Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân loại kháng sinh theo dược động học/ dược lực học

Phân loại kháng sinh theo dược động học/ dược lực học

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



kháng sinh nhóm aminoglycosid. Khi Cpeak/MIC ≥ 10, thì tỷ lệ này ≥ 88% [2].

Theo một nghiên cứu khác của Kashuba và cộng sự, cho thấy khi dùng ngay từ

ngày đầu tiên các kháng sinh nhóm aminoglycosid trên những bệnh nhân viêm phổi

bệnh viện, khả năng hết sốt và số lượng bạch cầu trở về bình thường vào ngày thứ 7

của đợt điều trị đạt tới hơn 90% khi Cpeak/MIC ≥ 10. Điều này có nghĩa rằng nếu

bệnh nhân được điều trị với một liều hợp lý để thu được một Cpeak cao, thì hiệu

quả điều trị sẽ được tối ưu hố. Nếu bệnh nhân dùng liều thấp và khơng thường

xun, thì chỉ có 60% cơ hội đạt hiệu quả điều trị trong vòng 7 ngày. Những dữ liệu

này cho thấy dùng thuốc một cách chính xác và sớm sẽ cung cấp một cơ hội để tối

đa hóa hiệu quả kháng khuẩn [2].

Với các kháng sinh nhóm fluoroquinolon, AUC/MIC mục tiêu để có tác

dụng tối ưu trên vi khuẩn Gram âm là khoảng 125, trên vi khuẩn Gram dương là 40.

Tuy nhiên, giá trị AUC/MIC mục tiêu của các kháng sinh fluoroquinolon là khác

nhau trên một khoảng rất rộng giữa các nghiên cứu [4]. Forrest và cộng sự đã

nghiên cứu việc sử dụng ciprofloxacin để điều trị những bệnh nhân viêm phổi bệnh

viện, kết quả cho thấy với AUC/MIC ≥ 125, cả hiệu quả trên vi sinh và lâm sàng

đều được tối đa hóa. Khi đã tối ưu hố hiệu quả vi sinh thì khả năng vi khuẩn kháng

thuốc sẽ được tối thiểu hố, vì vi khuẩn đã bị loại trừ trước khi phát triển sức đề

kháng. Các vi khuẩn khác nhau sẽ có MIC với các kháng sinh khác nhau. Ví dụ như

các nghiên cứu về AUC/MIC của các kháng sinh nhóm fluoroquinolon như

ciprofloxacin, levofloxacin, gatifloxacin và moxifloxacin đối với Escherichia coli,

cho kết quả rất cao (từ 400 đến 1806). Những phát hiện này dự đốn các kháng sinh

nhóm fluoroquinolon có hiệu quả điều trị cao đối với vi khuẩn Escherichia coli.

Trong một mô phỏng Monte Carlo của bốn phác đồ khác nhau của levofloxacin và

ciprofloxacin đối với Pseudomonas aeruginosa (phân bố MIC của 671 chủng), xác

suất tối đa đạt AUC/MIC> 125 mục tiêu là chỉ 71% (sử dụng ciprofloxacin 400 mg

tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ). Phát hiện này cho thấy với nhiễm khuẩn nặng nghi ngờ

do Pseudomonas aeruginosa nên sử dụng các kháng sinh fluoroquinolon ở liều cho

hiệu quả tối đa hoặc là sử dụng liệu pháp phối hợp.



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

12



Kết quả từ các nghiên cứu được tiến hành in vitro, trên động vật và trên

người đã cho thấy với những nhiễm khuẩn đường hơ hấp dưới nhiễm Streptococcus

pneumoniae, cho thấy việc duy trì AUC/MIC ≥ 40 của các kháng sinh nhóm

fluoroquinolon là đã đủ để tối ưu hoá hiệu quả diệt khuẩn. Con số này thấp hơn so

với các nhiễm khuẩn Gram âm (là > 125) [2].

Nhóm 2:

Nhóm 2 bao gồm các kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn ít phụ thuộc vào

nồng độ, phụ thuộc vào thời gian và có tác dụng hậu kháng sinh ngắn. Nồng độ cao

khơng có tác dụng diệt khuẩn tốt hơn nồng độ thấp [32, 34]. %T>MIC là thơng số

PK/PD quan trọng nhất dự đốn hiệu quả điều trị của kháng sinh. Với những kháng

sinh này, tần số đưa thuốc và liều là những yếu tố quyết định quan trọng tác dụng

kháng khuẩn [34]. Nhóm 2 bao gồm các kháng sinh beta-lactam, erythromycin,

linezolid [4, 32, 34].

