Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
chất lượng và số lượng thuốc

chất lượng và số lượng thuốc

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Nhận xét:

Qua bảng 3.11 và hình 3.4 cho ta thấy các nhà thuốc đã thực hiện khá

tốt việc đảm bảo chất lượng thuốc. Việc kinh doanh thuốc hết hạn gần như

khơng có, chỉ có 2 nhà thuốc có thuốc hết hạn sử dụng. Thực tế ở các nhà

thuốc có trang bị phần mềm quản lý thì việc kiểm sốt này rất tốt, còn nếu

chưa trang bị phần mềm thì dù có ghi chép đầy đủ đôi khi cũng không theo

dõi hết và số liệu kiểm tra cũng chỉ phản ánh theo xác suất bởi chính các

đồn khi đi kiểm tra cũng khơng thể kiểm hết được các mặt hàng có trong

nhà thuốc. Đảm bảo thuốc theo danh mục tuyến C cũng chiếm tỷ lệ rất

thấp, trong số 25 nhà thuốc có đủ thuốc theo danh mục tuyến C mà biên

bản kiểm tra xác nhận cũng chỉ được đánh giá bằng cách điểm danh một số

mặt hàng một cách ngẫu nhiên. Chỉ có 64.6% số nhà thuốc đưa ra được hoá

đơn chứng từ chứng minh nguuồn gốc hàng hố. 100% các nhà thuốc

khơng có thuốc thuộc diện thu hồi.

3.2. Phân tích những thuận lợi, khó khăn của nhà thuốc đạt GPP trên

địa bàn thành phố Thái Bình trong việc thực hiện các quy định của

“Thực hành tốt nhà thuốc”.

Sau khi tiến hành phát bộ câu hỏi cho các dược sĩ chủ nhà thuốc trong

buổi tập huấn chun mơn, tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật do

Phòng y tế phối hợp với Sở y tế tổ chức vào T8/2014 và thu hồi phiếu khi

các dược sĩ chủ nhà thuốc đã điền xong thông tin, những chủ cơ sở vắng

mặt đã được gửi bộ câu hỏi trực tiếp vào những ngày tiếp theo chúng tôi

tổng hợp ý kiến và thu được kết quả như sau:

3.2.1. Những thuận lợi khó khăn khi thực hiện quy định về mặt nhân sự

Quan điểm về việc áp dụng GPP



38



Bảng 3.12: KQKS về quan điểm đối với việc áp dụng tiêu chuẩn GPP

của các nhà thuốc

STT



Câu trả lời của nhà thuốc



1



Cần thiết



2



Số lượng



Tỷ lệ

(%)



117



100,0



Không cần thiết



0



0



3



Ý kiến khác



0



0



4



Tổng số nhà thuốc được phỏng vấn



117



100



Nhận xét:

Qua khảo sát 117 chủ nhà thuốc cho thấy 100% các chủ nhà thuốc đều

cho rằng việc áp dụng tiêu chuẩn GPP là cần thiết và nên làm để nâng cao

chất lượng dịch vụ Dược. Đây là một thuận lợi rất lớn trong việc triển khai

áp dụng tiêu chuẩn GPP đối với các nhà thuốc. Có được sự đồng thuận của

các nhà thuốc thì việc triển khai sẽ đúng lộ trình và hiệu quả của việc áp

dụng GPP sẽ cao hơn.

Bảng 3.13: Kết quả khảo sát đối với ý kiến cho rằng việc áp dụng

GPP đem lại kết quả tốt hơn về cơ sở vật chất, doanh số, chất lượng

thuốc so với trước khi thực hiện GPP

STT



Nội dung



X



Tỷ lệ (%)

n =117



1



Cơ sở vật chất



117



100,0



2



Chất lượng thuốc



117



100



3



Doanh số



85



72,6



X: Số nhà thuốc đồng ý với ý kiến nêu ra



39



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Nhận xét:

Như vậy đại đa số các nhà thuốc đều cho rằng, việc thực hiện GPP sẽ

cho kết quả tốt hơn về cơ sở vật chất, doanh số, chất lượng thuốc, so với

trước khi đạt chuẩn GPP. Do đó việc thực hiện đúng tiêu chuẩn “Thực hành

tốt nhà thuốc” sẽ đem lại nhiều lợi ích to lớn trong đó đặc biệt phải kể đến

chất lượng thuốc khi mà có đến 100% các nhà thuốc được hỏi đều cho rằng

chất lượng thuốc sẽ tốt hơn khi đưa tiêu chuẩn GPP vào thực hiện.

