Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số nghiên cứu liên quan về dạng bào chế vi tiểu phân glipizid

Một số nghiên cứu liên quan về dạng bào chế vi tiểu phân glipizid

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



Để chế tạo vi cầu glipizid bám dính sử dụng natri alginat bằng phương pháp

đơng tụ thơng thường (hóa muối) sử dụng CaCl2 làm tác nhân tạo liên kết,

Yaswanth Allamneni đã tiến hành với 12 công thức khảo sát theo cùng một quy

trình: phân tán dược chất vào 50 ml dung dịch alginat trong đệm 7,4 tạo thành hỗn

dịch đồng nhất dưới tác dụng của khuấy từ ở tốc độ 400 rpm; hỗn dịch này được

bơm nhỏ giọt qua đầu kim cỡ 22G vào 100 ml dung dịch CaCl2 nồng độ thích hợp

được khuấy ở 100 rpm (khoảng cách từ đầu kim đến bề mặt dung dịch muối Ca

được giữ cố định là 6 cm); các vi cầu tạo thành được ủ trong một thời gian thích

hợp và sau đó được lọc và sấy ở nhiệt độ 30 – 40oC. Kết quả vi cầu thu được là

riêng biệt, hình cầu, trơn chảy tốt. Vi cầu tạo ra được đánh giá ở các mặt: hiệu suất

vi cầu hóa, kích thước, khả năng giải phóng dược chất, thử nghiệm rửa trơi…

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các thay đổi về nồng độ alginat, thời gian ủ… ảnh hưởng

đến kích thước vi cầu, hiệu suất vi cầu hóa và tỷ lệ giải phóng cũng như thuộc tính

kết dính của vi cầu bào chế được. Cụ thể, khi tăng nồng độ alginat (1%, 2%, 3%,

4%, 5%) cùng với tăng thời gian tạo liên kết (thời gian ủ) sẽ ảnh hưởng tốt đến tính

chất của vi cầu và phần trăm giải phóng của thuốc. Cơng thức tốt nhất thu được với

nồng độ alginat 5% cho vi cầu trơn chảy tốt, hiệu suất lưu giữ cao và duy trì giải

phóng được đến 8h (trên 90%) [7].

Cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến bào chế vi nang, vi cầu glipizid bám

dính sinh học bằng phương pháp đơng tụ thơng thường (hay còn gọi là phương pháp

ion hóa cố định gel) và sử dụng các polyme kết dính sinh học như Carbopol 974P

và muối natri carboxymethylcellulose (SCMC) trong nghiên cứu của Sanap

Gajanan và cộng sự; hoặc dùng Carbopol 934, SCMC, hydroxypropyl

methylcellulose (HPMC), methylcellulose (MC) trong nghiên cứu của Chowdary

K.P.R. cùng cộng sự; hoặc dùng polycarbophil trong nghiên cứu của Hosmani AH.

và cộng sự. Trong các nghiên cứu trên, vi nang được bào chế theo một quy trình

chung như sau: alginat và các polyme kết dính được ngâm trương nở trong nước,

dược chất được phân tán vào trong dung dịch polyme tạo thành hỗn dịch, hỗn dịch

này được nhỏ giọt vào dung dịch CaCl2 tạo thành các hạt gel, ủ trong thời gian thích



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

14



hợp, gạn, rửa, sấy thu được sản phẩm vi nang. Các vi nang thu được sẽ được đánh

giá về các chỉ tiêu: hình dạng, kích thước, hiệu suất bào chế, hiệu suất vi nang hóa,

khả năng giải phóng dược chất, tính trơn chảy, khả năng trương nở và khả năng kết

dính sinh học. Kết quả thu được cho thấy khi phối hợp với polyme là Carbopol hoặc

phối hợp với polycarbophil sẽ cho vi nang có khả năng giải phóng kéo dài và thuộc

tính bám dính tốt nhất [9], [13], [14].

Vi cầu bám dính glipizid còn được Kavitha Chindanooru và cộng sự bào chế

bằng LMP (low methoxyl pectin) và các polyme khác (HPMC K15, gôm guar, gôm

karaya) dựa trên phương pháp đông tụ thông thường sử dụng CaCl2 làm tác nhân

tạo liên kết chéo. Vi cầu tạo ra được đánh giá về hình dạng, kích thước, hiệu suất

lưu giữ, khả năng giải phóng dược chất, khả năng kết dính… 12 cơng thức được bào

chế để khảo sát các loại polyme khác nhau, tỷ lệ phối hợp khác nhau và nồng độ

CaCl2 khác nhau. Nghiên cứu chứng minh việc kết hợp giữa LMP và gôm guar cho

kết quả khả quan nhất (hiệu suất cao, trương nở tốt, giải phóng kéo dài, bám dính

tốt) [16].

