Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Người Sán Chỉ ở Việt Nam

Người Sán Chỉ ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



thuộc nhóm ngơn ngữ Tày – Thái (đối với Cao Lan) và một thuộc nhóm ngơn ngữ

Hán (đối với Sán Chỉ) [33], [36], [39].

1.2.2 Phong tục

Do di cư đến Việt Nam muộn hơn so với các tộc người khác nên người Sán

Chỉ thường ở xen kẽ với các tộc người Tày, Nùng, Sán Dìu, Dao. Tuy nhiên ở mỗi

khu vực cư trú (cấp huyện) đồng bào thường sống mật tập trong một hay nhiều thôn

bản. Ranh giới giữa các thôn bản thường được hình thành tự nhiên với các điểm

mốc là những cánh rừng, những dòng nước chảy, các ngọn núi, đèo dốc. Theo

truyền thống, khu vực cư trú của người Sán Chỉ được hình thành theo từng dòng họ.

Mỗi dòng họ có một khu vực riêng và các gia đình trong dòng họ qy quần gần

nhau [24].

Người Sán Chỉ cũng ăn tết Nguyên đán như nhiều dân tộc khác ở Trung

Quốc và Việt Nam. Vào ngày 30 âm lịch, các gia đình làm bánh Trưng bánh Dày

cúng giao thừa. Sáng mùng một, tất cả các gia đình đều đi lấy nước về với quan

niệm lấy được nước rồng càng sớm thì trong năm gia đình làm ăn càng may mắn

(cắn tay), sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Mùng hai tết, dân làng thường

tổ chức lễ làng.Các hộ trong thôn bản tự làm mâm cúng của gia đình mình. Trong

quá trình làm mâm cỗ cúng thổ thần làng (thâu lộn) khơng ai được nói to, khơng

được khua mâm bát và cũng không được thắp đèn quá sáng. Không ai bảo ai khi

rạng sáng đều đội mâm ra miếu cầu khấn thâu lộn phù hộ cho dân làng tự già chí

trẻ được mạnh khỏe, đi đâu về đấy, bảo vệ trâu bò, khơng cho hùm, báo vào bản phá

phách bắt người, bắt trâu [10], [36].

Trong bản dựng nhà mới hay có một gia đình mới đến ở thì phải sắp lễ cũng

gọi ma bản về ăn. Lễ cúng nhà mới được đặt ở trước sân chỉ có cơm canh, rượu,

lòng lợn, gà, thịt, rau [10], [47].

Ngồi lễ cúng đình, cúng miếu mỗi thơn bản thường có một số lễ, tết khác

trong năm như lễ hạ điền, lễ cơm mới, lễ mở cửa rừng, lễ giết sâu bọ[30] .

Trong truyền thống, nhà của người Sán Chỉ thường là nhà sàn. Nhìn chung,

nhà cửa của họ trải qua rất nhiều biến đổi theo thời gian. Hiện nay thường đan xen



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

9



cả nhà sàn truyền thống và nhà khung gỗ dựng trên nền đất có tường bằng gạch [10],

[30], [47].

1.2.3 Quan niệm về sức khỏe và sử dụng cây thuốc[10]

Đồng bào Sán Chỉ đã nhận thức được tầm quan trọng của việc dùng thuốc

trong chăm sóc sức khỏe và luôn xác định rõ: thuốc cha, ma cầu, nghĩa là khi ốm

thì phải chữa bằng thuốc là chính, bên cạnh đó vẫn có thể cúng ma cho mau khỏi.

Người Sán Chỉ có rất nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các loại cây

thuốc để chữa bệnh. Đồng bào thường thu hái cây thuốc trong rừng nguyên sinh

hoặc trên các núi cao ít người qua lại. Đồng bào dùng thuốc Nam dưới dạng thuốc

thang, rượu thuốc, xoa bóp, thuốc đắp. Trong khu vực người Cao Lan – Sán Chỉ

sinh sống có khoảng hơn 200 lồi cây được sử dụng làm thuốc, trong đó khoảng

100 lồi thường được sử dụng.

