Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: DƯỢC ĐỘNG HỌC – DƯỢC LỰC HỌC CỦA KHÁNG SINH NHÓM BETA-LACTAM

CHƯƠNG 2: DƯỢC ĐỘNG HỌC – DƯỢC LỰC HỌC CỦA KHÁNG SINH NHÓM BETA-LACTAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

26



cephalosporin thế hệ hai có phổ tương tự các cephalosporin thế hệ một nhưng có

hoạt tính mạnh hơn trên một số vi khuẩn ít gặp. Các kháng sinh cephalosporin thế

hệ ba có hoạt tính mạnh hơn với các vi khuẩn Gram âm thông thường và các tác

nhân gây bệnh cơ hội, tuy nhiên hoạt tính trên vi khuẩn Gram dương bị giảm đi

[32]. Đến nay, beta-lactam có 4 nhóm: penicilin, cephalosporin, carbapenem,

monobactam [15].

Beta-lactam là kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất trên lâm sàng hiện

nay do beta-lactam được phân bố vào nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể, nên có thể

điều trị được nhiều bệnh nhiễm khuẩn, ít độc tính nên có thể tăng liều điều trị được

trên nhiều mức độ nhiễm khuẩn [1, 15].



2.2. Dược động học của các kháng sinh nhóm beta-lactam

2.2.1. Mức độ hấp thu

Phần lớn các beta-lactam ít được hấp thu qua đường tiêu hoá, trừ một số

kháng sinh như các cephalosporin thế hệ 1, 2 được hấp thu khi dùng đường uống

[6].

Các cephalosporin thế hệ 1, 2 (cephalexin, cefaclor, và cefprozil) hấp thu tốt

qua đường tiêu hoá, chỉ có cefuroxime axetil, tỉ lệ hấp thu qua đường tiêu hoá là 36

đến 52% [33].

Bảng 2: Sinh khả dụng của một số cephalosporin thế hệ 1 và 2.

Kháng sinh



Sinh khả dụng (%)



Cephalexin



95



Cefatrizin



60



Cefaclor



90



Cefprozil



89



Cefuroxim axetil



36 – 52



Trong các cephalosporin thế hệ 3, ceftibuten là thuốc được hấp thu tốt nhất, cả loại

tiền thuốc và cefixim, mức độ hấp thu mới đạt 50%. Cefexim và ceftibuten có sinh

khả dụng giảm khi tăng liều [33].



27



Bảng 3: Sinh khả dụng của một số cephalosporin thế hệ 3.

Kháng sinh



Liều (mg)



Sinh khả dụng (%)



200



50



400



40



200



95



400



80



Cefetamet – pivoxil



500



45 – 50



Cefpodoxim – proxetil



200



50



Cefixim



Ceftibuten



2.2.2. Mức độ phân bố

Thể tích phân bố của các beta-lactam cao 0,15-0,24 L /kg [32] nên các kháng

sinh beta-lactam phân bố vào hầu hết các dịch trong cơ thể (trừ mắt và tuyến tiền

liệt – chỉ có aztreonam thâm nhập được) nên có thể được sử dụng cho nhiều bệnh

nhiễm trùng [15, 32]. Do có bản chất là các acid yếu, thân nước, không thân lipid

nên các kháng sinh beta-lactam không phân bố được vào trong các tế bào nên không

dùng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do các vi khuẩn nội bào như Mycoplasma

hoặc Chlamydia [8, 32].

2.2.3. Mức độ thải trừ

Các beta-lactam có thời gian bán thải ngắn, thường là từ 1-3 giờ, trừ một số

ít các kháng sinh nhóm cephalosporin như ceftriaxon, có thời gian bán thải lên đến

7-8 giờ. Cụ thể các kháng sinh nhóm penicilin có thời gian bán thải từ 0,8-1,2 giờ,

carbapenem là khoảng 1 giờ [25, 28, 32]. Các cephalosporin có thời gian bán thải từ

1,4 - 8 giờ. Các kháng sinh cephalosporin thế hệ 1 và 2 có thời gian bán thải dưới 2

giờ, còn các kháng sinh thế hệ ba dài hơn, dưới 3 giờ, trừ ceftriaxon có thời gian

bán thải dài lên tới 8 giờ [15, 33].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

28



Bảng 4: Thời gian bán thải của một số kháng sinh nhóm penicilin,

cephalosporin, carbapenem và monobactam [33, 44]

