Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Về trang thiết bị

* Về trang thiết bị

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



chưa có hệ thống phần mềm chuyên dụng quản lý bệnh viện, việc thống kê theo

dõi chủ yếu vẫn thực hiện thủ cơng, chưa có kho bảo quản lạnh, chưa có khu

tiếp nhận và xử lý thuốc trước khi nhập kho, chưa có kho bảo quản thuốc dễ

cháy nổ.

Tóm lại:

Tổ chức khoa Dược được sắp xếp phù hợp với chức năng nhiệm vụ. Tuy

nhiên do nguồn nhân lực thiếu, đặc biệt là DSĐH, trưởng khoa Dược phải kiêm

nhiệm nhiều công việc. Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị của khoa Dược chưa đáp

ứng được yêu cầu về “Thực hành tốt bảo quản thuốc”.

Với nhân lực và cơ sở vật chất – trang thiết bị hiện có, khoa Dược sẽ gặp

rất nhiều khó khăn để thực hiện chức năng nhiệm vụ, đặc biệt là hoạt động cung

ứng thuốc.

3.2.3. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT)

Ngay từ năm 1997, khi BYT ban hành Thông tư số 08/1997/TT-BYT

ngày 04/07/1997, về việc hướng dẫn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của

HĐT&ĐT ở bệnh viện, thì BVĐKHH đã thành lập HĐT&ĐT. Hàng năm, Hội

đồng được kiện toàn củng cố cho phù hợp với tình hình thay đổi của đội ngũ cán

bộ. Mơ hình tổ chức HĐT&ĐT của BVĐKHH, được trình bày ở hình 3.8.



53



CHỦ TỊCH



(Phó giám đốc bệnh viện)



PHĨ CHỦ TỊCH

(Trưởng khoa Dược)



THƯ KÝ



(Trưởng phòng KHTH)



CÁC UỶ VIÊN

- Phụ trách TCKT

- Trưởng phòng điều dưỡng

- Trưởng khoa Nội - Cấp cứu

- Trưởng khoa ngoại sản.

- Trưởng khoa Khám bệnh

- Phụ trách khoa Y học cổ

truyền

- Phó Trưởng khoa Nội-Cấp cứu

- 01 Bác sĩ chun khoa Mắt



Hình 3.8. Mơ hình tổ chức Hội đồng thuốc và điều trị



Nhận xét:

Thành phần của HĐT&ĐT của bệnh viện đa khoa huyện Hạ Hòa về cơ

bản đã có cơ cấu hợp lý, phù hợp với thông tư 08/BYT-TT, ngày 4 tháng 7 năm

1997, hướng dẫn việc tổ chức, chức năng nhiệm vụ của HĐT&ĐT. Tuy nhiên



54



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



qua khảo sát cho thấy vẫn còn một số hạn chế như sau: HĐT&ĐT chưa chủ

động xây dựng, đề xuất được phác đồ điều trị thống nhất cho bệnh viện, chưa đề

xuất thành lập đơn vị thông tin thuốc, vì vậy việc thơng tin thuốc mới chỉ dừng ở

việc thông tin thuốc mới và cũng chưa được thường xuyên, chưa có dược sĩ lâm

sàng nên việc tư vấn sử dụng thuốc hợp lý an tồn còn hạn chế, đây là một yếu

tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng của bệnh viện.

3.2.4. Hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong năm 2012

Kết quả hoạt động khám, chữa bệnh được trình bày trong các bảng 3.10,

bảng 3.11 và hình 3.9.

Bảng 3.10. Số lượng bệnh nhân BHYT khám và điều trị năm 2012

TT



Đối tượng khám, chữa bệnh



Số lượng



Tỷ lệ %



1



Bệnh nhân tham gia BHYT



106 465



67,8



2



Bệnh nhân không tham gia BHYT



50 627



32,2



157 092



100,0



Cộng



55



32.2%



67.8%

Bệnh nhân có BHYT



Bệnh nhân khơng có BHYT



Hình 3.9. Tỷ lệ bệnh nhân BHYT đến khám và điều trị năm 2012



Bảng 3.11. Kết quả điều trị năm 2012

TT



Nội dung



Đơn vị tính



Số lượng



lượt người



10.503



1



Số lượt bệnh nhân điều trị nội trú



2



Tổng số ngày điều trị



Ngày



74.456



3



Số ngày điều trị trung bình (ngày)



Ngày



7,1



4



Tổng số giường bệnh được giao



giường



170



5



Công suất sử dụng giường bệnh



%



119,9



6



Tổng số lượt bệnh nhân điều trị ngoại trú



lượt người



76.500



56



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Nhận xét:

Như vậy, bệnh nhân đến khám và điều trị tại BVĐKHH chủ yếu là các

bệnh nhân tham gia BHYT (67,8%), số bệnh nhân không tham gia BHYT chiếm

tỷ lệ rất thấp (32,2%), điều này có tác động tích cực đến hoạt động cung ứng

thuốc của bệnh viện, do việc thanh tốn chi trả viện phí chủ yếu là nguồn kinh

phí từ cơ quan BHYT, khơng phụ thuộc vào kinh tế bệnh nhân, nên việc lựa

chọn thuốc cung ứng ổn định theo các phác đồ đã xây dựng.

3.2.5. Mơ hình bệnh tật của bệnh viện

Khảo sát theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), trong năm

2012, cho thấy mơ hình bệnh tật của BVĐKHH rất đa dạng, kết quả cụ thể được

trình bày ở bảng 3.12.

Bảng 3.12. Mơ hình bệnh tật năm 2012

Nhóm bệnh



TT



Số bệnh nhân



Tỷ lệ %



1



Bệnh hệ hô hấp



2424



23,1



2



Bệnh hệ cơ xương và mơ liên kết



1208



11,5



3



Chửa đẻ và sau đẻ



1141



10,9



4



Bệnh hệ tiêu hố



1122



10,7



5



Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật



934



8,9



6



Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do



661



6,3



nguyên nhân bên ngoài

7



Bệnh hệ tuần hồn



652



6,2



8



Bệnh hệ tiết niệu sinh dục



381



3,6



57



9



Bệnh Da và mơ dưới da



365



3,5



10



Bệnh Hệ thần kinh



341



3,2



11



Bệnh Tai và Xương



324



3,1



12



Bệnh mắt và phần phụ



320



3,0



13



Khối U



206



2,0



14



Triệu chứng và các dấu hiệu bất thường phát hiện



128



1,2



qua lâm sàng và xét nghiệm

15



Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong



92



0,9



16



Bệnh nội tiết, dinh dưỡng



87



0,8



17



Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ và



37



0,4



34



0,3



32



0,3



7



0,1



7



0,1



10.503



100,0



việc tiếp xúc với cơ quan y tế

18



Bệnh máu, cơ quan tạo máu và 1 số rối loạn liên

quan đến cơ chế miễn dịch



19



Rối loạn tâm thần và hành vi



20



Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm

sắc thể



21



Một số bệnh xuất phát trong thời kì chu sinh

Cộng



58



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Nhận xét:

Các nhóm bệnh chiếm tỷ lệ cao: Bệnh hệ hô hấp chiếm 23,1%, Bệnh hệ

cơ xương và mô liên kết chiếm 11,5%, Chửa đẻ và sau đẻ chiếm 10,9%, Bệnh

hệ tiêu hoá chiếm 10,7%, Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật chiếm 8,9%,.... Sự

tập trung của bệnh tật trên một số bệnh nhất định là yếu tố thuận lợi trong việc

cung ứng thuốc cho bệnh viện, tuy nhiên với các bệnh đa dạng, phân tán, thì lại

gây khó khăn cho cơng tác cung ứng vì với các bệnh số lượng bệnh nhân ít nên

khó mua thuốc và dễ bị lãng phí khi thuốc khơng sử dụng.



59



CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Hoạt động cung ứng của bệnh viện

* Lựa chọn thuốc

Hoạt động lựa chọn thuốc của BVHH đã được thực hiện theo một quy

trình nhất định, dựa vào các yếu tố: Nguồn kinh phí, danh mục thuốc chủ yếu,

danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc trúng thầu, phác đồ điều trị, mơ hình

bệnh tật và danh mục đề nghị từ các khoa để làm căn cứ lựa chọn. Tuy nhiên,

trong việc phân tích đánh giá sử dụng thuốc, HĐT&ĐT chỉ sử dụng các thống

kê đơn giản hàng năm của BV, chưa tiến hành phân tích đánh giá hiệu quả sử

dụng, tồn trữ thuốc, để thu được số liệu chính xác và khách quan hơn, có thể do

vậy mà DMTBV có 298 loại thuốc tân dược nhưng chỉ sử dụng 263 loại. Những

hạn chế này của bệnh viện là do: BV chưa có qui trình chuẩn trong lựa chọn

thuốc, các cán bộ làm công tác cung ứng thuốc và các thành viên của HĐT&ĐT

chưa nắm được các phương pháp phân tích hiện đại để xác định nhu cầu thuốc

của BV một cách phù hợp. Do vậy, để hoạt động lựa chọn thuốc được tốt BV

cần đào tạo cán bộ về các kiến thức phân tích hiện đại cho các thành viên trong

HĐT&ĐT mà trực tiếp là các cán bộ dược làm công tác cung ứng thuốc. Đồng

thời các cán bộ làm công tác cung ứng thuốc cần chủ động tìm hiểu, cập nhật

các phương pháp phân tích mới phù hợp để ứng dụng vào các công tác thực tiễn

hàng ngày của mình.