Lý do vắng mặt của người quản lý chuyên môn.

Bảng 3.14: KQKS về lý do vắng mặt của DSPTCM

STT



Số lượng



Lý do vắng



(nhà thuốc)



Tỷ lệ

(%)

n=117



1



Không phải chủ nhà thuốc thực sự



74



77,1



2



Bận công tác



48



50,1



3



Lý do khác (việc riêng,ốm….)



35



36,5



4



Khơng có dược sĩ thay thế



0



0



5



Dược sĩ ở tỉnh khác



0



0



Nhận xét:

Từ bảng 3.14 cho thấy tỷ lệ DSPTCM vắng mặt khi cơ sở hoạt động bởi

lý do chính là DSPTCM không phải là chủ thật sự của nhà thuốc, đặc biệt ở

những cơ sở mà PTCM là các DS đang cơng tác ở các đơn vị khác. Ngồi

ra cũng có 36.5% ý kiến cho rằng DSPTCM vắng mặt vì những lý do khác

như sức khỏe, việc riêng và trong trường hợp bất khả kháng đó thì việc ủy

quyền cho DS thay thế tạm thời là rất khó thực hiện.

Theo quy định đối với người quản lý chun mơn thì DSPTCM phải

thường xuyên có mặt khi cơ sở hoạt động. Nhưng với tỷ lệ 77,1% cho rằng

DSPTCM không phải là chủ nhà thuốc thật sự thì việc nhà thuốc hoạt động

khi khơng có DSPTCM là một tất yếu khách quan và là một tồn tại khó

khắc phục.



40



3.2.2. Những thuận lợi khó khăn trong việc thực hiện quy định về

cơ sở vật chất và trang thiết bị

Về cở sở vật chất

Khi thẩm định để cấp phép hoạt động các nhà thuốc đều đạt tiêu chuẩn

về cơ sở vật chất trong đó các khu vực riêng cũng được bố trí sắp xếp đầy

đủ nhưng trong q trình hoạt động đã có nhiều nhà thuốc khơng còn

những khu vực này nữa.

Qua phỏng vấn 117 nhà thuốc thu được kết quả ở bảng 3.15.

Bảng 3.15: Lý do khơng còn một số khu vực riêng



TT

1



2



3



4



Lý do



Khu vực rửa

tay

Số

Tỷ lệ

lượng

(%)



Người dân

chưa có thói

quen sử dụng

khu vực này



75



Chỗ ngồi cho

bệnh nhân

Số

Tỷ lệ

lượng

(%)



Khu vực ra lẻ

Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



64,1



Khu vực này

không có hiệu

quả sử dụng



14



12,0



Khơng có diện

tích để bố trí

khu vực này



82



77,1



75



64,1



117



100



117



100



Tổng số nhà

thuốc được

phỏng vấn



117



100



Nhận xét:

Theo kết quả khảo sát thì có 64,1% nhà thuốc cho rằng khơng còn khu

vực ra lẻ do khơng có diện tích để bố trí riêng khu vực này và cũng với lý

do không đủ diện tích mà 77% số nhà thuốc được hỏi đã khơng còn chỗ

cho bệnh nhân ngồi chờ.

41



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Với khu vực rửa tay cho bệnh nhân và nhân viên nhà thuốc thì có 64,1%

số nhà thuốc cho rằng khơng còn bố trí khu vực này do người dân chưa có

thói quen sử dụng.

Như vậy đối với việc duy trì các khu vực riêng thì khó khăn lớn nhất

đối với các nhà thuốc là bởi diện tích khơng đủ rộng để duy trì và phát

huy hiệu quả.

