Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều trị đái tháo đường

Điều trị đái tháo đường

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

5



- Kiểm soát đường huyết bằng cách định lượng đường huyết thường

xuyên để chỉnh liều thuốc cho phù hợp [4].

- Giáo dục bệnh nhân những kiến thức về ĐTĐ để bệnh nhân phối hợp

tốt trong điều trị, biết cách tự dùng thuốc và phòng ngừa được biến

chứng [4].

- Khám định kỳ để theo dõi các biến chứng và có tham vấn của bác sỹ

khi có vấn đề đặc biệt xảy ra [4].

1.2.2.2. Các phác đồ điều trị

a. Các phác đồ điều trị bằng insulin

Có nhiều phác đồ điều trị insulin khác nhau. Đối với ĐTĐ typ 1 thường

sử dụng các phác đồ 2- 4 mũi/ ngày. Đối với ĐTĐ typ 2 ngoài phác đồ như

ĐTĐ typ 1 có thể sử dụng thêm phác đồ 1 mũi insulin kết hợp với thuốc viên

(insulatard, lantus) [2].

ĐTĐ thai kỳ thưởng sử dụng phác đồ 1-4 mũi/ ngày tùy theo nồng độ

đường huyết bệnh nhân. Chỉ sử dụng loại insulin tổng hợp (actrapid, mixtard,

insulatard) [2].

- Phác đồ 1 mũi insulin : phối hợp thuốc viên điều trị ĐTĐ với 1 mũi

insulin tác dụng trung gian hoặc hỗn hợp vào trước bữa ăn tối hoặc 1

mũi insulin tác dụng trung gian hoặc Glargin (lantus) vào buổi tối trước

khi đi ngủ.

- Phác đồ 2 mũi insulin : thường sử dụng 2 mũi insulin tác d ụng trung

gian hoặc insulin hỗn hợp tiêm trước ăn sáng và tối. Chia liều 2/3 trước

bữa điểm tâm sáng, 1/3 trước bữa ăn tối. Khi với phác đồ trên thất bại,

chế độ ăn và chế độ sinh hoạt thất thường hoặc khi cần kiểm soát chặt

chẽ đường huyết như khi có thai hoặc khi có các biến chứng nặng cần

sử dụng các phác đồ khác với nhiều mũi insulin [2].



6



- Phác đồ nhiều mũi insulin: tiêm 3 lần trong ngày: 2 mũi nhanh và 1 mũi

bán chậm hoặc 2 mũi bán ch ậm hoặc insulin nền. Tiêm 4 lần trong

ngày: 3 mũi insulin tác dụng nhanh trước 3 bữa ăn và 1 mũi insulin nền

loại NPH trước khi ngủ hoặc Glargin (lantus) [2].

b. Phác đồ điều trị ĐTĐ typ 2 của IDF năm 2005 và 2012

Trong cả 2 phác đồ này, metformin là ưu tiên sử dụng đầu tiên cho

kiểm soát đường huyết, tiếp đến là sulfonamid/dẫn xuất ure. Điều này cho

thấy trong giai đoạn nghiên cứu, khơng có sự thay đổi về vai trò của

metfomin và sulfonamid trong việc kiểm soát đường huyết.

- Phác đồ điều trị ĐTĐ của IDF năm 2005 [16]

Bước 1. Thay đổi lối sống.

Bước 2. Sử dụng metformin, theo dõi chức năng thận khi sử dụng.

Bước 3. Sử dụng sulfonamid/dẫn xuất ure khi metformin khơng kiểm

sốt được đường huyết. Insulin tác dụng nhanh có thể thay thế sulfonamid.

Bước 4. Sử dụng (thiazolidindion + metformin) hoặc (thiazolidinedion

+ sulfonamid) hoặc (thiazolidinedion + một thuốc dạng kết hợp của

metformin và sufonamid) khi bước 3 không đạt được mục tiêu điều trị.

Bước 5. Sử dụng chất ức chế alpha glucosidase như một thuốc thêm

vào.

Bước 6. Tăng liều, dùng thêm các thuốc hạ đường huyết khác, dùng

insulin.

- Phác đồ điều trị ĐTĐ typ 2 của IDF năm 2012 [14]

Bắt đầu việc điều trị bằng cách thay đổi lối sống, nếu không đạt mục

tiêu ở mỗi bước (thường là HbA1C <7,0%). Sẽ sử dụng các biện pháp điều trị

sau:

Bước 1. Sử dụng metformin, có thể thay thế bằng sulfonamid/dẫn xuất

ure hay chất ức chế alphaglucosidase.



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

7



Bước 2. Sử dụng sulfonamid/dẫn xuất ure, có thể thay thế bằng một

trong các thuốc: metformin, chất ức chế alphaglucosidase, thiazolidinedion,

DPP-4.

Bước 3. Lựa chọn một trong các thuốc: insulin tác dụng kéo dài, insulin

dạng hỗn hợp, ức chế alpha-glucosidase, DPP-4, thiazolidinedion, có thể thay

thế bằng chất đồng vận GLP1.

