Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
và định hình đến năm 2030

và định hình đến năm 2030

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 3.1. Bản đồ định hướng khơng gian phân bố hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp theo các vùng của tỉnh Yên Bái

147



148

4.2. Một số giải pháp nhằm sử dụng tài nguyên đất và rừng bền vững trong sản

xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng dân tộc tỉnh Yên Bái

4.2.1. Nhóm giải pháp chung

4.2.1.1. Tập trung làm tốt cơng tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch

phát triển rừng và quy hoạch phát triển nông, lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh

cũng như ở từng địa phương trong tỉnh

Để sử dụng hợp lí tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của

cộng đồng các dân tộc ở tỉnh n Bái thì cơng tác quy hoạch phải đi trước một

bước, và điều quan trọng là phải thực sự có cơ sở khoa học và có tính khả thi cao.

Để bảo đảm sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuât nông, lâm nghiệp của

tỉnh trong những năm tới mang lại hiệu quả KT-XH - môi trường cao theo hướng

bền vững, việc cần làm đầu tiên là công tác quy hoạch. Trên cơ sở đánh giá các điều

kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Yên Bái, tổng kết thực trạng sử dụng tài nguyên

đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thực trạng phát triển nông, lâm

nghiệp ở tỉnh qua nhiều năm, và căn cứ vào nhu cầu của thị trường trong và ngồi

nước đối với các sản phẩm nơng, lâm nghiệp của vùng này trong những năm tới và

nguồn lực có thể huy động, tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển nông

nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản cho toàn vùng trong một giai đoạn tương đối dài.

Tuy là tổng thể, song quy hoạch phải chỉ ra được những lợi thế cơ bản của vùng

trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, cũng như những sản phẩm chủ yếu

vùng cần tập trung đầu tư phát triển.

Các địa phương trong tỉnh căn cứ vào quy hoạch của trung ương và của tỉnh,

đặc biệt là căn cứ vào điều kiện tự nhiên, KT-XH cụ thể của tỉnh mình tiến hành

xây dựng quy hoạch phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản cho phù hợp. Công tác

quy hoạch phải thực hiện đúng quy trình, có sự tham gia của người dân. Quy hoạch

phải hết sức cụ thể, xác định rõ mục đích và diện tích sử dụng các loại đất nơng,

lâm nghiệp, sử dụng tài nguyên đất, tài nguyên rừng trong sản xuất nông, lâm

nghiệp, xây dựng quy hoạch phát triển nông - lâm nghiệp và thuỷ sản cho huyện.

4.2.1.2. Xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá ở các địa phương dựa

trên lợi thế về tài nguyên đất và rừng

Tỉnh Yên Bái có những lợi thế đặc biệt trong phát triển nông, lâm nghiệp, nhất

là trong việc trồng các loại cây ăn quả, cây dược liệu, rau đậu, khai thác các nguồn

148



149

lợi từ rừng và nuôi một số lồi động vật cũng như thuỷ sản có nguồn gốc ôn đới và

á nhiệt đới. Trước hết cần có sự tham gia của các chuyên gia trong việc đánh giá sự

phù hợp của từng vùng đối với một loại cây trồng hoặc vật nuôi cụ thế nhằm đem

lại hiệu quả kinh tế cao. Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng

của các cơ quan có trách nhiệm ở từng địa phương là phải thường xuyên bồi dưỡng,

nâng cao tay nghề và ý thức trách nhiệm cho người lao động làm việc ở các vùng

sản xuất nông, lâm nghiệp chun mơn hố.

Vùng chun canh sản xuất nơng, lâm nghiệp đúng nghĩa phải là vùng áp

dụng các phương thức sản xuất hiện đại, đặc biệt là áp dụng đồng bộ vấn đề thuỷ lợi

hoá, cơ giới hoá, điện khí hố, hố học hố và sinh học hố vào quá trình sản xuất.

Để làm được điều này việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho vùng chuyên canh

giữ vai trò quyết định.

