Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
giai đoạn 2005 - 2016

giai đoạn 2005 - 2016

Tải bản đầy đủ - 0trang

125

Tại vùng cao (bảng 3.14), trong cơ cấu giá trị đất nơng nghiệp thì đất sản xuất

nơng nghiệp chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng có sự tăng liên tục qua các năm cả về giá trị lẫn

cơ cấu. Năm 2005, đất sản xuất nông nghiệp là 7.501,13 ha (chiếm 8,62% cơ cấu)

thì đến năm 2016 diện tích này đã tăng lên và đạt 14.012,2ha (15,2% cơ cấu), tức là

tốc độ tăng trưởng đạt 186,2%.

Trong cơ cấu giá trị diện tích đất sản xuất nơng nghiệp thì diện tích đất trồng

cây hàng năm chiếm ưu thế và tăng nhanh qua các năm. Cụ thể năm 2005, diện tích

đất trồng cây hàng năm là 5.350,69ha (71,33% cơ cấu) đến năm 2016 đã tăng nhanh

và đạt 13.058,0 ha (chiếm 92,14% cơ cấu), tức là tốc độ tăng trưởng đạt 244,0%.

Diện tích đất trồng cây lâu năm chiếm giá trị nhỏ và liên tục giảm qua các năm, năm

2005 diện tích đất trồng cây lâu năm là 2.150,44 ha (chiếm 28,67% cơ cấu) thì đến

năm 2016 diện tích này đã giảm khá nhanh chỉ còn 953,0ha (chiếm 7,86% cơ cấu.

Tốc độ tăng trưởng còn 44,3%.

Trong cơ cấu giá trị diện tích cây hàng năm cũng có sự thay đổi lớn. Năm

2005, diện tích cây lúa có giá trị lớn là 3.354,8 ha (chiếm 62,7% cơ cấu) đến năm

2016 có tăng và đạt 4.508,0 ha nhưng tỉ trọng giá trị trong cơ cấu lại giảm mạnh chỉ

còn 34,5%. Thay vào đó nếu như năm 2005, diện tích đất trồng cây hàng năm khác

là 1.995,89 ha (chỉ chiếm 37,3% cơ cấu) thì đến năm 2016 đã tăng mạnh lên 8.550,0

ha (tỉ trọng giá trị trong cơ cấu tăng lên và đạt 65,5%).

Trong cơ cấu giá trị diện tích trồng cây lúa cũng có sự biến đổi. Đất trồng lúa

còn lại chiếm giá trị lớn nhất, đất chuyên trồng lúa có giá trị lớn thứ hai và cả hai

loại diện tích trồng lúa này đều tăng liên tục qua các năm. Bên cạnh đó diện tích đất

trồng lúa nương giảm rất mạnh, từ 1.460,0 ha năm 2005 giảm xuống còn 200,8 ha

năm 2016. Nguyên nhân của sự thay đổi này là do người dân chuyển 1 phần diện

tích trồng lúa nương sang trồng cây ăn quả ở những nơi khơng thuận lợi về nguồn

nước. Còn những nơi thuận lợi về nguồn nước thì chuyển sang canh tác theo mơ

hình ruộng bậc thang. Đây là mơ hình tiên tiến, vừa cho hiệu quả kinh tế cao hơn,

vừa bảo vệ cảnh quan và mơi trường.

Trong diện tích đất hàng năm khác, có tính ổn định nhất qua các năm là diện

tích đất trồng cỏ phục vụ chăn ni, thể hiện thế mạnh chăn ni đại gia súc đang



126

được duy trì tại vùng này. Đất trồng cây hàng năm khác ở vùng cao này có xu

hướng tăng cả về diện tích và tỷ lệ cơ cấu, nguyên nhân là để đáp ứng nhu cầu

lương thực, thực phẩm mình thì người dân đã biết quan tâm khai thác mở rộng

diện tích.

Trong cơ cấu giá trị diện tích cây lâu năm cũng có nhiều biến động. So với

vùng thấp và vùng giữa, sự biến động diện tích cây lâu năm ở vùng này có sự khác

biệt. Trong giai đoạn 2005 - 2016, giảm mạnh diện tích cây trồng lâu năm do

chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác như: chuyển thành đất trồng cây

hàng năm khác (hơn 1.000,0ha), đất ở nông thôn (88,14 ha), đất ở đô thị (2,19 ha)

và đất có mục đích cơng cộng (2,02 ha). Ở cả vùng thấp và vùng giữa đều có diện

tích chè tăng, trong khi đó ở vùng cao diện tích trồng chè lại giảm mạnh do đa phần

người dân trong khu vực là dân tộc thiểu số, nghèo, ít có điều kiện đầu tư cho cây

chè nên năng suất không cao. Hơn nữa, ở đây việc tiêu thụ sản phẩm chè cũng khó

khăn vì thị thường ít người tiêu dùng, khơng có nhà máy chế biến chè ở tại vùng,

điều kiện giao thông không thuận lợi nên vận chuyển sang các vùng khác trong tỉnh

cũng gặp trở ngại. Một số loại cây ăn quả (Sơn Tra, mận), cây trồng lâu năm khác và

cây lâm nghiệp lại mang lại hiệu quả cao hơn trên vùng đất này nên diện tích trồng

các loại cây này vẫn tăng (Hình 3.4).