Bước 4. Lựa chọn một trong các thuốc: một insulin tác dụng kéo dài và

một meal-time insulin, insulin nền hoặc insulin hỗn hợp.

c. Phác đồ điều trị ĐTĐ của hiệp hội ĐTĐ Mỹ và hiệp hội nghiên cứu ĐTĐ

Châu Âu

Chiến lược điều trị ĐTĐ typ 2 theo đồng thuận của Hiệp hội ĐTĐ Mỹ

(American Dental Asociation -ADA) và Hiệp hội nghiên cứu ĐTĐ châu Âu

(European Association for the Study of Diabetes - EASD) đưa ra năm 2009

được trình bày trong hình 1.1.

Từ hình 1.1 phía dưới ta thấy:

Trong phác đồ loại 1, là phác đồ được ưu tiên điều trị thì metformin,

sulfonamid/dẫn xuất ure và insulin là những nhóm thuốc quan trọng nhất

trong việc kiểm soát đường huyết.

Phác đồ 1 là các phác đồ điều trị hiệu quả và kinh tế nhất. Các phác đồ

này được đưa ra dựa vào các kết quả thử nghiệm lâm sàng, và đã đư ợc chứng

minh là giúp đạt được HbA1c đích nên được lựa chọn cho hầu hết các bệnh

nhân.

Phác đồ loại 2 khác với loại 1 ở bước thứ hai và thứ ba. Phác đồ loại 2

này thường được áp dụng ít phổ biến hơn phác đồ loại 1.



8



LOẠI 1: Điều trị cơ bản, đầy đủ bằng chứng



TĐLS

+Met+Sul



Chẩn đoán ĐTĐ: Thay

đổi lối sống (TĐLS) +

Met



TĐLS+ Met+

Insulin nền



LOẠI 2: ít có bằng chứng hơn



Ghi chú:

TĐLS: Thay đổi lối

sống,

Met: metformin,

Sul: Sulfonamid/dẫn

xuất ure,

Pio: Pioglitazone,

Ins: Insulin.



BƯỚC 1



TĐLS +

Met+ Ins tích

cực



TĐLS + Met+ Pio

Khơng gây hạ Gluose máu

Gây phù,suy tim, Mất

xương

TĐLS +Met+ Đồng vận

GLP-1

Không hạ glucose máu

Giảm cân, nơn, buồn nơn



BƯỚC 2



TĐLS

+ Met+

Pio+

Sul



ĐTLS +

Met+

Ins nền



BƯỚC 3



Hình 1.1. Phác đồ điều trị ĐTĐ của ADA và EASD năm 2009 [17]

1.3.



Tổng quan về thị trường thuốc nhập khẩu và thuốc điều trị đái

tháo đường tại Việt Nam



1.3.1. Vai trò của thuốc nhập khẩu

Trong thời gian gần đây, nhu cầu sử dụng thuốc của người dân ngày

càng tăng cao. Tiền thuốc bình quân đầu người 2008 (16,45 USD/ người) tăng

gấp hơn 2 lần so với năm 2004 (8,6 USD/người) [5]. Trước nhu cầu sử dụng

thuốc của người dân ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng thì ngành



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

9



dược cần không ngừng phát triển về quy mơ và chất lượng. Bên cạnh đó, khả

năng sản xuất thuốc trong nước còn hạn chế (thuốc thành phẩm chỉ đáp ứng

được 50% nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân, 90% nguyên liệu làm thuốc

vẫn phải nhập khẩu). Do đó, thuốc nhập khẩu đóng vai trò r ất quan trọng

trong hệ thống y tế ở nước ta.

So sánh tỷ trọng thuốc trong nước và thuốc nhập khẩu dựa trên tổng giá

trị tiền thuốc từ năm 2006-2010 được thể hiện ở bảng 1.2. Theo đó ta thấy, tỷ

trọng thuốc nhập khẩu là tương đương với thuốc trong nước.

Bảng 1.1. Tỷ trọng thuốc trong nước và nhập khẩu [9]

Năm



Tổng giá trị tiền

thuốc

(Triệu USD)



2006

2007

2008

2009

2010



956,353

1136,350

1425,660

1686,140

1913,660



Thuốc trong nước

Giá trị

(Triệu USD)



475,400

600,630

715,440

831,210

919,040



Tỷ trọng

%



49,71

52,86

50,18

49,01

48,03



Thuốc nhập khẩu

Giá trị

(Triệu USD)



Tỷ trọng

%



548,200

597,082

759,752

859,763

994,529



50,29

47,14

49,82

50,99

51,97



1.3.2. Vị trí thuốc điều trị đái tháo đường trong thị trường thuốc nhập khẩu

Việt Nam

Tại Việt Nam, thuốc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn có tỷ trọng kim

ngạch nhập khẩu (KNNK) lớn nhất (>21% mỗi năm). Đứng thứ 2 là các thuốc

điều trị các bệnh về đường tiêu hóa và chuyển hóa (> 18% mỗi năm) [5].

Thuốc điều trị bệnh ĐTĐ nằm trong nhóm các thuốc điều trị bệnh

đường tiêu hóa và chuyển hóa (nhóm A) và ln có tỷ trọng KNNK lớn thứ 3

trong nhóm A, lần lượt là 16,1%, 13,3%, 17,0% trong 3 năm từ 2006-2008 so

với tổng KNNK của nhóm A [5].

Giá trị và tỷ trọng 1 số nhóm thuốc có KNNK lớn vào Việt Nam được

thể hiện ở bảng 1.2 [5].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều trị đái tháo đường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×