4.2.1.3. Lựa chọn phương thức canh tác phù hợp với điều kiện của tỉnh nói chung,

của từng địa phương trong tỉnh nói riêng

Phương thức canh tác có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển bền vững của

sản xuất nông, lâm nghiệp. Tỉnh Yên Bái đã từng trải qua nhiều phương thức canh

tác nông nghiệp khác nhau trong lịch sử:

Phương thức canh tác tiên tiến là thâm canh sản xuất. Thâm canh được hiểu

một cách đơn giản là: cách thức làm tăng sản lượng các loại nông lâm sản bằng việc

tăng đầu tư trên một đơn vị diện tích sẵn có bằng việc ứng dụng các tiến bộ mới về

khoa học công nghệ trong sản xuất nông, lâm nghiệp, bằng việc đổi mới phương

thức tổ chức sản xuất và quản lý trong nông, lâm nghiệp,… Thâm canh là phương

thức chủ yếu của phát triển nông, lâm nghiệp, vì đất vùng có đặc điểm rất quan

trọng là nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của nó là khơng có giới hạn.

Trong thực tiễn, có nhiều mơ hình sản xuất có thể bảo đảm tốt phương thức

thâm canh cho tỉnh Yên Bái. Có thể là mơ hình ruộng - vườn - ao - chuồng, hay

vườn - ao -chuồng, hoặc rừng - ao - chuồng, vườn rừng, lúa - cá... cách thức chung

là nông - lâm kết hợp, hoặc nông - lâm - thuỷ kết hợp.

Nghiên cứu và ứng dụng mơ hình canh tác trên đất dốc nhằm nâng cao hiệu

quả sử dụng và bảo vệ môi trường cho các huyện và xã vùng cao. Chú trọng kỹ

149



150

thuật canh tác, hạn chế tối thiểu xói mòn; thực hiện các biện pháp giữ ẩm, tưới tiết

kiệm; áp dụng các mơ hình nơng - lâm và nơng - lâm - ngư nghiệp.

Sử dụng mơ hình nào cho có hiệu quả là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của

từng vùng và năng lực của từng nông hộ. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030,

NCS cho rằng tỉnh Yên Bái cần tập trung mạnh hơn, quyết liệt hơn cho việc thâm

canh sản xuất nông, lâm nghiệp.

4.2.1.4. Ứng dụng các tiến bộ mới của khoa học và công nghệ vào sản xuất nông,

lâm nghiệp của các địa phương trong tỉnh

Trong những năm vừa qua, đặc biệt là một vài thập kỷ gần đây nhân loại đã

đạt được những bước tiến hết sức quan trọng trong các lĩnh vực khoa học công nghệ

phục vụ sản xuất nông nghiệp, từ công nghệ tưới tiêu nước cho cây trồng, công

nghệ cơ khí, cơng nghệ điện, cơng nghệ hố chất, cơng nghệ tự động hố cho đến

cơng nghệ sinh học. Đặc biệt, sự tiến bộ trong công nghệ sinh học như công nghệ

biến đổi gen, công nghệ nuôi cấy mô, công nghệ nano đã tạo ra một thời kỳ mới cho

sự phát triển của ngành sản xuất quan trọng này theo hướng bền vững.

Chính vì thế, cách tốt nhất để tỉnh n Bái tạo ra sự phát triển nhanh, phát

triển theo hướng bền vững đối với sản xuất nông, lâm nghiệp là mạnh dạn đầu tư

nhiều hơn cho việc tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ mới về khoa học - công nghệ

vào lĩnh vực sản xuất này. Tuy nhiên, các tiến bộ khoa học công nghệ chỉ thực sự

phát huy tác dụng và đem lại hiệu quả cao khi biết sử dụng hợp lý nó. Điều này có

nghĩa là, tiến bộ mới về khoa học công nghệ trong lĩnh vực nơng, lâm nghiệp có rất

nhiều, việc sử dụng cái gì phải có sự tính tốn, cân nhắc cho phù hợp. Đặc biệt là

phát huy được tiềm năng phát triển kinh tế theo các vùng cao, vừa phát huy được

thế mạnh của từng vùng đồng thời huy động kiến thức bản địa của người dân ngay

tại chỗ. Đối với sản xuất của các hộ nơng dân, khuyến khích họ mạnh dạn ứng dụng

các tiến bộ trong công nghệ sinh học, trước hết là sử dụng các loại giống cây trồng,

con vật nuôi phù hợp với điều kiện đất vùng, thời tiết, khí hậu của địa phương, cho

năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt. Áp dụng phương pháp tưới tiêu phù hợp, sử

dụng hợp lý, theo đúng quy định các loại phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật và

các hoá chất phục vụ sản xuất nông nghiệp khác.