Trong mỗi cộng đồng làng bản thường có một hay nhiều người làm nghề

thuốc. Những người này được cha mẹ truyền nghề cho và rất có tâm huyết với

nghề.Cơng việc của họ không tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, thường tranh thủ

lấy thuốc trong lúc đi làm nương, làm ruộng hoặc khi bệnh nhân có nhu cầu.

Theo phong tục của người Sán Chỉ, người bệnh đến xin thuốc ở nhà thầy

lang thường mang theo một lễ vật nhỏ như giấy vàng, một thẻ hương. Thầy lang hỏi

người bệnh hoặc người nhà người bệnh về những triệu chứng, tình hình ăn uống của

người bệnh … sau đó mới bốc thuốc, dặn dò cách sử dụng và những kiêng kỵ kèm

theo. Nếu khỏi bệnh, người bệnh nhất thiết phải đến làm lễ trả ơn thầy lang, lễ vật

gồm có giấy vàng dân tộc, hương, gà, rượu. Nếu người nào đã được chữa khỏi bệnh

mà khơng đến làm lễ trả ơn thì bị coi là người vô ơn.Những nghi lễ trong phong tục

chữa bệnh của người Sán Chỉ thể hiện tính nhân văn trong cộng đồng dân tộc người.

Tuy vậy những năm gần đây với sự xâm nhập của kinh tế thị trường, các thầy lang

đã bắt đầu bán thuốc để bù đắp lại thời gian, cơng sức bỏ ra để tìm kiếm thuốc.

Giống như nhiều dân tộc khác, người Sán Chỉ sử dụng nhiều vị thuốc cổ

truyền để chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em.Sau khi sinh, sản phụ kiêng và nghỉ

ngơi trong 42 ngày. Thức ăn của sản phụ thường là rau ngót (mắn trái), gừng hoặc



10



nghệ đen nấu với thịt gà hoặc thịt lợn. Ngay sau khi đẻ sản phụ được uống một bát

thuốc và tắm nước nấu lá khăn trâu, lá cây huyết dụ, đứa trẻ mới sinh ra được tắm

bằng nước lá đỗ ván đun sôi để nguội. Đẻ xong, nếu phụ sản bị máu bốc lên đầu,

gây chóng mặt thì người ta rang ít thóc hoặc hạt vơng (q vặt) có thể gói vào khăn

hoặc vải để lên đâu rồi úp chảo còn hơi âm ấm lên trên, sản phụ sẽ khỏi. Phụ nữ Sán

Chỉ sau khi đẻ và trong thời gian ở cữ thường uống nước thuốc, ăn rượu nếp và

trứng gà. Rượu được làm từ gạo nếp ủ men lá và được phụ nữ Sán Chỉ tự làm trước

khi sinh 2-3 tháng.

1.2.4 Trồng trọt, chăn nuôi

Cũng như hầu hết các dân tộc sinh sống ở vùng núi thấp khu vực Việt Bắc,

Đông Bắc, trồng trọt các cây lương thực trên đất dốc là hoạt động kinh tế chủ đạo

của người Sán Chỉ xưa kia. Tất cả các hoạt động mưu sinh khác như chăn ni, thủ

cơng gia đình, trao đổi bn bán, săn bắt, hái lượm … chỉ là những hoạt động phụ,

mang tính hỗ trợ trồng trọt.Ngày nay hoạt động kinh tế của người Sán Chỉ đã có

nhiều thay đổi, cả về cơ cấu, kỹ thuật và tính chất sản xuất.Khơng chỉ trồng trọt, mà

cả thủ công nghiệp, thương mại cũng rất phát triển, và kỹ thuật hiện đại đã được

ứng dụng trong mọi lĩnh vực sản xuất. Nhiều hoạt động kinh tế đã mang tính chất

hàng hóa: ni lợn, trồng vải, nhãn, xồi, hồng … Đội ngũ những người chun

bn bán đang hình thành và phát triển. Trao đổi, bn bán đã trở thành nhu cầu

quan trọng trong đời sống xã hội Sán Chỉ ngày nay [2], [30].

Trong số cá loại cây lương thực họ canh tác, Lúa, Ngô và Sắn là những cây

lương thực chính.Một số hoa màu khác như Đậu, Bầu bí, Khoai, rau… được xen

canh trên nương. Người Sán Chỉ có bộ giống lúa gồm: Lúa nếp (Khẩu lấu) có hai

loại chính là Khẩu mộ và Xi vu; Lúa tẻ có hai loại chính là Khảu lai và Khảu múi.