Một nghiên cứu trên động vật viêm phổi do Klebsiella pneumoniae được

điều trị bằng kháng sinh cefotaxime, cho thấy mối tương quan giữa sự giảm số

lượng đợn vị tạo khuẩn lạc và thời gian nồng độ thuốc trên MIC trong suốt 24 giờ

điều trị, không phụ thuộc vào Cpeak/MIC hoặc AUC/MIC. Tác dụng diệt khuẩn tối

đa đạt được khi T > MIC = 50%. Tương tự như vậy, trong mơ hình nhiễm khuẩn đùi

chuột do vi khuẩn Streptococcus pneumoniae, khi điều trị bằng kháng sinh

cefprozil, cả sự giảm số đơn vị tạo khuẩn lạc và tỷ lệ sống sót đều đạt tối đa khi

T>MIC = 50%. Điều này cũng đã được chứng minh bằng các dữ liệu lâm sàng.

Trong một nghiên cứu những bệnh nhân viêm tai giữa được điều trị bằng các kháng

sinh đường uống với liều đảm bảo rằng nồng độ thuốc ln lớn hơn MIC trong ít

nhất một nửa thời gian giữa các khoảng liều, đã cho thấy mối tương quan với hiệu

quả diệt khuẩn cao nhất, đặc biệt là với các kháng sinh nhóm beta-lactam [2].

Nhóm 3:

Nhóm 3 là các kháng sinh diệt khuẩn ít phụ thuộc vào nồng độ, phụ thuộc

vào thời gian và có tác dụng hậu kháng sinh trung bình, thơng số dự đốn tốt nhất

hiệu quả điều trị là AUC/MIC [4, 32, 34]. Tần số đưa liều thường không phải là yếu



13



tố quan trọng quyết định hiệu quả [34]. Nhóm này gồm có các kháng sinh macrolid,

clindamycin, oxazolidinon, tetracycline, vancomycin [4, 32, 34].

Ví dụ như vancomycin, 24h-AUC/MIC cần thiết để đạt hiệu quả điều trị ít

nhất là 125 [4]. Nghiên cứu của Moise và cộng sự được tiến hành trên người, cho

thấy tỉ số AUC/MIC = 350 – 400 có thể dự báo điều trị thành công với bệnh nhân

nhiễm khuẩn hô hấp do Streptococus aureus, trong đó các bệnh nhân đạt tỷ số 24hAUC/MIC ≥ 400 sẽ cho hiệu quả diệt khuẩn nhanh hơn nhóm khơng đạt 24hAUC/MIC = 400, là 10 so với 30 ngày [14].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

14



Bảng 1: Phân loại các kháng sinh theo PK/PD [4], [32], [34].

Kiểu tác dụng



Kháng sinh



Mục tiêu điều trị



Thông số PK/PD



- Tối ưu hóa nồng



Nhóm 1

- Tác dụng diệt

khuẩn phụ thuộc

vào nồng độ.

- Tác dụng hậu

kháng sinh dài



Aminoglycosid

Daptomycin

Fluoroquinolon

Ketolid



độ bằng liều cao.

- Khoảng cách



AUC/MIC



liều có thể được



Cpeak/MIC



kéo dài vì có tác

dụng hậu kháng

sinh.



Nhóm 2

- Tác dụng diệt

khuẩn



ít



phụ



thuộc vào nồng

độ,



phụ



thuộc



vào thời gian.



Beta-lactam

Erythromycin

Linezolid



Tối ưu hóa thời

gian phơi nhiễm



%T>MIC



- Tác dụng hậu

kháng sinh ngắn

Nhóm 3

- Tác dụng diệt

khuẩn



ít



phụ



thuộc vào nồng

độ,



phụ



thuộc



vào thời gian.

- Tác dụng hậu

kháng sinh dài



Macrolid

Clindamycin

Oxazolidinon

Tetracyclin

Vancomycin



Tối ưu hóa lượng

thuốc đưa vào



AUC/MIC



15



1.6.



Những hạn chế của việc ứng dụng PK/PD vào thực hành lâm sàng

và các biện pháp khắc phục



1.6.1. Những hạn chế của việc ứng dụng PK/PD vào thực hành lâm sàng

Để các lý thuyết PK/PD ứng dụng được vào thực hành trên lâm sàng cũng

gặp khá nhiều khó khăn. Đó là sự khác nhau giữa các cá thể về giá trị của các thông

số dược động học như độ thanh thải, thể tích phân bố, dẫn đến sự khác biệt về giá trị

của các thông số dược động học/dược lực học như Cpeak/MIC, AUC/MIC. Do đó,

nồng độ thuốc trong huyết tương nên được định lượng trên từng cá thể bệnh nhân.