150



151

4.2.1.5. Đầu tư thoả đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ sản

xuất nông nghiệp của vùng

Lao động của tỉnh Yên Bái chủ yếu là lao động nông nghiệp, và điều đáng nói

là trên 50% trong số lao động này là đồng bào các dân tộc thiểu số. Vì vậy, đa phần

là họ làm nông nghiệp theo kinh nghiệm cha truyền, con nối từ đời này sang đời

khác là chính những hiểu biết về chun mơn là rất hạn chế, thậm chí một số người

còn chưa thốt nạn mù chữ. Trong khi đó, muốn phát triển nơng, lâm nghiệp theo

hướng bền vững thì đòi hỏi phải ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản

xuất. Đây là một mâu thuần lớn của các địa phương trong tỉnh cần được các cấp, các

ngành quan tâm đầu tư giải quyết. Nâng cao trình độ cho người nơng dân là một

việc làm khơng dễ, bởi vậy đòi hỏi phải có sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống

chính trị, phải được đầu tư thoả đáng về nguồn lực tài chính và phải được tiến hành

sâu rộng, liên tục trong một thời gian nhất định [3].

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giáo dục và Đào tạo nên mạnh

dạn xây dựng chiến lược bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ mọi mặt cho nơng

dân của địa phương mình. Việc bồi dưỡng, đào tạo chủ yếu dựa vào các trung tâm

dạy nghề của các huyện, các trường nghề, trường trung cấp, cao đẳng, đại học trên

địa bàn từng tỉnh hoặc liên tỉnh, cũng như thông qua các lớp bồi dưỡng, các lớp tập

huấn do các trung tâm khuyến nơng, khuyến lâm, hoặc do Đồn Thanh niên, Hội

Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh.v.v. tổ chức.

Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập sâu, rộng với khu vực

và thế giới, việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho người nơng

dân trong tỉnh cũng có thể dựa vào các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế,

hoặc vào các chương trình, dự án do Nhà nước ta và các tổ chức quốc tế hỗ trợ.

4.2.1.6. Đầu tư phát triển các loại dịch vụ hỗ trợ phát triển nông, lâm nghiệp

Để sản xuất nông, lâm nghiệp đi sâu vào chuyên môn hố sản xuất, từ đó tạo

ra được ngày càng nhiều các loại nơng lâm sản có chất lượng cao cung cấp cho thị

trường trong và ngồi nước, vấn đề khơng thể thiếu được là phải xây dựng và phát

triển đồng bộ hệ thống dịch vụ hỗ trợ nó, tách hệ thống dịch vụ ra thành một ngành

độc lập là xu hướng tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển nền nơng, lâm

nghiệp hiện đại.

151



152

Có nhiều loại dịch vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp: Dịch vụ tưới tiêu, dịch

vụ làm đất, dịch vụ cung ứng máy móc, thiết bị, vật tư, dịch vụ cung cấp các loại

phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc phòng trừ dịch bệnh, dịch vụ thu hoạch sản

phẩm, dịch vụ bảo quản và chế biến các loại sản phẩm… Hệ thống dịch vụ phát

triển đến mức độ nào chủ yếu phụ thuộc vào trình độ chun mơn hố của sản xuất

nơng, lâm nghiệp tại thời điểm đó, cũng như tầm nhìn của đội ngũ cán bộ quản lý và

các nguồn lực mà địa phương có thể huy động được.

Quan điểm và xu hướng chung của mà Đảng và Nhà nước ta đề ra là phải

nhanh chóng hình thành và phát triển đồng bộ, theo hướng hiện đại hệ thống dịch

vụ hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, tại từng địa phương và tại từng thời

điểm cụ thể, phát triển dịch vụ nào trước, dịch vụ nào sau cần phải có sự cân nhắc,

tính tốn có cơ sở khoa học, dựa trên yêu cầu thực tế của sản xuất nông, lâm nghiệp,

trên nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực hiện có của địa phương mình. Đối với

Yên Bái, xuất phát từ thực trạng phát triển của nền nông, lâm nghiệp trên địa bàn

những năm vừa qua, cũng như định hướng phát triển của những năm tới, NCS cho

rằng các địa phương trong tỉnh cần ưu tiên đầu tư phát triển những lĩnh vực dịch vụ

chủ yếu như tưới tiêu, cung cấp các loại giống cây trồng, con vật ni, khuyến

khích các thành phần kinh tế trong và ngoài địa bàn đầu tư, dịch vụ thú y, khuyến

khích các thành phần kinh tế trên địa bàn hình thành mạng lưới tiêu thụ nông lâm

sản ổn định cho người nông dân.