Penicilin



T1/2



Cephalosporin



(giờ)



T1/2



Carbapenem



(giờ)



T1/2



Monobactam T1/2



(giờ)



(giờ)



Penicilin G



0,5



Cephalexin



0,9



Imipenem



1,0



Nafcilin



0,5



Cefatrizine



1,7



Meropenem



1,0



Oxacilin



0,5



Cefaclor



0,77



Ertapenem



3,8



Doripenem



0,93



Aztreonam



- 1,0

Ampicilin



1,0



Cefprozil



1,3



Carbenicilin



1,1



Cefuroxim



1,3 - Panipenem



axetil



1,8



Cefixim



3,4 – Biapenem



Ticarcilin



1,2



1,2



1,0



3,8

Ceftibuten



2,5 –

2,9



Cefetamet



– 2,3



pivoxil

Cefpodoxim – 2,7

proxetil



2.3. Dược lực học của các kháng sinh nhóm beta-lactam

2.3.1. Mức độ nhạy cảm của các vi khuẩn với kháng sinh beta-lactam

Mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với các kháng sinh được biểu thị qua nồng

độ ức chế tối thiểu (MIC). Giá trị của MIC thay đổi phụ thuộc vào kháng sinh, vi

khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn, đường dùng thuốc, sự kết hợp các kháng sinh với nhau

và từng tiêu chí.



1,8



29



Các nghiên cứu cho thấy MIC của vi khuẩn thay đổi theo các kháng sinh

beta-lactam như trên vi khuẩn Gram âm, tốc độ và tỉ lệ diệt khuẩn của các kháng

sinh penicilin, cephalosporin và carbapenem là khác nhau, trong đó nhóm

cacbapenem là mạnh nhất và nhóm penicilin là yếu nhất [23]. Sự khác nhau đó cũng

được ghi nhận giữa các kháng sinh trong cùng một nhóm, như trong nhóm

carbapenem, doripenem có tác dụng yếu nhất trên các chủng vi khuẩn sinh betalatctamase phổ rộng, với MIC90 lớn hơn 2 - 4 lần so với meropenem và imipenem

[5].

Giá trị của MIC còn thay đổi theo vi khuẩn, ví dụ như với

piperacilin/tazobactam, theo Viện lâm sàng và thí nghiệm chuẩn (CLSI - Clinical

and Laboratory Standards Institute), giới hạn MIC được cho là nhạy cảm với

Enterobacteriaceae và Acinetobacter là 16 mg/L, còn với Pseudomonas aeruginosa

là 64/4 mg/L [21].

Ở các vị trí nhiễm khuẩn khác nhau, giá trị MIC cũng khác nhau. Ví dụ như

MIC của Streptococcus pneumoniae với penicilin, nếu nhiễm khuẩn ở màng não, vi

khuẩn được coi là nhạy với MIC ≤ 0,06mg/mL, kháng là ≥ 0,12mg/mL, với các

nhiễm khuẩn ở các vị trí khác, vi khuẩn được coi là nhạy với MIC ≤ 2 mg/mL, trung

gian là 4 mg/mL và kháng là ≥ 8 mg/mL [41].

Mức độ nhạy cảm của vi khuẩn còn thay đổi phụ thuộc vào đường đưa thuốc.

Với các hội chứng viêm không phải ở màng não, khi dùng thuốc qua đường tĩnh

mạch, giá trị MIC nhạy cảm của Streptococcus pneumoniae với penicilin là ≤

2µg/mL, còn qua đường uống là ≤ 0.06µg/mL [41].

Khi kết hợp kháng sinh, độ nhạy cảm của vi khuẩn được tăng lên. Ví dụ như

trong một thử nghiệm in vitro, khi kết hợp với một aminoglycosid, Pseudomonas

aeruginosa trở nên ít kháng doripenem hơn [5].