Về trang thiết bị

Việc sử dụng phần mềm trong quản lý hoạt động của nhà thuốc giúp

cho việc quản lý hiệu quả hơn nhưng trong thực tế thì có khơng nhiều nhà

thuốc trang bị phần mềm này.

Bảng 3.16: KQKS về số nhà thuốc có sử dụng phần mềm để quản lý

hoạt động

TT



Nội dung



Số lượng



Tỷ lệ

(%)



1



Có sử dụng



43



36,8



2



Khơng sử dụng



74



63,2



3



Tổng số nhà thuốc được phỏng vấn



117



100

Có sử dụng



36.8%



Khơng sử dụng



63.2%



Hình 3.5: KQKS về số nhà thuốc có sử dụng phần mềm để quản lý

hoạt động



42



Nhận xét:

Bảng 3.16 và hình 3.5 cho thấy chỉ có 43/117 nhà thuốc chiếm 36.8%

tổng số có sử dụng phần mềm quản lý phục vụ cho hoạt động chuyên môn

của nhà thuốc. Đây là một tỷ lệ chưa cao, nhưng dù sao cũng rất đáng khích

lệ, bởi từ số nhà thuốc có sử dụng phần mềm này có thể nhân rộng hơn nữa

do tính ưu việt của nó. Trong số các nhà thuốc không sử dụng phần mềm

quản lý thì lý do được đưa ra là:

Bảng 3.17: KQKS về lý do nhà thuốc không sử dụng phần mềm quản

lý để quản lý hoạt động

STT



Lý do



Số lượng



1



Chi phí đầu tư máy vi tính, và phần

mềm quản lý cao (> 14 triệu vnd)



Tỷ lệ

(%)



60



81,1



2



Không biết sử dụng



8



10,8



3



Không cần thiết



6



8,1



4



Tổng số nhà thuốc được phỏng vấn



74



100



Nhận xét:

81.1% cho rằng chi phí đầu tư máy tính và phần mềm là cao so với

doanh thu của nhà thuốc. 10.8% số nhà thuốc có lý do là không biết sử

dụng và 8.1% số nhà thuốc cho rằng không cần thiết.

Như vậy tỷ lệ số nhà thuốc cho rằng không cần thiết và không biết sử

dụng chiếm một lượng nhỏ 19%, còn lại các nhà thuốc đều thấy cần thiết

nhưng chưa sử dụng vì lý do kinh tế. Vả lại trong quy định cũng chỉ

khuyến khích các nhà thuốc nên dùng chứ không bắt buộc.



43



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



3.2.3.Những thuận lợi khó khăn trong việc thực hiện quy chế

chuyên môn

Về việc thực hiện quy chế bán thuốc theo đơn

Bảng 3.18: KQKS một số khó khăn hay gặp khi bán các thuốc phải

theo đơn

STT



Vấn đề



Số lượng



Tỷ lệ

(%)



1



Khơng có đủ thuốc theo đơn kê



95



81,2



2



Khơng có hoặc có rất ít đơn để bán



75



63,2



3



Có đơn nhưng khơng đọc được



68



58,1



4



Tổng số nhà thuốc được phỏng vấn



117



100



Nhận xét:

Qua khảo sát có 81.2% nhà thuốc khơng có đủ thuốc theo đơn bác sĩ,

63.2% nhà thuốc khơng có đơn để bán, 58% có đơn nhưng không đọc

được. Đây là một thực tế đang diễn ra hàng ngày bởi bệnh nhân khi khám

xong có đơn của bác sĩ thì thường mua thuốc ngay ở nhà thuốc bệnh viện

hoặc khu vực lân cận với tâm lý sợ không mua được đúng loại và điều này

làm cho các nhà thuốc ở xa khu vực khám bệnh khơng dám lấy thuốc về vì

sợ khơng có đầu ra, cứ thế tạo nên vòng xốy thiếu thuốc ở các nhà thuốc

khơng có đơn để bán. Ngay tại các nhà thuốc bệnh viện thì hiện tượng

khơng đủ thuốc theo đơn vẫn có thể xảy ra mà theo quy chế thì chỉ có dược

sĩ đại học mới được thay thế thuốc nhưng với tỷ lệ dược sĩ đại học có mặt

khi nhà thuốc hoạt động chiếm 50% theo số liệu kiểm tra thì việc thực hiện

đúng quy chế bán thuốc theo đơn là rất khó thực hiện.