Cách tốt nhất là có sự liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất, chế biến và người

tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp có vai trò quản lý của nhà nước (liên kết 4 nhà).

Sự liên kết này phải dựa trên những hợp đồng có tính pháp lý chặt chẽ. Chính quyền

Nhà nước các cấp có trách nhiệm gì, người sản xuất nơng nghiệp có trách nhiệm gì,

người tiêu thụ sản phẩm có trách nhiệm gì, ai vi phạm sẽ bị xử lý như thế nào đều

phải được quy định rõ trong hợp đồng. Đương nhiên, để việc làm này thành cơng,

chính quyền các cấp phải chủ động đứng ra vận động các bên cùng tham gia.

4.2.1.7. Mở rộng thị trường tiêu thụ các loại nơng lâm sản hàng hố do người dân

trong vùng làm ra

Cùng với quá trình đầu tư thâm canh sản xuất, nhiều loại nơng sản hàng hố

trong vùng sẽ được sản xuất ra với số lượng ngày càng lớn, nếu không tạo dựng

152



153

được thị trường tiêu thụ tốt và ổn định, việc sản xuất lập tức sẽ bị đình trệ, và nơng

dân sẽ phải gánh chịu nhiều tổn thất nặng nề. Vì thế, mở rộng thị trường tiêu thụ

cho các loại nông sản được người nông dân trên địa bàn sản xuất ra là một yêu cầu

bức xúc đối với mỗi địa phương trong tỉnh.

4.2.2. Giải pháp cụ thể

4.2.2.1. Giải pháp sử dụng tài nguyên đất và rừng theo độ dốc của địa hình

a. Đối với khu vực địa hình có độ dốc trên 15º

Tiến hành quy hoạch thành các loại hình sử dụng đất và rừng theo thế mạnh

của từng loại về hiệu quả bảo vệ tài nguyên đất, rừng, hạn chế mất rừng, hạn chế

được xói mòn, rửa trơi đất; Phát triển rừng kinh tế, ổn định rừng đặc dụng, hạn chế

tối đa sự suy giảm của rừng phòng hộ; Chuyển đổi từ phương thức sản xuất tự cung

tự cấp sang sản xuất hàng hoá; Nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích.

Một trong những hình thức canh tác truyền thống của cộng đồng các dân tộc

của tỉnh Yên Bái đối vùng đất có độ dốc trên 15 0 là canh tác nương rẫy, đây là một

kiểu điển hình của loại đất nơng nghiệp, nhưng những năm gần đây canh tác nương

rẫy cho hiệu quả thấp, vì vậy, diện tích đất nương rẫy cần được chuyển sang trồng cây

lâu năm hoặc trồng cỏ chăn ni. Những nơi có nguồn nước thuận lợi cần mở rộng

xây dựng mơ hình lúa nước ruộng bậc thang, một số diện tích đất khác khơng thuận

lợi về nguồn nước cần được chuyển sang trồng rừng sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế

và bền vững. Mù Cang Chải và Trạm Tấu là khu vực có địa hình cao có nhiều đất

nương rẫy, tuy nhiên khu đất có bề dày tầng mặt từ khoảng 60 cm - 100 cm và khơng

bị ảnh hưởng bởi lũ qt thì mới làm ruộng bậc thang trồng lúa nước, vừa tạo cảnh

quan đẹp cho du lịch vừa góp phần phát triển bền vững trong nông nghiệp.

Khi thực hiện các phương án quy hoạch sử dụng đất và rừng trong hoạt động

sản xuất nông, lâm nghiệp ở khu vực có độ dốc trên 15º, cần chú trọng đến những

nguyên lý cơ bản của phương pháp chống xói mòn, rửa trơi. Cụ thể như sau:

- Tạo và duy trì thảm thực vật có độ che phủ lớn quanh năm, bằng cách giữ

vốn rừng hiện có kết hợp với việc chuyển một phần diện tích đất nương rẫy sang

trồng rừng sản xuất, trồng cỏ hoặc cây lâu năm, những diện tích còn lại phải có biện

pháp xen canh, luân canh thích hợp cùng với giải pháp hạn chế làm đất, tạo nguyên

liệu phủ bề mặt.