Các giống Ngơ có: Vung mẹc, Pẹc mẹc, Slấy nịt mẹc. Các giống Sắn (Mền moi, Mọc

sui) có: Sắn đỏ (Mền mọi lang, Hoong mọc sui), Sắn trắng (Mền moi pực, Pẹc mọc

sui)[10], [31].

Về chăn ni, nhìn chung xưa kia người Sán Chỉ chăn nuôi theo kiểu thả

rông, đối với tất cả các loại gia súc, gia cầm. Họ không làm chuồng trại mà ban đêm



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

11



thường nhốt các loại vật nuôi ngay dưới gầm sàn. Kỹ thuật chăn nuôi đơn giản, gia

súc tự kiếm ăn là chính [47].

1.2.5 Thủ cơng [36]

So với người Tày, Nùng, Sán Dìu …thủ cơng gia đình của người Sán Chỉ

khơng phát triển.Họ khơng có nghề thủ cơng nào nổi tiếng trong vùng.Tuy nhiên họ

cũng vẫn có truyền thống trồng bông dệt vải từ lâu đời.Cây Bông được trồng trên

đất sỏi đá cho năng suất khá cao. Bông mang về nhà được phơi khô và cán tách

bằng một dụng cụ gọi là cú cạo. Sau đó được bật (coọng púi) tạo thành mảng mịn,

sau cùng được kéo, se sợi (giọt búi).Sợi được cho vào nồi nấu (áu xạ) cùng với gạo

gọi là hồ sợi.Dùng khung dệt thủ cơng (chích cậy) dệt thành tấm vải (tắm pấu).Vải

được nhuộm (nghỉm pấu) bằng chàm (đã mất giống 20-30 năm nay do không được

trồng) và một số nguyên liệu khác.

1.2.6 Trang phục [2], [10], [31], [47]

Trang phục truyền thống của đồng bào bền đẹp, kiểu dáng phong phú, mỹ

thuật trang trí hài hòa, phù hợp cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau. Áo dài

(xăng xạng) may cổ đứng ngắn, cài khuy bên nách phải, có xẻ tà dài, tà áo phía

trước dài hơn tà phía sau một chút. Áo dài của đàn ơng và đàn bà giống nhau, chỉ

khác là đàn bà thường mặc dài còn đàn ơng chỉ ngắn dưới đầu gối một chút.

Ngày nay trang phục của người Sán Chỉ đã có nhiều thay đổi.Nam, nữ mặc

ngày thường và ngày lễ tết đều giống như người Kinh và khó phân biệt với người

Kinh.Thi thoảng mới thấy có người già, nhất là các bà già mặc quần áo truyền thống

vào các dịp lễ hội.Trang phục cổ truyền dân tộc được giữ lại để mặc khi qua đời để

tổ tiên dễ nhận. Nay các gia đình ít trồng bơng và tự dệt vải nữa mà đi cắt may ở

cửa hiệu hoặc mua quần áo may sẵn. Các đồ trang sức phụ nữ như vòng cổ, vòng

tay nay ít dùng, chỉ đeo khun tai hoặc nhẫn, đồ trang sức bằng vàng đã thay thế

dần cho đồ bạc.

1.2.7 Ẩm thực [10]

Về các món ăn, ngồi các loại lương thực hàng ngày những Sán Chỉ còn

những món ăn truyền thống vào các ngày lễ tết.



12



Tết Thanh minh có món ăn truyền thống là bánh ngải (ngòi). Lá ngải cứu

được giã nát để nhuộm cùng với bột gạo nếp để tạo thành màu xanh cho vỏ

bánh.Bánh ngải có rất nhiều loại nhân nhưng chủ yếu là các nhân ngọt.

Vào dịp 3/3 âm lịch (slạm nhiệt chết) người ta thường cúng một bát Phóng

moọc phàn trên bàn thờ.Đó là xơi được nhuộm bằng cây Sau sau (Phóng moọc).