Trong nghiên cứu của Sai Krishna Putta và cộng sự về bào chế và đánh giá vi

nang glipizid kết dính với tá dược alginat và gơm kondagogu, vi nang được bào chế

theo hai cách: đông tụ thông thường và gel hóa nhũ tương. Trong phương pháp thứ

nhất, dược chất được phân tán vào dung dịch của alginat và gôm để tạo hỗn dịch

đồng nhất, hỗn dịch này được nhỏ giọt vào dung dịch CaCl2, sau đó ủ, gạn, rửa, sấy

qua đêm ở nhiệt độ phòng để thu được vi nang. Ở phương pháp thứ hai, cũng tạo

hỗn dịch của dược chất trong dung dịch alginat và gơm, tiếp đó nhỏ giọt hỗn dịch

vào dung dịch dầu parafin trong điều kiện khuấy trộn nhằm tạo các giọt nhũ hóa,

một lượng dung dịch CaCl2 được nhỏ vào và cũng tiếp tục giữ khuấy trộn liên tục

trong 15 phút để tạo thành các vi nang, vi nang được gạn, rửa với ether dầu hỏa và

làm khô trong máy sấy tầng sôi. Nghiên cứu cho thấy dược chất giải phóng chậm

khỏi vi nang và phụ thuộc vào tỷ lệ nhân – vỏ cũng như phương pháp bào chế. Kết

quả là phương pháp gel hóa nhũ tương phù hợp hơn với mục đích giải phóng kéo

dài, các vi nang thu được có tính bám dính tốt trong thử nghiệm rửa trơi [23].



15



Patel JK. cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu công thức bào chế và

đánh giá tính chất của vi cầu glipizid kết dính sinh học với chitosan làm tá dược bao

cùng với glutaraldehyd làm tác nhân tạo liên kết chéo trong kỹ thuật hóa rắn nhũ

tương. Dược chất được phân tán vào dung dịch chitosan trong acid acetic tạo hỗn

dịch, nhỏ giọt hỗn dịch vào dung dịch dầu parafin (chứa 0,2% dioctylsulfosuccinat

(DOSS)) kèm khuấy trộn, sau đó thêm glutaraldehyd và tiếp tục khuấy trộn để tạo

liên kết chéo, cuối cùng gạn, rửa bằng ether dầu hỏa (loại parafin) và nước (loại

glutaraldehyd), sấy ở nhiệt độ phòng thu được vi cầu. Vi cầu được đánh giá về hình

dạng, kích thước, hiệu suất lưu giữ, khả năng giải phóng dược chất, độ trương nở và

khả năng kết dính sinh học. Kết quả cho thấy rằng thể tích của glutaraldehyd, thời

gian liên kết chéo, tỷ lệ polyme – dược chất cũng như tốc độ khuấy trộn ảnh hưởng

đến đặc tính của vi cầu tạo thành [20].

Trong nghiên cứu bào chế vi cầu glipizid với mục đích giải phóng kéo dài,

Mukul Sengupta và cộng sự đã bào chế với tá dược ethyl cellulose bằng phương

pháp bốc hơi dung môi. Thử nghiệm tiến hành qua các bước: tạo dung dịch ethyl

cellulose trong cloroform, phân tán dược chất tạo hỗn dịch dưới tác dụng của khuấy

trộn, hỗn dịch tạo thành được phun nhỏ giọt vào dung dịch SCMC và được khuấy

trộn ở tốc độ 1000 rpm để nhũ hóa tạo những giọt nhỏ, việc khuấy trộn được duy trì

ở nhiệt độ phòng trong 3 giờ để dung môi bay hơi tạo các vi cầu, lọc, rửa bẳng

nước, sấy thu được vi cầu [26].