Giá trị MIC cũng thay đổi theo từng tiêu chí khác nhau như mức độ nhạy

cảm của doripenem trên vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, theo EUCAST, giá trị

MIC mà tại đó vi khuẩn được cho là nhạy cảm với kháng sinh là ≤ 1 mg/L và kháng

là ≥ 4 mg/L, còn đối với Cục quản lý dược Hoa Kỳ là ≤ 2 mg/L và 8mg/L [5].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

30



2.3.2. Tác dụng hậu kháng sinh của beta-lactam

Những nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy các kháng sinh nhóm penicilin,

cephalosporin, monobactam và carbapenem có tác dụng hậu kháng sinh với hầu hết

các vi khuẩn Gram dương như Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogenes và

Streptococcus pneumoniae. Trên vi khuẩn Gram âm như Escherichia coli,

Klebsiella spp, Proteus spp và Pseudomonas aeruginosa, các kháng sinh penicilin

và cephalosporin dường như khơng có hoặc chỉ có rất ít, chỉ có carbapenem mới có

tác dụng hậu kháng sinh [3, 15, 23].

Tác dụng hậu kháng sinh của nhóm beta-lactam thường rất ngắn. Trong một

mơ hình nhiễm khuẩn đùi trên chuột giảm bạch cầu, PAE của các beta-lactam với

Staphylococcus aureus là từ 1,2 đến 4,5 giờ. Penicilin và cephalosporin có PAE với

các vi khuẩn Gram dương là từ 1 đến 3 giờ. Ví dụ như các kháng sinh Penicilin:

PAE của benzylpenicilin (penicilin G), ampicilin, cloxacilin, dicloxacilin, nafcilin

và methicilin bằng 1,5 đến 1,9 giờ trong các thử nghiệm in vitro ở nồng độ 4-5 lần

MIC sau 2 giờ tiếp xúc trên các tụ cầu và liên cầu [28, 32]. PAE của các kháng sinh

carbapenem với Pseudomonas aeruginosa là nhỏ hơn 2 giờ phụ thuộc vào chủng vi

khuẩn [32].

Tác dụng hậu kháng sinh phụ thuộc vào nồng độ, thời gian phơi nhiễm, và

thay đổi theo kháng sinh, vi khuẩn, khi kết hợp kháng sinh.

Khi nồng độ tăng, PAE cũng tăng. Theo các nghiên cứu in vitro và in vivo

trên cả vi khuẩn Gram âm và Gram dương, các cephalosporin có PAE tăng khi nồng

độ tăng, bất kể đường dùng là uống hay tiêm [24, 33]. Hoặc với các carbapenem, khi

tăng nồng độ của imipenem và meropenem, PAE với các vi khuẩn Staphylococcus

aureus, Pseudomonas aeruginosa và Escherichia coli cũng tăng lên [24].

Tương tự như vậy, PAE cũng tăng khi thời gian vi khuẩn phơi nhiễm với

kháng sinh tăng. Khi các penicilin tiếp xúc với các tụ cầu và liên cầu như

benzylpenicilin và Staphylococcus aureus hay ampicilin và Streptococcus

pneumoniae trong 2 giờ ở nồng độ 4-5 lần MIC, PAE chỉ bằng 1,5 –1,9 giờ, khi thời

gian phơi nhiễm tăng lên 4 giờ, PAE tăng lên đến 4 giờ [28].



31



Tác dụng hậu kháng sinh thay đổi theo từng kháng sinh. Ví dụ như trên cùng

tụ cầu Gram dương Staphylococcus aureus, theo một nghiên cứu trên mơ hình chuột

nhiễm khuẩn đùi giảm bạch cầu, PAE của benzylpenicilin và nafcilin là 1,4 và 3,0

giờ, [28]. Cũng trên chủng tụ cầu vàng Staphylococcus aureus, sau 2 giờ tiếp xúc

với nồng độ 10×MIC, PAE của ertapenem và imipenem tương ứng là1,5 và 1,3 giờ

[44]. Hay trong một thí nghiệm in vitro khác, PAE của Escherichia coli và

Pseudomonas aeruginosa khi tiếp xúc với nồng độ bằng 4×MIC của imipenem là 2

và 4 giờ, còn với meropenem là 5 và 4 giờ [28].