Bánh trưng: Trước tết Nguyên Đán vài ngày, người ta đã chuẩn bị sẵn các

nguyên liệu cho việc gói bánh trưng. Bánh trưng gói dạnh hình trụ dài khoảng 30cm,

đường kính 5-7cm, trong có gạo nếp và giữa gạo nếp là thịt lợn và các gia vị khác

đem luộc chín bằng chảo hoặc nồi lớn.

Bánh gio: là món ăn truyền thống vào tết mùng 5 tháng 5. Cách làm của

người Sán Chỉ ở xã Thanh Lâm: Đốt cây đỗ tương thành tro, lọc lấy nước rồi ngâm

vào nước làm cho gạo nếp thành màu vàng. Sau đó dùng lá chuối gói thành bánh có

hình tròn, dài, hai đầu bánh khơng bẻ gập lá mà túm lại.

Bánh dậm (theo cách gọi của người Sán Chỉ ở Kiên Lao, Lục Ngạn) hay còn

gọi là bánh vai (theo cách gọi của người Sán Chỉ ở Thanh Lâm, Ba Chẽ) là loại

bánh được dùng để cúng vào dịp 14/7 âm lịch (moọc mân xí chủ). Cách làm về cơ

bản giống bánh ngải chỉ có điều không dùng lá ngải để nhuộm vỏ bánh.

Bánh dày: Người Sán Chỉ đồ xơi trắng cho chín, lấy ra để nguội rồi cho vào

cối giã nhuyễn và bắt bánh bằng tay thành chiếc bánh dày. Bánh dày được người

Sán Chỉ ở Thanh Lâm dùng để cúng tổ tiên vào dịp 10/10 âm lịch.

1.2.8 Tơn giáo tín ngưỡng và ma chay [10]

Về tơn giáo và tín ngưỡng.Người Sán Chỉ ở Kiên Lao, Lục Ngạn có quan

niệm khác nhau giữa các dòng dọ về các lực lượng siêu nhiên.Quan niệm về thế

giới siêu nhiên, ở mỗi nhóm ít nhiều đều có sự khác nhau, thậm chí mỗi dòng họ

đều có các loại thần thánh để thờ khác nhau, các thức thời cúng cũng không giống

nhau. Với người Sán Chỉ ở Tuyên Quang, ngồi thờ tổ tiên còn thờ ma Ham, thờ

Ngọc Hồng ở họ Trần và họ Nịnh. Với người Sán Chỉ ở Thanh Lâm chỉ thờ tổ tiên

mà không thờ ma Ham.



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

13



Đám ma, đám chay của người Sán Chỉ thể hiện khá rõ những quan niệm về

tôn giáo.Đạo giáo mà đặc biệt là đạo Phật ở họ khá đậm nét.Trong khi làm ma,

người ta lập đàn cúng Phật, thờ Thái Thượng Lão Quân và làm lễ phá ngục để giải

thốt linh hồn. Vị trí đặt mộ được người nhà mời thầy cúng hay thầy phong thủy

xem xét. Mộ của người Sán Chỉ được đắp dài như người Kinh, nếu là đất dốc thì

đầu phải đặt lên trên, không khi nào được đặt nằm ngang dốc.Sau 3 năm có cải táng

thì mộ đắp tròn.

1.3.



Nghiên cứu về cây thuốc của người Sán Chỉ và Sán Chay ở Việt Nam

Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc



Sán Chỉ ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã thu được 180 mẫu cây, giám

định được 132 loài thuộc 119 chi, 62 họ của 4 ngành thực vật bậc cao. Nghiên cứu

này đã tư liệu hóa được 18 nhóm bệnh chứng được phòng và chữa trị bởi 180 loài

cây thuốc khác nhau, đồng thời cũng tư liệu hóa được 5 bài thuốc chữa các bệnh:

chảy máu chân răng, thấp khớp, nhức xương, vàng da và cam sài ở trẻ em [45].

Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã Lệ Viễn, Sơn

Động, Bắc Giang đã thu được 318 mẫu cây, giám đinh được 214 loài thuộc 113 chi,

72 họ. Nghiên cứu này đã tư liệu hóa được 27 nhóm bệnh chứng được phòng và

chữa trị bởi 283 lồi cây thuốc khác nhau [32].



14



Chương 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1



Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả [4].



2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Xã Thanh Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh (hình 2.1).