Một số khó khăn khi giải quyết những đơn thuốc khơng hợp lệ

Trong q trình bán thuốc theo đơn nhiều trường hợp gặp những đơn

không hợp lệ về tên thuốc, hàm lượng, liều dùng, chống chỉ định nhưng

việc liên hệ với bác sỹ kê đơn là rất hạn chế bởi các lý do được tổng kết ở

bảng 3.19.



44



Bảng 3.19: KQKS khả năng liên hệ với bác sĩ kê đơn khi gặp những

vấn đề cần trao đổi về đơn thuốc.

STT



Lý do



Số



Tỷ lệ



lượng



(%)



1



Khơng có số điện thoại để liên hệ



61



52,0



2



Có số điện thoại nhưng khơng gọi



37



32,1



3



Có thể liên hệ



19



16,0



4



Tổng số nhà thuốc được phỏng vấn



117



100



Nhận xét:

Qua bảng trên cho thấy tỷ lệ DS liên hệ được với BS trong trường hợp

có vấn đề cần giải quyết là rất ít chỉ chiếm 16.2%. Thực tế hiện nay các

bác sĩ khi kê đơn cũng hay ghi điện thoại liên hệ phía cuối đơn, nhưng đã

có tỷ lệ 32% số nhà thuốc khơng có ý định gọi điện lên hệ với bác sĩ, phần

vì tâm lý khơng tự tin trong việc trao đổi, phần vì muốn tự giải quyết một

mình tránh việc bệnh nhân có thể hoang mang dẫn đến khơng bán được

thuốc, nên với những đơn thuốc có vấn đề cần giải quyết các nhà thuốc đã

tự giải quyết theo kinh nghiệm của mình.

Về việc theo dõi và báo cáo ADR

Bảng 3.20: KQKS về lý do nhà thuốc không theo dõi và thông báo cho

cơ quan chức năng tác dụng phụ của thuốc

STT



Lý do



1



Khơng cần thiết vì đã có trong các tài

liệu chuyên môn



Số lượng



Tỷ lệ

(%)



105



89,7



2



Không biết phản hồi với ai



95



81,2



3



Lý do khác



7



6,1



4



Tổng số nhà thuốc



117



100



45



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Nhận xét:

Như vậy, tỷ lệ số nhà thuốc mặc định sẵn có trong suy nghĩ là sẽ

khơng báo cáo chiếm tỷ lệ rất cao 89,7%, còn một tỷ lệ rất khiêm tốn 6%

lưỡng lự giữa báo cáo hay không báo cáo vì các lý do khác như: mất thời

gian, không báo cáo cũng không sao, tốn công sức và chi phí…

Trong thực tế đơi khi xảy ra những tác dụng phụ rất hiếm gặp, nhưng

lại trầm trọng có thể ảnh hưởng đến tính mạng, song có thể bản thân người

sử dụng thuốc không biết để phản ánh với nhà thuốc, hoặc có phản ánh

nhưng nhà thuốc đã khơng thấy được mức độ quan trọng để xử lý. Cho nên

dù sao nếu có một hệ thống thu nhận và phản hồi thơng tin hoạt động hiệu

quả, thì sẽ góp phần nâng cao việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý.

Về việc cập nhật thông tin

Bảng 3.21: KQKS lý do dẫn đến chủ nhà thuốc không cập nhật thông tin

STT



1



Lý do

Khơng thấy có gì ảnh hưởng đến hoạt động

của nhà thuốc



Số



Tỷ lệ



lượng



(%)



100



85,5



2



Khơng phải chủ nhà thuốc thật sự



60



51,3



3



Khó tìm các nguồn thông tin



33



28,2



4



Tổng số các nhà thuốc được khảo sát



117



100



Bảng 3.21 trên đã cho thấy có đến 85.5% số nhà thuốc cho rằng việc

không cập nhật kiến thức chuyên môn và quy chế là do không ảnh hưởng

đến hoạt động của nhà thuốc và 51.3% bởi lý do DSPTCM không phải chủ

nhà thuốc thật sự. Còn lại 28.2% cho rằng khó tìm các nguồn để tra cứu.

