

tồn quốc:



Hình 1.1. Biểu đồ số lượng bệnh nhân AIDS được điều trị ARV và số ca tử vong

do AIDS qua các năm trên toàn quốc[14]

1.1.2. Điều trị HIV/AIDS bằng thuốc Anti Retrovirus.

1.1.2.1. Mục đích và nguyên tắc điều trị.

 Mục đích điều trị:

- Ức chế sự nhân lên của virut và kìm hãm lượng virut trong máu ở mức thấp

nhất;

- Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh NTCH;

- Cải thiện chất lượng cuộc sống và khả năng sống sót cho người bệnh.[2]

 Nguyên tắc điều trị:

- Phải dùng thuốc ARV suốt đời:

5



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Điều trị kháng retrovirus là một phần trong tổng thể các biện pháp chăm sóc

và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV.

Thuốc ARV không chữa khỏi bệnh HIV/AIDS mà chỉ ngăn chặn sự phát

triển của HIV, nhờ đó giúp bảo tồn và tăng cường hệ thống miễn dịch nên người

bệnh phải điều trị kéo dài suốt đời và vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng để

tránh lây truyền virus cho người khác. Nếu ngừng thuốc, bệnh sẽ chuyển thành

AIDS. Kể cả ở những bệnh nhân dùng lại thuốc ARV sau một thời gian ngừng

thuốc thì nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và tử vong rất lớn.

Tải lượng virus tăng lại rất nhanh khi ngừng thuốc ARV: Sau 1,6 đến 2,2

ngày đã tăng gấp đôi và sau khoảng 10 ngày đến 20 ngày thì quay trở lại số lượng

trước khi điều trị.

Vì vậy, việc quyết định khi nào sử dụng thuốc rất quan trọng. Dùng thuốc

sớm ngay khi mới phát hiện cũng khơng có lợi vì ở giai đoạn này bệnh nhân vẫn

sinh hoạt bình thường và quá trình này kéo dài khoảng 10 năm. Nếu bắt đầu điều trị

sớm quá sẽ làm kéo dài quá trình dùng thuốc, kéo theo chi phí thuốc của bệnh nhân

tăng lên, hơn nữa thuốc ARV có rất nhiều tác dụng phụ (ADR) kéo theo bệnh nhân

phải chịu những ADR sớm khi khơng cần thiết. Vì những lý do này nên việc dùng

thuốc càng lâu thì khả năng thành cơng càng ít và dễ tạo thêm chủng kháng thuốc.

Người bệnh điều trị kháng retrovirus khi chưa có tình trạng miễn dịch được phục

hồi vẫn phải điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Do đó, nguyên tắc điều

trị là chỉ chọn những đối tượng có khả năng tn thủ điều trị tốt, khơng được điều

trị nửa vời[2]

- Hạn chế ADR trước mắt và lâu dài:

Thuốc ARV có rất nhiều tác dụng phụ, đặc biệt khi ta sử dụng phác đồ

HAART. Có tới 40% bệnh nhân sử dụng HAART phải ngừng thuốc trong năm đầu

do gặp ADR. Tỷ lệ ADR phụ thuộc vào cơ địa bệnh nhân, tương tác thuốc và bản

thân phân tử thuốc. Những loại ADR nhẹ như ban đỏ, ỉa chảy, mệt mỏi, nhức

6



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



đầu…nếu kéo dài cũng ảnh hưởng khơng nhỏ đến cuộc sống bình thường của bệnh

nhân cũng như sự hòa nhập của bệnh nhân trong cộng đồng. Những độc tính nguy

hiểm như viêm gan, thiếu máu, rối loạn chuyển hóa (nhiễm toan lactic, tăng đường

huyết, tăng lipid huyết…) cần được cân nhắc kỹ trước và trong q trình dùng

thuốc, do đó hiểu rõ ADR và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân là việc cần làm

trước khi lựa chọ phác đồ.

- Không được dùng 1 hoặc 2 thuốc mà phải phối hợp ít nhất 3 loại thuốc:

Từ năm 1986, Zidovudine và lần lượt các thuốc khác đã được sử dụng trong

điều trị nhiễm HIV với mục tiêu: Ức chế quá trình nhân lên HIV (được đánh giá

qua biến động của nồng độ HIV trong máu) và sửa chữa lại những hệ thống miễn

dịch của bệnh nhân (được đánh giá qua biến động của số lượng tế bào CD4). Tuy

nhiên, ngay sau đó hiện tượng kháng thuốc đã xảy ra rất nhanh, sự kháng thuốc của

HIV là tác nhân chính gây ra sự thất bại điều trị. Từ năm 1995, cùng với phát minh

ra nhóm Protease Inhibitor (PI), liệu pháp 3 thuốc ra đời và đã thu được nhiều kết

quả trong điều trị nhiễm HIV. Phác đồ điều trị dùng 3 thuốc phối hợp trở lên được

gọi là HAART. HAART là liệu pháp sử dụng tổng hợp các ARV tác dụng mạnh,

đây là giải pháp đối phó với tình trạng kháng thuốc HIV có tỷ lệ đột biến rất cao,

các đột biến đơn lẻ hầu như xảy ra ở mỗi lần sao chép virus, nhưng cơ hội cho 3 đột

biến cùng một lúc xảy ra là cực kỳ thấp. Sử dụng HAART sẽ khống chế được tại

lượng virus, bảo tồn và tăng được T - CD4, nhờ đó giúp bệnh nhân có được cuộc

sống bình thường và ngăn ngừa đột biến, giảm kháng thuốc.

