Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều kiện kinh tế xã hội xã Thanh Lâm [40]

Điều kiện kinh tế xã hội xã Thanh Lâm [40]

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

5



Dân tộc



Tỷ lệ %



Tày



16,2%



Kinh, Sán Dìu



5,1%



Tài ngun lịch sử, Thanh Lâm có Đình Làng Dạ là di tích lịch sử đầu tiên

của huyện Ba Chẽ đã được UBND tỉnh Quảng Ninh công nhận xếp hạng là di tích

lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm thực hiện cả năm 2012

đạt 297 ha, tổng sản lượng lương thực đạt 838,7 tấn; Trong đó: Vụ chiêm hàng năm

thực hiện 165,2 ha, tổng sản lượng lương thực đạt 389 tấn, gồm: sản lượng lúa đạt

228 tấn, năng suất 47,5 tạ/ha, sản lượng ngô đạt 161 tấn, năng suất đạt 35 tạ/ha. Vụ

mùa cây hàng năm thực hiện 131,8 ha, tống sản lượng lương thực đạt 449,7 tấn,

gồm: sản lượng lúa đạt 437, 2 tấn, năng suất đạt 44,6 tạ/ha, sản lượng ngô đạt 12,5

tấn, năng suất đạt 25 tạ/ha. Sản lượng lúa cạn vụ mùa được nhân dân trồng xen canh

trên nương kết hợp trồng rừng, sản lượng lúa nương đạt 35 tấn. Tổng giá trị sản

phẩm nông nghiệp năm 2012 đạt 8,5 tỷ đồng

Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại. Tổng giá trị năm

2012 đạt 2,7 tỷ đồng.

Về chăn nuôi – thú y: Tổng đàn trâu 325 con, lợn rừng 89 con, gia cầm 5.200

con. Giá trị chăn nuôi năm 2012 đạt 8,6 tỷ đồng.

Về lâm nghiệp: Tổng diện tích trồng rừng năm 2012 đạt 692,3ha, , trong đó:

vốn tự có của nhân dân trồng được 466,6 ha, vốn hỗ trợ trồng được 225,7%. Tỷ lệ

cây sống cao sớm thành rừng tốt, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, bảo vệ môi

trường và phát triển bền vững. Cơng tác chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy

chữa cháy rừng được đặc biệt quan tâm, trong năm 2012 trên địa bàn xã không để

xảy ra cháy rừng. Khai thác rừng trồng: từ đầu năm đến nay toàn xã khai thác rừng

trồng và lâm sản phụ với diện tích là: 59 ha, trong đó Keo sản lượng là: 4.840,5 m3;

Quế 12 tấn, tre dóc 220 tấn. Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2012 đạt 12,5 tỷ đồng.



6



Xã Thanh Lâm có 01 tổ hợp tác (HTX Toàn Dân) được thành lập theo Quyết

định của UBND huyện Ba Chẽ, có tổng số 16 xã viên, ngành nghề sản xuất kinh

doanh: Trồng rừng, chế biến lâm sản, dịch vụ giống, vật tự nông nghiệp, xây dựng

hạ tầng giao thơng, thủy lợi. Tổng vốn góp ban đầu là 5 tỷ đồng.

UBND xã đã động viên nhân dân trồng Ba kích tím 3,5 ha, Cam canh, 2ha,

Chuối phấn 0,3 ha, Thanh long ruột đỏ 0,2 ha, Kim ngân 0,5 ha đang phát triển tốt.

UBND xã cũng đã xây dựng các mơ hình phát triển sản xuất như: Trồng nấm

Linh Chi có 41 hộ tham gia, tiêu thụ 129 tấn nguyên liệu, nuôi lợn tập trung hướng

nạc 100 con, nuôi Đũn sinh sản100 con, nuôi gà đồi1800 con, ngan đen…

Giải ngân hỗ trợ lãi suất vay vốn thực hiện các mơ hình, dự án theo NQ 26

của HĐND huyện năm 2012 là 435 triệu đồng cho 23 hộ vay.

Theo kết quả điều tra tính đến ngày 30/10/2012: Thu nhập bình quân ước đạt:

22 triệu đồng/người/năm.

Nhân dân đã tham gia hiến đất làm đường, nhà văn hóa thơn được 550 m2 và

tháo dỡ vật liệu kiến trúc trị giá quy đổi được 250 triệu đồng.Chỉnh trang nhà cửa,

tự xây dựng mới nhà ở, tường rào, cổng… trong năm 2012 là 295 triệu đồng.

Về kênh mương thủy lợi, nội đồng: Trên địa bàn xã hiện chưa có hồ chứa

nước, có 23 đập dâng đã xây dựng từ lâu với năng lực tưới cho 78,9 ha. Hệ thống

kênh mương cấp I hiện có tổng số 21 tuyến, dài 18,07km, trong đó: Có 5,81km đã

được xây kiên cố, nhưng cần cải tạo. Hệ thống kênh mương cấp II toàn bộ là mương

đất, cần phải kiên cố hóa 22 tuyến kênh cấp II dài 13,1km để đáp ứng nguồn nước

trong nội đồng phục vụ sản xuất. Toàn bộ hệ thống kênh mương, đập chứa nước

mới chỉ đáp ứng được nhu cầu nước tưới 78,1% diện tích lúa, diện tích còn lại nhờ

nước mưa. Đến nay kênh mương mới được cứng hóa đạt 70% kênh cấp I.

Về nước sạch: Theo kết quả điều tra tính đến 30/10/2012, tồn xã có 75% hộ

gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh.