Một kháng sinh cũng có tác dụng hậu kháng sinh trên những vi khuẩn khác

nhau là khác nhau. Ví dụ như penicilin chỉ có tác dụng hậu kháng sinh trên các vi

khuẩn Gram dương, khơng có trên các vi khuẩn Gram âm, dẫn đến thời gian nồng

độ thuốc trên MIC cần thiết của penicilin trên các vi khuẩn Gram âm dài hơn so với

các vi khuẩn Gram dương, nên khoảng cách đưa liều khi điều trị nhiễm khuẩn Gram

dương được kéo dài hơn so với Gram âm. Tương tự như vậy, các cephalosporin chỉ

có tác dụng hậu kháng sinh trên những vi khuẩn Gram dương như tụ cầu và liên

cầu, chứ khơng có trên các vi khuẩn Gram âm như họ vi khuẩn đường ruột và trực

khuẩn mủ xanh. Trong một thử nghiệm in vivo trên chuột nhiễm khuẩn đùi giảm

bạch cầu, cefazolin và cefoperazon đều có tác dụng hậu kháng sinh từ 2,1 đến 5,6

giờ trên Staphylococcus aureus, nhưng khơng có trên Escherichia coli, Klebsiella

pneumoniae và Pseudomonas aeruginosa. Một thử nghiệm khác với các kháng sinh

nhóm cephalosporin, như cefotaxim, cefoperazon và ceftazidim, sau 2 giờ tiếp xúc

ở nồng độ 4-5×MIC, các kháng sinh này có PAE từ 0,9 đến 1,5 giờ trên

Staphylococcus aureus, nhưng khơng có PAE trên Pseudomonas aeruginosa và

Escherichia coli [24].

Sự phối hợp các kháng sinh cũng làm thay đổi PAE của các kháng sinh đơn

lẻ. Sử dụng mơ hình nhiễm khuẩn đùi chuột do Staphylococcus aureus để đánh giá

hiệu quả của việc kết hợp kháng sinh, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi kết hợp

aminoglycosid và một beta-lactam sẽ tạo ra một PAE dài hơn so với PAE của từng

thành phần [32].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

32



Nhìn chung, PAE quan sát thấy trên in vivo lớn hơn in vitro, do tác dụng hậu

kháng sinh dưới MIC và tác dụng của bạch cầu. Ví dụ, PAE của benzylpenicilin là

2,4 h với Streptococus pyogenes. Khi phơi nhiễm với nồng độ dưới MIC của

penicilin (0,3 × MIC), PAE với Streptococus pyogenes tăng lên đến 22 giờ [32].

Hoặc trong một thử nghiệm trên chuột giảm bạch cầu bị nhiễm khuẩn đùi, các betalactam với các liều khác nhau, tạo ra một PAE từ 1,5 đến 3 giờ, còn trên chuột

thường, PAE kéo dài hơn từ 3 – 5 giờ [9].

PAE là một thông số dược lực học quan trọng xác định thời gian trên MIC

cần thiết, từ đó xây dựng một phác đồ dùng thuốc tối ưu cho các beta-lactam. Sự tồn

tại của PAE ngụ ý rằng thời gian trên MIC có thể ít hơn 100% khoảng thời gian

dùng thuốc, do đó có thể dùng thuốc gián đoạn [32].



2.4. Dược động học/ dược lực học của các kháng sinh nhóm beta-lactam

2.4.1. Kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc thời gian

Eagle là người đầu tiên đề xuất khái niệm kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc

thời gian cho beta-lactam từ cuối những năm 1940. Eagle đã chứng minh trên in

vivo, nồng độ penicilin kéo dài là cần thiết cho hiệu quả điều trị và giảm tổng lượng

thuốc hàng ngày. Eagle cũng đã chứng minh in vivo trên mơ hình chuột và thỏ đã

mất bạch cầu, thời gian nồng độ penicilin trên MIC của vi khuẩn có liên quan đến

hiệu quả của thuốc [32].

Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng khi tăng nồng độ từ 0

đến 4 - 5 lần MIC, tác dụng của beta-lactam tăng. Tác dụng tối đa của beta-lactam

đạt được khi nồng độ thuốc tự do trong huyết thanh duy trì ở mức 4 – 5 lần MIC [8,

23, 26, 35, 36]. Khi tăng nồng độ hơn nữa thì hiệu quả diệt khuẩn (tốc độ và mức độ



diệt khuẩn) thu được tăng không đáng kể, thậm chí là khơng tăng [3, 8, 23, 36]. Ví

dụ như một nghiên cứu của Craig và Andes trên in vitro với kháng sinh ticarcilin đã

chứng minh beta-lactam là kháng sinh độc lập vào nồng độ và phụ thuộc thời gian.

Tỷ lệ và mức độ diệt khuẩn giữa 4×MIC so với 16×MIC và 64×MIC là tương tự,

điều này cho thấy đưa thuốc đạt nồng độ vượt quá MIC gấp bốn lần là khơng cần

thiết [32].