- Phải luôn đảm bảo nồng độ điều trị:

Những nguyên nhân làm nồng độ thuốc trong máu khơng đủ nồng độ điều trị

có thể là:

+ Tuân thủ kém: Uống không đủ liều, uống không đúng khoảng cách quy

định.



7



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



+Thuốc kém chất lượng: Liều sai, hấp thu kém, độ thanh thai nhanh, hoạt lực

kém, cấu trúc di truyền của bệnh nhân, gặp tương tác thuốc. Do đó, bên cạnh sự tác

động của bản chất thuốc cũng như cơ địa đáp ứng với thuốc của từng bệnh nhân thì

việc tuân thủ điều trị của người bệnh là hết sức quan trọng. Trong vấn đề tuân thủ

điều trị thì nguyên nhân gây thất bại điều trị thường do uống thuốc không đều đặn.

Điều trị được coi là thành công khi tải lượng virus < 500 copies/ml, việc tự ý bỏ

thuốc, quên uống thuốc sẽ giảm tỷ lệ thành công. Tỉ lệ thành công khi bệnh nhân

tuân thủ điều trị thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1.1. Liên quan giữa khả năng tuân thủ

điều trị và tỷ lệ điều trị thành công

Mức tuân thủ (%)



Tỷ lệ thành công (%)



> 90 %



81



90 – 95



64



80 – 89



50



70 – 79



25



<70



6



Nếu quên uống thuốc trên 3 lần trong 1 tháng thì sẽ dẫn đến kháng thuốc và

mất hiệu quả điều trị. Như vậy, việc tư vấn dùng thuốc để bệnh nhân chấp nhận

uống thuốc đều đặn là rất quan trọng[2].

1.1.2.2. Các nhóm thuốc ARV

Dựa vào chu trình tăng sinh của HIV cũng như cơ chế tác dụng của từng loại

thuốc, người ta chia các thuốc chống HIV làm 3 nhóm sau:

- Nhóm ức chế men sao chép ngược Nucleosid (NRTIs);

- Nhóm ức chế men sao chép ngược Non - Nucleosid (NNRTIs);

- Nhóm thuốc ức chế Protease [15]



8



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



1.1.2.3. Các phác đồ điều trị HIV/AIDS bằng thuốc ARV

 Phác đồ ở người lớn và trẻ thành niên.

- Các phác đồ điều trị hàng đầu: [2]

+ Phác đồ ưu tiên (phác đồ 1a): d4T + 3TC + NVP.

Chỉ định: Bệnh nhân bắt đầu điều trị ARV.

+ Các phác đồ thay thế:

Bảng 1.2. Các phác đồ thay thế

STT



Phác đồ



Các thuốc



1



1b



d4T+3TC+EFV



2



1c



ZDV+3TC+NVP



3



1d



ZDV+3TC+EFV



Chỉ định

BN không sử dụng được NVP (dị ứng

hoặc ngộ độc gan do NVP).

BN không sử dụng được d4T (dị ứng,

độc tính với thần kinh, viêm tụy…).

BN khơng sử dụng được NVP và d4T.



(d4T: Stavudine; 3TC: Tenofovir; EFV: Efaviren; ZDV: Zidovudine; NVP: Nevirapine )



- Phác đồ điều trị hàng thứ hai: TDF hoặc ABC + ddI + LPV/r hoặc SQV/r

hoặc NFV.

Chỉ định: Khi bệnh nhân được xác định là thất bại với các phác đồ điều trị

ARV đầu.

Các biểu hiện thất bại điều trị ở người bệnh người lớn.

- Dấu hiệu lâm sàng thất bại điều trị.

+ Người bệnh được điều trị kháng Retrovirus nhưng không tăng cân, xuất

hiện nhiễm trùng cơ hội hoặc bệnh lý ác tính báo hiệu tiến triển lâm sàng của bệnh;

+ Nhiễm trùng cơ hội trước đây tái phát;

+ Các bệnh lý lâm sàng giai đoạn.

- Tiêu chuẩn CD4 đánh giá thất bại điều trị.

+ CD4 giảm xuống mức trước điều trị hoặc thấp hơn khi khơng có một

nhiễm trùng nào là lí do để giải thích cho việc giảm CD4 nhanh chóng;

9



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



+ Khi khơng có một nhiễm trùng nào là lí do để giải thích giảm TCD4 TCD4

giảm > 50% so với thời điểm TCD4 cao nhất kể từ khi điều trị nhanh chóng.