153



154

- Để hạn chế độ dốc địa hình thì dùng biện pháp tạo ruộng bậc thang trồng lúa

nước ở những nơi có nguồn nước thuận lợi và tạo ruộng bậc thang trồng màu ở

những nơi nguồn nước bị hạn chế.

- Đối với những địa hình đất có dốc dài thì chia dốc thành nhiều đoạn bằng

hình thức trồng băng cây xanh và làm nương cố định.

- Cần có sự kết hợp với những tri thức bản địa của bà con trong quá trình sử

dụng đất và rừng vào hoạt động sản xuất, học hỏi những kinh nghiệm thành công

trong việc bảo vệ, chăm sóc rừng và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất canh tác.

- Ngồi những yếu tố chung trên thì mỗi loại hình sử dụng cần có những điều

kiện riêng. Đối với đất và rừng ở những khu vực có độ dốc trên 15º, phương án sử

dụng có hiệu quả là quy hoạch vào các loại hình sau:

+ Trồng lúa nước trên ruộng bậc thang: sẽ đáp ứng được việc giảm độ dốc tự

nhiên, hạn chế xói mòn, rửa trơi, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh

lương thực cho cư dân vùng núi, hạn chế được nạn phá rừng, phát nương làm rẫy.

Trong thực tế sản xuất, 1 ha ruộng nước sẽ cho sản lượng lương thực cao gấp 6 lần 1

ha đất nương rẫy. Vì vậy mơ hình ruộng bậc thang sẽ là giải pháp tối ưu mang lại hiệu

quả sử dụng đất cao đối với những khu vực địa hình có độ dốc trên 15º.

+ Trồng chè: nhằm khai thác tốt nhất lợi thế và giảm thiểu những bất lợi về

điều kiện tự nhiên của tỉnh. Những diện tích đất dốc quy hoạch trồng chè phải phù

hợp với yêu cầu sinh thái của cây chè. Nên tập trung ở những vùng chè truyền thống

và góp phần mở rộng các vùng chè chuyên canh. Trên những diện tích dự kiến trồng

chè, trước tiên phải trồng cây đậu đỗ 1 năm - 2 năm để đảm bảo nguồn dinh dưỡng

tốt cho cây chè trong thời kỳ kiến thiết. Nếu địa hình có độ dốc lớn có thể tạo ruộng

bậc thang để hạ độ dốc. Trồng cây chắn gió và hàng rào xanh theo ranh giới của

thửa đất bằng các cây phân xanh để tạo hình nương chè. Để nâng cao hiệu quả kinh

tế của loại hình trồng chè, cần tuân thủ nghiêm túc các quy trình kỹ thuật từ khâu

làm đất (cách đào rãnh trồng chè, thời điểm làm đất), chọn giống (căn sứ vào độ cao

của thửa đất để chọn giống cho phù hợp), kỹ thuật trồng và chăm sóc cho đến khâu

trồng cây phân xanh và che bóng (lựa chọn loại cây, thời điểm gieo trồng, vị trí gieo

trồng, khoảng cách trồng,…).

154



155

- Trồng cây ăn quả với nhiều sản phẩm khác nhau từ cây ôn đới và á nhiệt đới,

đến nhiệt đới, vì tính phổ biến của cây ăn quả rộng, phong phú thích ứng nhiều loại

đất khác nhau, nhất là khu vực đất nông nghiệp có độ dốc cao trên 15º. Trơng cây

ăn quả khơng đòi hỏi khắt khe, tuy nhiên vẫn cần lưu ý các vấn đề mang tính kỹ

thuật như: chọn địa bàn trồng phù hợp với đặc điểm từng loại cây; cải tạo đất và

thiết kế vườn cây ăn quả phù hợp (ở những diện tích đất dốc, đất bạc màu, trước khi

trồng cây ăn quả phải được trồng cây đậu đỗ 1 năm - 2 năm); chú ý mật độ cây ăn

quả; thời vụ trồng cây ăn quả.

- Trồng cỏ chăn nuôi: Để giải quyết nhu cầu thức ăn cho đàn đại gia súc, ngồi

thức ăn tinh và phụ phẩm nơng nghiệp, cần một diện tích đồng cỏ hàng ngàn hecta.

Đất có khả năng phát triển đồng cỏ chăn ni là đất nương rẫy có độ dốc khá lớn.