33



Nhóm chứng



Log10

CFU/ml



0,25 MIC

1 MIC

4 MIC

16 MIC

64 MIC



Thời gian (giờ)

Hình 5: Đường cong diệt khuẩn của kháng sinh ticarcilin [32].

2.4.2. Thông số PK/PD dự báo hiệu quả điều trị của các kháng sinh betalactam là %T>MIC

Theo các nghiên cứu in vitro, in vivo, beta-lactam là kháng sinh phụ thuộc

vào thời gian, thông số PKPD dự đốn chính xác nhất tác dụng của beta-lactam là

%T>MIC [23, 32, 34, 36, 38]. Theo các nghiên cứu in vitro, trên động vật, cũng

như trên lâm sàng, để đạt hiệu quả điều trị thì %T>MIC phải đạt 40-50% [22, 34,

44]. Khi %T>MIC đạt 40-50%, tỉ lệ sạch khuẩn đã lên tới 85% - 100% [9, 43].



Trong một nghiên cứu dùng beta-lactam cho các bệnh nhân viêm tai giữa nhiễm

Streptococcus pneumoniae và Haemophilus influenza, mức độ diệt khuẩn đạt từ

80% - 85% khi %T>MIC ≥ 40% - 50%. Một nghiên cứu khác trên những bệnh nhân

nhập viện do viêm phổi mắc phải tại cộng đồng, hiệu quả lâm sàng khơng có sự

khác biệt khi dùng cefuroxim 1500mg /ngày truyền liên tục (T>MIC=100%) với

750 mg×3 lần/ngày truyền gián đoạn (T>MIC= 50% - 60%) [34]. Điều này cho thấy

rằng %T>MIC khoảng 50% là đã đủ đạt hiệu quả điều trị cần thiết [34, 44]. Tuy

nhiên, cần lưu ý rằng %T>MIC mục tiêu cũng thay đổi theo từng kháng sinh, vi

khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và đối tượng bệnh nhân.



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

34



Theo như nhiều tài liệu thì %T>MIC cần phải đạt được để có tác dụng kìm

khuẩn với các kháng sinh nhóm penicilin là 30%, cephalosporin là 35-40%, với

carbapenem là 20%, còn để có tác dụng diệt sạch vi khuẩn thì là 50% với penicilin,

60-70% với cephalosporin và với carbapenem là 40% [3, 21, 22, 30, 31, 37, 44].

%T>MIC của carbapenem thấp nhất trong nhóm beta-lactam do PAE in vivo của

các kháng sinh nhóm này cao nhất [5]. Trong cùng một nhóm %T>MIC mục tiêu

của các kháng sinh với một vi khuẩn nhất định có khác nhau, nhưng khơng đáng kể.

Ví dụ như %T>MIC của 6 kháng sinh nhóm cephalosporin dưới đây với chủng

Klebsiella pneumoniae chuẩn [9].



Hình 6: Giá trị %T>MIC của 6 kháng sinh nhóm cephalosporin với chủng

Klebsiella pneumoniae chuẩn.

Hình 6 cho thấy giá trị %T>MIC tính theo nồng độ thuốc tự do trong huyết

tương của 6 kháng sinh nhóm cephalosporin: ceftazidim, cefepim, cefpirom,

cefotaxim, ceftriaxon và cefonicid là xấp xỉ nhau. Tuy nhiên do tỉ lệ liên kết với

protein khác nhau nên giá %T>MIC tính theo nồng độ thuốc tồn phần có sự khác

biệt [9].

Giá trị %T>MIC cũng thay đổi theo từng đối tượng bệnh nhân. Những nghiên

cứu trên đối tượng bệnh nhân nhiễm các chủng đa kháng có MIC cao cho thấy

%T>MIC cần phải cao hơn so với những đối tượng bình thường [3, 43]. Với những

bệnh nhân bình thường %T>MIC cần thiết chỉ bằng khoảng 40-70%, nhưng đối với



35



những bệnh nhân nặng %T>MIC cần phải đạt tới 100% để đảm bảo hiệu quả điều

trị có kết quả [37].

Các vi khuẩn khác nhau cũng đặt ra những %T>MIC khác nhau. Ví dụ như với

các vi khuẩn Gram dương, %T>MIC của beta-lactam cần đạt được của để đảm bảo

sạch khuẩn nhìn chung là ≥ 30-40%, còn với vi khuẩn Gram âm là ≥ 60-70% [39].