- Liều dùng và cách dùng được thể hiện ở bảng sau: [2]

Bảng 1.3 . Liều dùng các thuốc trong phác đồ ở người lớn và trẻ thành niên

STT



Thuốc



Liều dùng



1



Stavudine



30mg /lần ; uống 2lần/ngày; cách nhau 12 giờ.



2



Zidovudine



300mg/lần ; uống 2 lần/ngày; cách nhau 12 giờ.



3



Lamivudine



150mg/lần ; uống 2 lần/ngày; cách nhau 12 giờ.



Nevirapine



200mg/lần ; uống 1 lần/ngày trong 2 tuần đầu;



4



Sau đó 200mg/lần ; uống 2 lần/ngày ; cách nhau 12 giờ



5



Efavirenz



600mg uống 1 lần vào buổi tối.



6



Tenofovir



300mg uống 1 lần/ngày.



7



Abacavir



300mg/lần; uống 2 lần/ngày; cách nhau 12 giờ.



8



Didanosine



9



250mg (BN < 60kg) hoặc 400mg (BN ≥ 60kg);

uống 2 lần/ngày; cách nhau 12 giờ.



Lopinavir /



Mỗi lần 400mg/100mg; uống 2 lần/ngày; uống trong



Ritonavir



bữa ăn; cách nhau 12 tiếng.



 Phác đồ ở phụ nữ có thai.

- Phác đồ ưu tiên : ZDV+3TC+NVP.

- Phác đồ thay thế : ZDV+3TC+NFV hoặc SQV/r hoặc LPV/r.

Liều dùng : như liều cho người lớn và trẻ thành niên.[2]

 Phác đồ ở trẻ em.

- Phác đồ ưu tiên: d4T+3TC+NVP.

- Phác đồ thay thế:

d4T+3TC+EFV hoặc ZDV+3TC+NVP hoặc ZDV+3TC+EFV.



10



Ket-noi.com

Ket-noi.com Kho

Kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



- Liều dùng : Liều dùng thuốc trong phác đồ ở trẻ em được thể hiện trong

bảng sau

Bảng 1.4 - Liều dùng thuốc trong phác đồ ở trẻ em

Thuốc



Dạng thuốc



Liều dùng



Siro 10mg/ml. Viên nang: (có thể Trẻ < 4 tuần tuổi: 4mg/kg/liều × 2

bóc rời hoặc pha bột nước với lần/ngày.

ZDV



thuốc hoặc thức ăn) 100mg, Trẻ



từ



4



tuần







dưới



13



tuổi:



2



250mg. Viên 300mg (có thể chia 180mg/m /liều × 2 lần/ngày.

nhỏ và tán thành bột)



Trẻ ≥ 13tuổi : 300mg/liều × lần/ngày.

Trẻ < 1 tháng: 2mg/kg/liều × 2 lần/ngày.



3TC



Trẻ > 1 tháng và trẻ lớn < 60kg:



Siro 10mg/ml. Viên 150mg.



4mg/kg/liều × 2 lần/ngày.

Trẻ lớn > 60kg: 150mg × 2 lần/ngày.



d4T



Dung dịch uống 1mg/kg. Viên

nang 15mg, 20mg, 30mg, 40mg.



Trẻ < 30 kg: 1mg/kg × 2 lần/ngày.

Trẻ từ 30kg→ 60kg :30 mg × 2 lần/ngày

Trẻ ≥ 60kg: 40mg × 2 lần/ngày.

Trẻ từ 15 - 30 ngày tuổi : 5mg/kg/ngày

trong 2 tuần sau đó 120mg/m2 × 2 lần/ngày

trong 2 tuần, sau đó



NVP



Siro 10mg/ml. Viên 200mg (có

thể chia nhỏ hoặc nghiền nát)



200mg/m2 × 2



lần/ngày.

Trẻ từ trên 30 ngày đến 13 tuổi : 120mg/m2

× 1lần/ngày trong 2 tuần sau đó 120 200mg/m2 × 2 lần/ngày.

Liều tối đa : 200mg/ngày trong 2 tuần, sau

đó 200mg/liều × 2 lần/ngày.

Liều tối đa: 600mg 1 lần/ngày.

Trẻ >3 tuổi: viên nang hoặc nhũ dịch



Siro 30mg/ml. Viên nang: (có thể 10-15kg: 200mg(270mg = 9 ml)/ngày.

EFV



bẻ và chia nhỏ liều) 50,100 và 15-20kg: 250mg(300mg = 10 ml)/ngày.

200mg.



20-25kg: 300mg(360mg = 12 ml)/ngày.

25-33kg: 350mg(450mg = 15 ml)/ngày.

33- 40kg: 400mg(510mg = 17 ml)/ngày.



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Danh mục các hình vẽ, đồ thị.pdf

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×