Hình 2.1: Bản đồ xã Thanh Lâm

2.1.2 Thời gian nghiên cứu: 03.2013 – 05.2013.

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

Cây thuốc mọc hoang dại hoặc được trồng tại vườn người Sán Chỉ ở xã

Thanh Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

2.2



Phương pháp luận

Do Tài nguyên cây thuốc gồm 2 phần tạo thành là (1) cây cỏ và (2) tri thức



sử dụng, vì vậy chúng liên quan đến cả lĩnh vực Khoa học Tự nhiên và Xã hội



-



Nhân văn. Để điều tra và đánh giá tình trạng bảo tồn của Tài nguyên cây thuốc



,



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

15



cần sử dụng kỹ thuật của nhiều ngành, đặc biệt là có sự tham gia của cộng đồng .

Các kỹ thuật nghiên cứu liên quan đến Các kỹ thuật nghiên cứu liên quan đến hoạt

động điều tra bao gồm: (1) Dược học, (2) Thực vật dân tộc học, (3) Sinh thái học,

(4) Kinh tế tài nguyên, (5) Nhân học, (6) Ngôn ngữ học, (7) Nông học [26].

Nội dung và phương pháp nghiên cứu



2.3



2.3.1 Điều tra tính đa dạng sinh học, việc sử dụng cây th́c và các bệnh được

phòng và điềutrị

Liệt kê tự do: Được cải tiến từ kỹ thuật liệt kê tự do sử dụng trong nhân học



(1)



và tài nguyên cây cỏ nói chung [27].

Giai đoạn 1: Điều tra tại cộng đồng







 Chọn mẫu: Mẫu nghiên cứu được chọn là những người đang thu hái, chế

biến, bán thuốc, bốc thuốc, những người có hiểu biết về thuốc hay những

người đã được chữa trị bằng thuốc từ cây cỏ. Những người này được gọi tắt

là người cung cấp tin (NCCT). Số lượng người được phỏng vấn được quyết

định khi “đường cong loài” tăng không đáng kể khi tăng người được phỏng

vấn.

 Phỏng vấn: Mỗi NCCT tham gia phỏng vấn đều được yêu cầu liệt kê tất cả

các cây thuốc bằng tiếng Sán Chỉ mà họ sử dụng.





Giai đoạn 2: Thu thập mẫu tiêu bản [34]

Mẫu tiêu bản của tất cả các tên cây thuốc đã được nêu ra trong phần liệt kê



tự do được thu thập, ghi chép, xử lý và sấy khô theo các kỹ thuật làm tiêu bản thực

vật thông thường và lưu trữ tại Phòng tiêu bản của Trường Đạ i học Dược Hà Nội

(HNIP). Tổng cộng 177 tiêu bản đã được thu thập trong quá trình thực hiện khóa

luận.





Giai đoạn 3: Xác định tên khoa học

Tên khoa học của mẫu tiêu bản được giám định bởi ThS . Phạm Hà Thanh



Tùng, DS Nghiêm Đức Trọng và Phạm Thanh Trường (Trường Đại học Dược Hà

Nội) bằng phương pháp so sánh hình thái dựa trên các sách cây thuốc, thực vật chí

[1], [3], [11], [12], [15], [16], [17], [21], [22], [25], [28] các đặc điểm mẫu tiêu



16



bản tại phòng tiêu bản Trường Đại học Dược Hà Nội và Viện Sinh Thái và Tài

nguyên sinh vật.

Giai đoạn 4: Xử lý dữ liệu







Từ danh mục liệt kê tự do của tất cả các cây thuốc và các mẫu tiêu bản thu

được. Loại bỏ các tên tiếng Sán Chỉ đồng nghĩa, tổng hợp và lập thành một danh

mục tên tiếng Sán Chỉ của các cây thuốc mà người Sán Chỉ tại xã sử dụng.

Giai đoạn 5: Đánh giá độ tin cậy







Sử dụng danh mục tên cây th́c thu được ở giai đoạn

NCCT: “Ơng/bà (anh/chị) có sử dụng cây thuốc X



i



4 để phỏng vấn



trong trường hợp bị Y



j



không?” (Với Xi là tên cây thuốc và Y j tên các bệnh bằng tiếng Sán Chỉ trong danh

mục).