Tuy nhiên các phương pháp định lượng nồng độ thuốc trong huyết tương sử dụng

trong nghiên cứu như sắc ký lỏng hiệu năng cao, sắc ký lỏng khối phổ lại không

được sử dụng trên lâm sàng, vì thiết bị có chi phí cao, thời gian quay vòng dài (phải

hiệu chỉnh cột và xây dựng đường chuẩn), trừ một số hệ thống được thiết lập để thử

nghiệm nhiều loại thuốc cùng một lúc. Vì vậy, mỗi lần thử nghiệm nên được tiến

hành trên hàng loạt mẫu. Điều này không thuận lợi khi định lượng nồng độ thuốc

cho các bệnh nhân hàng ngày.

Thêm vào đó, trong những nghiên cứu dược động học của thuốc, tình nguyện

viên đều là những người khỏe mạnh, nên có thể lấy được nhiều mẫu máu trên mỗi

bệnh nhân để xác định chính xác các thơng số dược động học như thể tích phân bố,

độ thanh thải, AUC. Việc lấy mẫu thường xuyên trên bệnh nhân có thể làm gián

đoạn q trình điều trị trên lâm sàng, khơng thích hợp với các nhóm bệnh nhân nhất

định như những bệnh nhân nặng, bệnh nhân có huyết động không ổn định như

người cao tuổi hoặc trẻ em.

Trên thực tế khó có thể thu được mẫu ở vị trí nhiễm khuẩn. Đánh giá hoạt

tính kháng khuẩn thường chỉ dựa trên nồng độ thuốc trong huyết thanh, song thực

chất nồng độ thuốc tại vị trí nhiễm khuẩn mới liên quan trực tiếp đến hiệu quả

kháng khuẩn và có sự khác biệt giữa nồng độ thuốc tại vị trí nhiễm khuẩn và nồng

độ thuốc trong huyết thanh.

Phòng thí nghiệm vi sinh lâm sàng cung cấp những thông tin về sự nhạy cảm

hay kháng của vi khuẩn với kháng sinh, đặc trưng bằng MIC của vi khuẩn. Điều này



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

16



đóng vai trò vơ cùng quan trọng cho các bác sĩ trong việc đưa ra quyết định nên sử

dụng kháng sinh nào và chế độ liều như thế nào để điều trị. Tuy nhiên, không phải

bệnh nhân nào vào viện cũng được làm kháng sinh đồ và thời gian lấy kết quả

kháng sinh đồ thường lâu. Do vậy chủ yếu điều trị nhiễm khuẩn vẫn dựa trên kinh

nghiệm [20].

1.6.2. Các giải pháp tiềm năng

Để giải quyết những khó khăn nêu trên, các phương pháp đánh giá nồng độ

thuốc trong cơ thể cần được khuyến khích phát triển với thời gian quay vòng nhanh

để góp phần định lượng nhanh, đúng nồng độ thuốc trong huyết tương của mỗi bệnh

nhân, để có thể điều trị trên cá thể bệnh nhân.

Một giải pháp khác là xây dựng mơ hình dược động học quần thể thích hợp

để thu được những thơng số dược động học/ dược lực học, từ đó sử dụng như một

hướng dẫn điều trị ban đầu. Các mô hình dược động học/ dược lực học quần thể góp

phần quan trọng trong nghiên cứu mối quan hệ phơi nhiễm và đáp ứng và cung cấp

những kiến thức dược động học trên những nhóm bệnh nhân cụ thể (về dân tộc, di

truyền, giới tính, chức năng thận,…). Dựa trên những dữ liệu thu được từ các mơ

hình nghiên cứu này, một phác đồ điều trị theo kinh nghiệm sẽ được đưa ra một

cách hợp lý trên từng nhóm đối tượng bệnh nhân.

Các chương trình lấy mẫu cần được thiết kế ngẫu nhiên tối ưu. Một dãy các

nồng độ trong huyết thanh là yêu cầu lý tưởng để có được một ước tính chính xác

sự phơi nhiễm thuốc và giá trị của các thông số dược động học/dược lực học trên

bệnh nhân. Tuy nhiên, việc lấy nhiều mẫu trên những bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng

là phi thực tế và thiếu y đức. Các cơng cụ mơ hình hố và tính tốn thơng số dược

động học có thể giúp việc lấy mẫu trở nên đơn giản hơn bằng cách sử dụng thuyết

lấy mẫu tối ưu, xác định thời gian cho nhiều thông tin nhất.

Các dữ liệu định lượng sự nhạy cảm của các tác nhân gây bệnh phải được có

sẵn hoặc có thể được kiểm tra nhanh để có thể cung cấp ngay cho bác sĩ lâm sàng,

bảo đảm các bác sĩ kê đơn những thuốc thích hợp nhất với liều tối ưu nhất [20].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân loại kháng sinh theo dược động học/ dược lực học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×