Chuyển diện tích đất dốc ở những nơi cây trồng cho năng suất thấp sang trồng cỏ, còn ở

những nơi có độ dốc cao nên chuyển sang đồng cỏ tự nhiên. Trồng cỏ khơng đòi hỏi

các điều kiện khắt khe. Nhưng chú ý các khâu cần thiết để đảm bảo hiệu quả kinh tế

trong trồng cỏ chăn nuôi gồm: Làm đất và trồng cỏ; Bố trí giống cỏ theo địa hình,

hình thức và quy mô chăn nuôi.

- Trồng rừng sản xuất và rừng khoanh ni tái sinh, với diện tích trên 1/4 đất

nương rẫy có độ dốc trên 25º, là những diện tích mà hiện tượng xói mòn, rửa trơi

diễn ra mạnh mẽ nhất, xa khu dân cư, khơng có các điều kiện chăm sóc, nên đây

cũng là điển hình của kiểu canh tác khai thác tự nhiên. Năng suất cây trồng ở những

khu vực này rất thấp, thậm chí có nơi khơng cho thu hoạch nên nhiều nơi người dân

đã để hoang thành đất trống đồi núi trọc. Vì vậy, những diện tích đất này cần phải

chuyển đổi sang trồng rừng hoặc khoanh ni tái sinh. Tồn tỉnh có khoảng 3.000

ha có thể trồng rừng kinh tế và khoảng 2.000 ha có thể khoanh nuôi tái sinh. Hiện

nay, các loại đất rừng và đất nương rẫy đã được giao cho các tổ chức và hộ gia đình

quản lý sử dụng. Do đó đã hạn chế được tình trạng đất nương rẫy kém hiệu quả bỏ

hoá thành đất trống đồi trọc mà được các chủ hộ chuyển sang trồng rừng hoặc

khoanh nuôi tái sinh. Thu nhập hỗn hợp từ trồng măng tre Bát Độ tại xã Púng

Luông, huyện Mù Cang Chải đã đạt 40 triệu đồng/ha/năm, hơn hẳn so với canh tác

nương rẫy, chỉ thu được từ 4 triệu đồng - 6 triệu đồng/ha/năm.

155



156

Rừng trồng đặc sản khắt khe hơn, phụ thuộc sâu sắc vào đất vùng và tiểu khí

hậu và chế độ chăm sóc, như cây quế cũng chỉ phát triển tốt và cho lượng tinh dầu

cao hơn trong một số vùng sinh thái nhất định ở Văn Yên và Văn Chấn.

b. Đối với khu vực địa hình có độ dốc dưới 15º

Quy hoạch đất nông, lâm nghiệp ở khu vực này thành những vùng trồng cây

hàng năm theo hướng: Đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho cư dân bản

địa; Sản xuất sản phẩm mang tính chun mơn hóa; Nâng cao hiệu quả sản xuất

trên một đơn vị diện tích; Gắn mỗi vùng trong tỉnh với một sản phẩm nơng, lâm

nghiệp đặc trưng. Loại hình sử dụng đất phù hợp với những diện tích có độ dốc

dưới 15º là chuyên trồng lúa và các cây màu ngắn ngày. Những cây trồng chủ lực

ở tỉnh Yên Bái phù hợp với loại đất này gồm: lúa, ngô, sắn, đậu tương, lạc và các

loại rau củ, hoa.

- Trồng lúa, trồng màu và ni trồng thủy sản: Đối với những vùng diện tích

đất nơng nghiệp có độ dốc từ 0º- 8º thì loại hình sử dụng đất thích hợp, mang lại

hiệu quả KT-XH cao là chuyên trồng lúa; kết hợp trồng lúa với cây màu; chuyên

trồng màu và nuôi trồng thủy sản để đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm

trong nội tỉnh, đồng thời cung cấp nguyên liệu, lương thực, thực phẩm cho các thị

trường ngồi tỉnh. Các cơng thức ln canh, xen canh có thể áp dụng là: Lúa xuân lúa mùa; Lúa xuân - lúa mùa - ngô đông; Lúa xuân - lúa mùa - đậu đỗ đông; Lúa

xuân - lúa mùa - khoai tây đông; Lúa xuân - lúa mùa - rau đông; Lúa - cá ruộng;

chuyên trồng rau; chuyên trồng hoa; nuôi cá lồng (cá tầm, rô phi đơn tính, trắm,...),

ni tơm, ni Ba ba, ếch,...