Độ tin cậy của thông tin được tính theo công thức Friedman [26]:

Fv =



Sij

∑S



Fv: độ tin cậy của thông tin ( 0 ≤ Fv ≤ 1)

Sij: Số người nói cây thuốc i chữa bệnh j



∑ S : Tổng số người được hỏi

Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là các cây thuốc được cộng đồng sử

dụng nên chỉ các cây thuốc trong cộng đồng với công dụng có hệ số tin cậy F



v>



0,25 mới được tư liệu hóa.

Điều tra theo tuyến [27], [46]:Được thực hiện thông qua các chuyến nhập



(2)



cuộc quan sát tại thực địa cùng với người cung cấp tin quan trọng (người cung cấp

tin quan trọng – KIP là các thầy lang hoặc là những người có hiểu biết nhiều về cây

thuốc được cộng đồng thừa nhận ) để quan sát, phỏng vấn và thu thập mẫu tiêu bản

tại thực địa . Tổng cộng 4 chuyến nhập cuộc quan sát đã được thực hiện trong thời

gian nghiên cứu.

2.3.2 Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc [19], [27]

Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc được thu thập thông tin qua:

-



Phỏng vấn khi nhập cuộc quan sát.



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

17



-



Thảo luận nhóm dựa trên danh sách cây thuốc đã được lập.

Do chưa có quy định cụ thể trong việc sở hữu trí tuệ đối với các bài thuốc và



việc sử dụng cây thuốc đối với cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam. Tuy nhiên vấn

đề nghiên cứu tài nguyên cây thuốc của các dân tộc cũng như chính nghiên cứu này

nhằm mục tiêu phục vụ cộng đồng cũng như công tác bảo tồn và phát triển dược

liệu. Vì vậy để khơng mâu thuẫn với việc sở hữu trí tuệ, đề tài chỉ giới hạn phần tư

liệu hóa tri thức sử dụng ở tên địa phương, cách sử dụng (chữa bệnh gì), bộ phận

dùng và cách dùng mà khơng tư liệu hóa cách phối hợp để trở thành các bài thuốc.

2.3.3 Điều tra thị trường cây cỏ làm thuốc.

Được tiến hành tại các xã Thanh Lâm, xã Đạp Thanh và thị trấn Ba Chẽ bằng

cơng cụ nhập cuộc quan sát [13].



Hình 2.2: Điều tra tại chợ phiên Đạp Thanh



Hình 2.3: Điều tra theo tuyến với

thầy lang tại xã Thanh Lâm



18



Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1.



Tính đa dạng sinh học của các cây thuốc được người Sán Chỉ sử dụng:



3.1.1 Đường cong loài cây thuốc được người Sán Chỉ sử dụng:

Đã tiến hành phỏng vấn 37 NCCT thu được 218 tên cây thuốc khác nhau

được người Sán Chỉ ở xã Thanh Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh sử dụng

(chưa loại bỏ các tên đồng nghĩa) (Hình 3.1)



Hình 3.1 : Đường cong tên loài cây thuốc được người Sán Chỉ sử dụng

Căn cứ vào đồ thị đường cong loài, số lượng tên loài cây thuốc tăng lên

không đáng kể từ NCCT thứ 18.

Dựa trên danh mục 218 tên cây này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 2

thầy lang thông thạo tiếng phổ thông, đã loại được 51 tên cây đồng nghĩa, đồng thời

hiệu đính lại các tên cây ghi sai và cuối cùng thu được số tên cây thuốc theo tiếng

địa phương là 167 tên khác nhau.

3.1.2 Đa dạng theo bậc phân loại

Đã thu được 177 mẫu cây thuốc khác nhau theo danh mục, trong đó có 82

lồi được giám định sơ bộ đến loài, 78 loài được giám định sơ bộ đến chi, 10 loài

được giám định sơ bộ đến họ và 7 loài chưa giám định được tên khoa học. Các loài

này thuộc 129 chi, 67 họ của 4 ngành thực vật là



Lycopodiophyta, Pinophyta,



Polypodiophyta và Magnoliophyta (khơng tính 7 loài chưa xác định tên khoa học).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Người Sán Chỉ ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×