Như vậy có thể thấy hoạt động của các nhà thuốc nhìn chung diễn ra

theo đường mòn mặc định sẵn theo thời gian, hoặc có thể việc phổ biến

những thơng tin mới khơng được sâu rộng. Với tỷ lệ lớn DSPTCM không



46



phải chủ nhà thuốc thực sự thì mọi hoạt động của nhà thuốc đều do đối

tượng khác điều hành, nhưng dù sao việc nắm bắt thông tin được thuận tiện

và trách nhiệm của DSPTCM cao thì việc cập nhật thơng tin sẽ được cải

thiện hơn giúp nhà thuốc tránh được những vi phạm mà bản thân nhà thuốc

thực sự không biết.

Về việc nhà thuốc khơng có đủ thuốc theo danh mục tuyến C

Bảng 3.22: KQKS về lý do các nhà thuốc khơng có đủ thuốc theo

danh mục tuyến C

TT



Nội dung



Số lượng



Tỷ lệ (%)



1



Không bán được



102



87,2



2



Khó lấy



35



29,9



3



Tổng số nhà thuốc



117



100



Nhận xét:

Việc các nhà thuốc khơng có thuốc theo danh mục tuyến C chủ yếu là

do các thuốc này sẽ khó lưu thơng dẫn đến nhà thuốc khơng muốn lấy về vì

sợ sẽ khơng bán được dẫn đến hết hạn phải bỏ đi. Ngoài ra cũng có 65/117

ý kiến cho rằng khó lấy được đủ thuốc vì thực tế các cơng ty bán bn cũng

khơng trang bị cùng lúc đủ danh mục này.



47



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Chương IV

BÀN LUẬN

4.1 Về hoạt động của các nhà thuốc đạt GPP trên địa bàn Thành phố

Thái Bình.

Trong năm 2014 cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống khám

chữa bệnh cũng như mạng lưới phân phối thuốc, hệ thống nhà thuốc tại

Thành phố Thái Bình cũng có bước tiến rõ rệt cả về chất lượng và số

lượng. Phân bố trải đều khắp Thành phố 117 nhà thuốc đã góp phần đáng

kể vào việc cung cấp thuốc đến tay bệnh nhân góp phần chăm sóc và nâng

cao sức khỏe.

Bên cạnh những đóng góp khơng nhỏ thì hệ thống nhà thuốc ở Thành

phố Thái Bình cũng tồn tại nhiều vấn đề bất cập cần được tháo gỡ.

4.1.1 Về nhân sự

* Dược sĩ phụ trách chuyên môn

Tất cả 96 nhà thuốc được kiểm tra đều có phụ trách chuyên mơn là dược

sĩ đại học trong đó 28 dược sĩ nghỉ hưu (8 dược sĩ trực tiếp đứng bán, 20

dược sĩ không trực tiếp đứng bán) 68 dược sĩ chưa nghỉ hưu (28 dược sĩ

trực tiếp bán, 40 dược sĩ không trực tiếp đứng bán). Với tỷ lệ dược sĩ trực

tiếp đứng bán là 36/96 chiếm 37,5% thì việc người phụ trách chun mơn

phải có mặt khi nhà thuốc hoạt động là một tiêu chuẩn rất khó thực hiện bởi

ngay bản thân các dược sĩ trực tiếp đứng bán đôi khi cũng có lí do vắng

mặt khác (ốm, việc gia đình,…). còn 40 dược sĩ khơng trực tiếp đứng bán

lại chưa nghỉ hưu thì phần nhiều lại đang cơng tác tại các cơ quan nhà nước

nên khơng thể có mặt vào bất cứ lúc nào nhà thuốc cần được cũng như

không thể tham gia vào các hoạt động của nhà thuốc như: bán thuốc theo

đơn, kiểm soát chất lượng.



48



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

chất lượng và số lượng thuốc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×