* Mua thuốc

Chấp hành qui định của Sở y tế Phú Thọ, BVĐKHH không tổ chức đấu

thầu mà tiến hành lựa chọn các nhà cung ứng trúng thầu do Sở Y tế tổ chức đấu

thầu chung cho tồn tỉnh. Hoạt động này của Sở Y tế có thuận lợi cho BV đó là

giảm được chi phí, thời gian tổ chức đấu thầu, nguồn cung ứng thuốc đa dạng dễ

đáp ứng,... Tuy nhiên, hình thức này cũng gây khó khăn cho cơng tác cung ứng



60



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



thuốc của BV đó là có thể thiếu một số thuốc đặc thù mà BV thực sự cần thiết

trong điều trị bệnh có số lượng BN ít; nhiều nhà cung ứng trúng thầu nhưng

chưa biết về các bệnh viện ở xa. Chính vì vậy, để khắc phục tình trang này BV

cần xác định rõ các mặt hàng, số lượng, giá thành..., từ đó đề xuất với Sở Y tế

cho phép một trích dự phòng một nguồn kinh phí để BV tự tìm nhà cung ứng có

năng lực đáp ứng nhu cầu thuốc của BV thông qua chào hàng cạnh tranh, hoặc

có thể Sở Y tế đứng ra mua một số thuốc đặc thù của các BV trong tỉnh, sau đó

chuyển về các BV theo nhu cầu của từng BV. Tuy nhiên, với cả hai phương

pháp này thì cũng chỉ là giải pháp tình thế vì vẫn khó mua hoặc dễ gây lãng phí

nguồn lực và chậm được bảo đảm thuốc theo nhu cầu điều trị.

* Bảo quản, cấp phát và tồn trữ thuốc

Hoạt động cấp phát thuốc của BV đã được thực hiện chặt chẽ, đúng qui

định của ngành, nhưng hoạt động bảo quản và tồn trữ thuốc còn gặp nhiều khó

khăn. Thiếu trang thiết bị ở một số bộ phận (như đã nêu ở mục cơ sở vật chất,

trang thiết bị của khoa Dược), do vậy chất lượng thuốc có thể bị giảm sút (đặc

biệt là các thuốc nhạy cảm với nhiệt độ, độ ẩm). Mặc dù chưa thấy tai biến hay

điều trị không hiệu quả do thuốc kém chất lượng. Nhưng khoa Dược và

HĐT&ĐT cần tham mưu cho lãnh đạo quan tâm hơn nữa đến công tác bảo quản

thuốc, vì cơng tác bảo quản thuốc là khâu đặc biệt quan trọng trong hoạt động

cung ứng thuốc.

Công tác tồn trữ thuốc của bệnh viện chưa đảm bảo lượng thuốc dự trữ

cho điều trị (đạt 0,97 tháng), mà theo quy định của BYT là 2-3 tháng. Với lượng

tồn trữ như hiện nay thì bệnh viện đang tiềm ẩn một yếu tố rủi ro rất cao, nếu

trong thời gian tới có những diễn biến bất thường (thiên tai, thảm hoạ, chiến

tranh, dịch bệnh...), thì việc thiếu thuốc điều trị là khơng tránh khỏi. Bệnh viện

cần tăng nguồn kinh phí cho mua thuốc, đảm bảo duy trì lượng tồn kho theo

đúng quy định của BYT.



61



* Giám sát sử dụng thuốc

Theo nghiên cứu cho thấy các thuốc được chỉ định sử dụng ở BV là các

thuốc nằm trong danh mục thuốc của BV. Công tác giám sát sử dụng thuốc của

BV được tiến hành thường xuyên với các hoạt động kiểm tra của các phòng ban

chức năng và ban giám đốc bệnh viện, đã tác động tích cực đến việc cung ứng

thuốc. Tuy nhiên, quá trình sử dụng thuốc, giám sát sử dụng thuốc và thơng tin

thuốc của BVĐKHH còn một số hạn chế sau:

Hoạt động thông tin thuốc, do bệnh viện chưa thành lập đơn vị thông tin

thuốc, nên việc thông tin thuốc chỉ dừng lại ở mức độ thông báo các văn bản của

BYT về thuốc mới cấp số đăng ký, cảnh báo về phản ứng có hại của thuốc,

thơng tin thu hồi thuốc..., mà chưa có các thơng tin theo các nguồn khác như của

tổ chức y tế, của một số nước khác và các cơ quan nghiên cứu,...