Đỗ Thanh Hà cũng đã tiến hành bào chế vi cầu glipizid bằng phương pháp

bốc hơi dung môi. Tác giả đã tiến hành bào chế vi cầu với Eudragit L100 và

Eudragit S100 từ hỗn nhũ tương N/D (pha nội là aceton, chất nhũ hóa sử dụng là

Span 80 và pha ngoại là dầu parafin) và bào chế vi cầu với Eudragit E100 từ hỗn

nhũ tương D/N (pha nội là dicloromethan, chất nhũ hóa sử dụng là dung dịch PVA

và pha ngoại là nước). Nghiên cứu đã sơ bộ đánh giá được ảnh hưởng của yếu tố

cơng thức và quy trình (tỷ lệ dược chất – polyme, nồng độ chất nhũ hóa, thời gian

khuấy) đến vi cầu bào chế được [3].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

16



Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị

2.1.1. Nguyên liệu

Bảng 2.1. Nguyên liệu và hóa chất nghiên cứu

STT Tên nguyên liệu, hóa chất



Nguồn gốc



Tiêu chuẩn



1



Glipizid



Ấn Độ



USP



2



Natri alginat



Trung Quốc



TCNSX



3



Aerosil



Trung Quốc



TCNSX



4



Calci clorid



Trung Quốc



TCNSX



5



Methanol



Trung Quốc



TCNSX



6



Natri hydroxid



Trung Quốc



TCNSX



7



Kali dihydro phosphat



Trung Quốc



TCNSX



8



Nước tinh khiết



Việt Nam



TCNSX



2.1.2. Thiết bị

+ Máy khuấy từ IKA RH Basic 1 (Đức).

+ Bơm nhu động Ismatec Ecoline VC 380.

+ Máy sấy tóc TURBODRY 1000 EH5235 (Thái Lan) .

+ Tủ sấy Memmert (Đức).

+ Cân xác định nhanh hàm ẩm Precisa XM 60 (Thụy Điển).

+ Máy siêu âm Ultrasonic LC 60H.

+ Máy ly tâm Hermle Labortechnik GmbH Z326K (Đức).

+ Máy thử độ hòa tan ERWEKA DT 60 (Đức).

+ Máy đo quang phổ UV-VIS Hitachi U-1900 (Nhật Bản).

+ Cân phân tích Sartorius TE 241S (Đức).

+ Cân kĩ thuật Sartorius TE 412 (Đức).

+ Bình định mức, rây, pipet chính xác các loại.

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.1. Xây dựng công thức bào chế vi nang glipizid bằng phương pháp đông tụ

tạo muối



17



 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến một số chỉ tiêu chất lượng của vi

nang bào chế được

+ Khảo sát ảnh hưởng của yếu tố công thức đến các chỉ tiêu chất lượng của vi

nang bào chế được

 Tỷ lệ alginat – dược chất.

 Nồng độ dung dịch alginat.

 Nồng độ dung dịch CaCl2.

 Loại dung môi ngâm trương nở alginat.

+



Khảo sát ảnh hưởng của thông số quá trình đến các chỉ tiêu chất lượng của



vi nang bào chế được

 Thời gian ủ vi nang.

 Nhiệt độ tạo vi nang.

 Tốc độ nhỏ giọt.

 Tốc độ khuấy dung dịch CaCl2 trong quá trình nhỏ giọt.

+ Khảo sát ảnh hưởng Aerosil của lên hình dạng của vi nang sau khi sấy

 Xây dựng công thức vi nang bào chế bằng phương pháp đơng tụ hóa muối

Mỗi yếu tố khảo sát tìm được các thơng số q trình và cơng thức (loại, tỷ lệ

tá dược) tốt nhất để bào chế được vi nang phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Vi

nang bào chế được sẽ được đánh giá các đặc tính sau:

+ Hình dạng, kích thước.

+ Hiệu suất bào chế.

+ Hiệu suất vi nang hóa, hàm lượng dược chất trong vi nang.

+ Khả năng giải phóng dược chất.

2.2.2. Đề xuất tiêu chuẩn cơ sở cho vi nang bào chế được

Từ các kết quả đã khảo sát, lựa chọn các tiêu chuẩn cơ sở cho vi nang

glipizid bào chế được.

2.3. Phương pháp thực nghiệm

2.3.1. Xây dựng đường chuẩn của glipizid trong mơi trường đệm phosphat 7,4

2.3.1.1. Xác định bước sóng cực đại (λmax)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số nghiên cứu liên quan về dạng bào chế vi tiểu phân glipizid

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×