Về giáo dục: Năm 2009 xã đã hồn thành chương trình phổ cập Tiểu học,

THCS. Tỷ lệ học sinh được chuyển cấp từ Tiểu học sang THCS đạt 100%. Năm



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

7



2011, trường mầm non và trường PTCS được đầu tư xây dựng mới, mỗi trường trị

giá 12 tỷ đồng.

Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ so vởi tổng số lao động

là 35%; trong đó tỷ lệ lao động sau khi đào tạo có việc làm là 44,5%.

Về Y tế.Năm 2009, xã đã đạt chuẩn quốc gia về Y tế. Tỷ lệ người dân tham

gia các hình thức BHYT toàn xã đạt 100% [38].

1.2.



Người Sán Chỉ ở Việt Nam



1.2.1 Nguồn gốc và di cư

Theo kết quả điều tra, nghiên cứu, người Sán Chỉ là một trong hai nhóm

chính trong cộng đồng dân tộc Sán Chay. Và theo các tài liệu đã được công bố cũng

như qua các tư liệu điền dã dân tộc học, bằng các những câu chuyện kể trong dân

gian, những bài hát sình ca, cũng như những điều đã ghi chép trong các sách gia phả,

sách cúng hương hỏa,.. cho thấy người Sán Chỉ xưa kia sinh tụ ở khu vực Dương

Châu, Khâm Châu, Liêm Châu, Lôi Châu, Linh Sơn, Thường Tư, Ninh Minh, Bạch

Vân Sơn, Thập Vạn Sơn thuộc các tỉnh Quý Châu, Quảng Đông và Quảng Tây

(Trung Quốc). Họ đến Việt Nam vào quảng cuối đời Minh, đầu đời Thanh, cách

ngày nay 300-500 năm [10], [29].

Ở Việt Nam, địa phương đồng bào Sán Chỉ đặt chân đến đầu tiên là vùng

Quảng Ninh, từ đó di chuyển theo hướng Tây, men theo dải đất, nơi tiếp giáp giữa

trung du và miền núi để định cư và làm ăn sinh sống. Đó là địa bàn thuộc các tỉnh

Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên

Quang và Yên Bái. Riêng nhóm người hiện nay vẫn tự nhận là Sán Chỉ thuộc các

huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình (Cao Bằng), Chợ Rã, Ba Bể … (Bắc Kạn),

theo một số nhà khoa học thì đó là người Dao chứ khơng phải người Sán Chỉ [10],

[31].

Mặc dù có một số người cho rằng Cao Lan, Sán Chí là một dân tộc (và

thường được đề cập chung là dân tộc Sán Chay trong các tài liệu), nhưng cũng có

khá nhiều người dựa vào các tiêu chí xác định dân tộc ở Việt Nam (ngơn ngữ, văn

hóa, ý thức tự giác tộc người) đã đề nghị xếp họ thành hai dân tộc khác nhau, một



8



thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (đối với Cao Lan) và một thuộc nhóm ngơn ngữ

Hán (đối với Sán Chỉ) [33], [36], [39].

1.2.2 Phong tục

Do di cư đến Việt Nam muộn hơn so với các tộc người khác nên người Sán

Chỉ thường ở xen kẽ với các tộc người Tày, Nùng, Sán Dìu, Dao. Tuy nhiên ở mỗi

khu vực cư trú (cấp huyện) đồng bào thường sống mật tập trong một hay nhiều thôn

bản. Ranh giới giữa các thôn bản thường được hình thành tự nhiên với các điểm

mốc là những cánh rừng, những dòng nước chảy, các ngọn núi, đèo dốc. Theo

truyền thống, khu vực cư trú của người Sán Chỉ được hình thành theo từng dòng họ.

Mỗi dòng họ có một khu vực riêng và các gia đình trong dòng họ quây quần gần

nhau [24].

Người Sán Chỉ cũng ăn tết Nguyên đán như nhiều dân tộc khác ở Trung

Quốc và Việt Nam. Vào ngày 30 âm lịch, các gia đình làm bánh Trưng bánh Dày

cúng giao thừa. Sáng mùng một, tất cả các gia đình đều đi lấy nước về với quan

niệm lấy được nước rồng càng sớm thì trong năm gia đình làm ăn càng may mắn

(cắn tay), sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Mùng hai tết, dân làng thường

tổ chức lễ làng.Các hộ trong thơn bản tự làm mâm cúng của gia đình mình. Trong

quá trình làm mâm cỗ cúng thổ thần làng (thâu lộn) khơng ai được nói to, khơng

được khua mâm bát và cũng không được thắp đèn quá sáng. Không ai bảo ai khi

rạng sáng đều đội mâm ra miếu cầu khấn thâu lộn phù hộ cho dân làng tự già chí

trẻ được mạnh khỏe, đi đâu về đấy, bảo vệ trâu bò, khơng cho hùm, báo vào bản phá

phách bắt người, bắt trâu [10], [36].

Trong bản dựng nhà mới hay có một gia đình mới đến ở thì phải sắp lễ cũng

gọi ma bản về ăn. Lễ cúng nhà mới được đặt ở trước sân chỉ có cơm canh, rượu,

lòng lợn, gà, thịt, rau [10], [47].

Ngồi lễ cúng đình, cúng miếu mỗi thơn bản thường có một số lễ, tết khác

trong năm như lễ hạ điền, lễ cơm mới, lễ mở cửa rừng, lễ giết sâu bọ[30] .

Trong truyền thống, nhà của người Sán Chỉ thường là nhà sàn. Nhìn chung,

nhà cửa của họ trải qua rất nhiều biến đổi theo thời gian. Hiện nay thường đan xen



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều kiện kinh tế xã hội xã Thanh Lâm [40]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×