Trong sử dụng thuốc chỉ sử dụng tập trung trên một số nhóm thuốc

(kháng sinh, giảm đau,...) đặc biệt là một BV đóng trên địa bàn miền núi xa tỉnh

lỵ nhưng cũng đã sử dụng nhiều thuốc thuộc nhóm corticoid, nhiều kháng sinh

mới, có hoạt lực mạnh như cefixim, cefuroxim..., nhiều loại thuốc có trong

DMTBV nhưng khơng được sử dụng.

Những thiếu sót này của BVĐKHH theo tơi là do BV còn tồn tại một số

vấn đề về nhân lực và chưa làm tốt một số công tác sau: Công tác thư viện của

BV chưa được chú trọng (thư viện khơng có nhiều tài liệu chuyên ngành và rất ít

các tài liệu chuyên ngành xuất bản những năm 2010 trở lại đây. Nên việc cập

nhật thơng tin y tế nói chung, phương pháp điều trị và thơng tin thuốc mới nói

riêng thực hiện sẽ khơng có hệ thống và bị động. Việc điều trị theo phương pháp

YHCT cũng như việc kết hợp hai nền y học của BV cũng còn nhiều hạn chế, do

thiếu bác sỹ chuyên ngành YHCT và thiếu sự quan tâm của BV trong định

hướng điều trị nên DMT YHCT của BV còn ít cả về số lượng thuốc và chiếm tỷ

lệ nhỏ trong kinh phí sử dụng mua thuốc.



62



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



Do vậy, để hoạt động sử dụng, giám sát sử dụng thuốc và thông tin thuốc

của bệnh viện đa khoa huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ hoạt động được tốt hơn theo

chúng tôi bệnh viện cần làm tốt các công tác sau: Cần quan tâm chú trọng cơng

tác tủ sách bệnh viện, bệnh viện có nhiều tài liệu chuyên ngành mới cập nhật là

điều kiện thuận lợi để các cán bộ, nhân viên trong bệnh viện tiện tra cứu và cập

nhật các phác đồ điều trị mới, thông tin thuốc mới..., ứng dụng trong công tác

hàng ngày tại bệnh viện. Đồng thời đây cũng sẽ tạo nguồn động lực cho các cán

bộ không ngừng nâng cao trình độ chun mơn của mình.

Bệnh viện cần quan tâm nghiên cứu đánh giá tồn diện q trình sử dụng

thuốc của bệnh viện trên cơ sở đánh giá này bệnh viện sẽ lựa chọn được các

thuốc có hiệu lực điều trị, an toàn và kinh tế cho người bệnh.

4.2. Về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng

* Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức, cơ bản phù hợp so với quy định của BYT, do đó việc tổ

chức thực hiện việc cung ứng thuốc sẽ thuận lợi.

* Nguồn nhân lực của Bệnh viện

Nhân lực của bệnh viện thiếu nhiều so với định mức biên chế; năm 2012

tổng sốán bộ trên giường bệnh là 119/170 (~0,7), tỷ lệ này thấp hơn so với định

mức quy định cho bệnh viện đa khoa hạng III là 1,1-1,2. Tỷ lệ cán bộ có trình độ

sau đại học của BV (4,2%) thấp hơn các BV đa khoa hạng III ở cùng tỉnh và một

số địa phương khác (như BVĐK huyện Đoan Hùng 4,8%; BVĐK huyện Cẩm

Khê 5%...). Về cơ cấu nhân lực cán bộ dược: Tỷ lệ DSĐH/BS là 1/24 (theo quy

định là 1/8), tỷ lệ DSĐH/DSTH là 1/3,5 tỷ lệ này thấp hơn mức biên chế quy

định trong Thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV, (mức quy định trong Thông tư

từ 1/1,2-1/1,25). Tuy nhiên, có 02 cán bộ dược (gồm 01 DSĐH và 01 DSTH)

khơng được bố trí trong khoa dược, mà phân cơng làm việc tại phòng ban khác

khơng làm nhiệm vụ chun môn dược. Cán bộ dược thiếu, tổ chức dàn trải ảnh



63



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Về trang thiết bị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×