Cụ thể với các kháng sinh nhóm cephalosporin, %T>MIC cần đạt được để tối ưu

hố hiệu quả điều trị, là khoảng 60–70% với Enterobacteriaceae và 40–50% với

Staphylococcus aureus [37]. Hay để tạo ra cùng một hiệu quả diệt khuẩn, cefazolin

cần tiếp xúc với Escherichia coli lâu hơn Staphylococcus aureus (%T>MIC > 60%

so với 20%). Sự khác biệt này là do cefazolin có tác dụng hậu kháng sinh trên

Staphylococcus aureus mà khơng có tác dụng hậu kháng sinh trên Escherichia coli

[32]. Một nghiên cứu trên mơ hình chuột nhiễm khuẩn đùi và viêm phổi, điều trị

bằng ba kháng sinh nhóm carbapenem cũng chỉ ra rằng, với những vi khuẩn khác

nhau, %T>MIC mục tiêu khác nhau. %T>MIC mục tiêu của ba kháng sinh

imipenem, meropenem, biapenem khơng có sự khác biệt đáng kể, nhìn chung là với

Escherichia coli, %T>MIC mục tiêu bằng 30%, với Klebsiella pneumoniae hoặc

Pseudomonas aeruginosa là 20% [28].



2.5. Ứng dụng PK/PD kháng sinh beta-lactam trên lâm sàng

2.5.1. Tối ưu hoá hiệu quả điều trị

Beta-lactam là kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc thời gian. Thông số PK/PD

quan trọng nhất dự đoán được kết quả điều trị của các kháng sinh beta-lactam là

%T>MIC. Để tối ưu hoá hiệu quả điều trị các bệnh nhiễm khuẩn hay để đạt được

%T>MIC mục tiêu với kháng sinh beta-lactam, các biện pháp sau đây thường được

đề xuất: tăng liều, tăng tần suất đưa thuốc, dùng các thuốc có dược động học được

cải thiện như dùng các kháng sinh có thời gian bán thải dài hơn hoặc tăng thời gian

tiêm truyền [21, 22, 26, 31, 32, 38]. Có thể tăng thời gian tiêm truyền bằng cách

truyền gián đoạn, mỗi lần từ 0,5-1 giờ, truyền dài hơn từ 3-4 giờ, hoặc truyền liên

tục trong 24 giờ với một tốc độ truyền xác định và thường được bắt đầu bằng một

liều lớn tiêm tĩnh mạch [23].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

36



a) Tăng liều

Một nghiên cứu mô phỏng bằng phương pháp Monte Carlo với TZP

(Piperacilin-tazobactam) cho thấy khi tăng liều TZP từ 3,375g lên 4,5g mỗi 6 giờ,

không làm thay đổi đáng kể hiệu quả điều trị. Để tăng T >MIC lên một t1/2, liều cần

phải tăng hai lần. Vì hầu hết các kháng sinh nhóm beta-lactam có t1/2 = 30 phút – 1

giờ nên tăng gấp đôi liều cũng chỉ tăng thêm 30 phút – 1 giờ nồng độ thuốc trong

huyết tương trên MIC, điều này khơng có nhiều ý nghĩa trên lâm sàng, trong khi

tăng liều dẫn đến tăng chi phí điều trị và độc tính [21]. Một thử nghiệm in vivo với

kháng sinh piperacilin cho thấy khi tăng liều lên gấp đôi từ 2g lên 4g truyền trong

30 phút, thì thời gian nồng độ thuốc trong huyết tương trên MIC cũng chỉ tăng được

một t1/2 là 1,5 giờ [22].

2g truyền 30 phút

4g truyền 30 phút



2g truyền 4 giờ

MIC = 10mg/L



Nồng

độ

(mg/L)



Thời gian (giờ)

Hình 7: So sánh thời gian nồng độ thuốc trên MIC của 3 phác đồ: piperacilin 2g

truyền trong 30 phút, 4g truyền trong 30 phút và 2g truyền trong 4 giờ [22]

b) Tăng tần suất đưa thuốc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: DƯỢC ĐỘNG HỌC – DƯỢC LỰC HỌC CỦA KHÁNG SINH NHÓM BETA-LACTAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×