- Trồng Ngô: Để cây ngô thực sự trở thành cây lương thực hàng hố trên đất

n Bái thì cần xây dựng, quy hoạch vùng trồng ngô tập trung. Trong quy hoạch, đặc

biệt chú trọng vào các huyện có lợi thế về trồng ngô như: Văn Chấn, Văn Yên, Lục

Yên và Mù Cang Chải. Tại đây tập trung thâm canh các diện tích ngơ đã có, mở rộng

diện tích trên các chân đất ruộng 1 vụ lúa mùa bằng ngô vụ xuân, trên đất chuyên màu

bằng ngô vụ xuân hè và ngô vụ hè thu. Đối với đất nương rẫy, cần phát triển ngô các

vùng chuyên canh tập trung và các vùng ít đất ruộng, khó khăn về lương thực. Ở

những địa phương khơng có lợi thế về cây ngơ cần chuyển đổi sang các cây trồng

khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

156



157

- Trồng đậu tương: nhằm cải tạo, hạn chế sự bạc màu đất nơng, lâm nghiệp

trong q trình sản xuất, mặt khác phát huy lợi thế về tính thích nghi rộng rãi của

loại cây trồng này. Bố trí đất trồng đậu tương ở những nơi có điều kiện thích hợp

cho năng suất cao như các khu vực chân đồi núi, đặc biệt là các khu vực chân núi đá

vôi như vùng Lục Yên, Mù Cang Chải, Văn Chấn. Bên cạnh đó, nghiên cứu, lai tạo

các giống đậu tương có khẳ năng chịu hạn tốt, thích nghi với địa hình dốc và cho

năng suất cao. Đậu tương có thể trồng 2 vụ liên tiếp hoặc luân canh với một số cây

trồng khác tùy thuộc vào điều kiện thời tiết trong năm như: ngơ xn hè + đậu

tương (nếu có mưa sớm); ngô xuân hè + gối đậu tương/lạc và đậu tương + đậu

tương (nếu mưa muộn). Đây là chế độ luân canh đảm bảo được hiệu quả kinh tế trên

một đơn vị diện tích và nâng cao độ che phủ mặt đất trong năm.

- Trồng sắn: Chuyển đổi những diện tích trồng sắn kém hiệu quả sang trồng

cây cơng nghiệp ngắn ngày khác hoặc sang trồng cây ăn quả. Với diện tích sắn còn

lại, tập trung đầu tư thâm canh, khuyến khích người nơng dân trồng sắn lưu gốc

thay thế chu kỳ bỏ hố tự nhiên. Mở rộng diện tích trồng sắn ở những địa phương

có cơ sở chế biến như khu vực vùng thấp. Khuyến khích trồng sắn lưu gốc 2-3 năm.

Đây là mơ hình canh tác nương rẫy tiên tiến thay vì bỏ hóa tự nhiên bằng chu kỳ bỏ

hoá nhân tạo. Chú trọng kết hợp với các giải pháp cải tạo đất có thể áp dụng ngay

mơ hình trồng xen sắn với gừng và cây lạc dại. Đây là kết quả nghiên cứu mà các

chuyên gia trong lĩnh vực trồng trọt đã thử nghiệm thành cơng. Có thể khẳng định

đây là một giải pháp có tính đột phá trong việc nâng cao cả hiệu quả về kinh tế cũng

như hiệu quả môi trường trong sử dụng đất nơng, lâm nghiệp có độ dốc cao tại tỉnh

n Bái. Với mơ hình này, sắn có thể được trồng ở cả 3 vùng cao quanh năm mà đất

không bị bạc màu, vì tồn bộ diện tích trồng sắn được bao phủ bởi một lớp cây lạc

dại, đây là loại cây dây leo bám sát mặt đất có tác dụng cố định đạm và chống xói

mòn, rửa trơi rất tốt. Trồng xen gừng với sắn một mặt làm cho các loại cỏ dại khơng

mọc, mặt khác lại có sản phẩm gừng củ để bán với giá thị trường hiện nay trung

bình khoảng 25.000đồng/kg. Với mơ hình trồng sắn này năng suất sắn có thể đạt

đến 45 tấn/ha, bán với giá trung bình khoảng 4.500.000 đồng/tấn. Như vậy, cây sắn,

cây gừng đã mang lại thu nhập đáng kể cho người dân, biến đặc điểm bất lợi của đất

nông, lâm nghiệp thành lợi thế của tỉnh miền núi.

157



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

và định hình đến năm 2030

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×