127



Bảng 3.15. Biến động diện tích đất lâm nghiệp ở vùng cao giai đoạn 2005 - 2016

2005

2010

Diện tích Cơ cấu Diện tích



2015

2016

So sánh 2016/2005 TĐPT

Diện tích Diện tích Cơ cấu

+, +, -% 2005Loại hình sử dụng

(ha)

(%)

(ha)

(ha)

(ha)

(%)

(ha)

(%) 2016 (%)

ĐẤT NÔNG NGHIỆP

87.040,61 100,0

89.031,86 92.435,0

92.425,0 100,0 5.384,39

0

106,2

Đất lâm nghiệp

79.538,73

91,38 79.019,81

78.407,0

78.404,0 84,8

-1.134,7 -6,58

98,6

Đất rừng sản xuất

0.0

0.0

3.344,07

13.624,0

13.624,0 17,4 13.624,0

17,4

- Đất có rừng tự nhiên SX

0,0

0,0

33,64

9.781,59

9.941,59 73,0 9.941,59

73,0

- Đất có rừng trồng SX

0,0

0,0

960,78

2.184,11

2.348,61 17,2

2.348,61 17,2

- Đất khoanh nuôi phục hồi rừng SX

0,0

0,0

892,47

517,3

517,3

3,8

517,3

3,8

- Đất trồng rừng SX

0,0

0,0

1.457,18

1.141,0

816,5

6,0

816,5

6,0

Đất rừng phòng hộ

68.270,93

85,8 55.567,28

44.674,0

44.672,0 57,0 -23.598,9 -28,8

65,4

- Đất có rừng tự nhiên PH

43.191,88

63,3 31.899,17

22.176,5

22.172,0 49,6 -21.019,9 -13,7

51,3

- Đất có rừng trồng PH

12.952,96

19,0 12.170,56

15.439,5 15.439,5

34,6

2.486,5

15,6

119,1

- Đất khoanh ni phục hồi rừng PH

6.971,31

10,2 6.488,03

4.513,0

4.513,0

10,1 -2.458,3

-0,1

64,7

- Đất trồng rừng PH

5.154,78

7,5 5.009,52

2.518,0

2.518,0

5,7

-2.636,8

-1,8

48,8

Đất rừng đặc dụng

11.267,80

14,2

20.108,46 20.108,46 20.108,46 25,6 8.840,66

11,4

178,5

Nguồn: Tổng hợp, tính tốn từ số liệu của Phòng Tài ngun và Môi trường huyện Mù Cang Chải



128

Tại vùng cao (bảng 3.15), nguồn tài nguyên giá trị mà thiên nhiên đã ban tặng

và cũng là tiềm năng kinh tế to lớn của vùng chính là rừng. Trong giai đoạn 2005 2016 diện tích đất lâm nghiệp của khu vực vùng cao có nhiều biến động. Năm 2016

diện tích đất lâm nghiệp giảm 518,92 ha, về cơ cấu giảm 6,5% so với năm 2005.

Trong đó giảm mạnh là diện tích đất rừng phòng hộ các loại, đất rừng tự nhiên

phòng hộ giảm nhiều nhất là do chuyển mục đích sử dụng và nạn chặt phá rừng.

Diện tích đất rừng đặc dụng và đất rừng sản xuất tăng trong giai đoạn này.

Bảng 3.16. Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành của khu vực vùng cao



(Đơn vị: Triệu đồng)



Năm



Tổng số



2010

2013

2014

2015

2016



52.180,3

74.458,7

119.654,3

124.201,3

124.201,3



Chia ra

Thu nhặt sản

Trồng và

Khai thác

Dịch vụ

phẩm khơng

chăm sóc

gỗ và lâm

lâm

phải gỗ và lâm

rừng

sản khác

nghiệp

sản

7.803,1

22.611,4

10.847,3

10.918,5

6.826,1

28.403,1

24.145,9

15.083,6

19.872,4

63.117,6

26.541,0

10.123,3

20.151,7

74.797,2

19.129,1

10.123,3

5.333,1

73.160,0

26.986,9

31.447,1

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Mù Cang Chải 2016



TĐTT (%)



Hình 3.10. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp qua các năm

của các vùng ở tỉnh Yên Bái



2010



2013



2014



2015



2016



Năm



129

Nguyên nhân biến động của các loại đất lâm nghiệp như trên ở vùng cao là do đã

đưa một diện tích đáng kể đất núi đá trước kia chưa sử dụng vào trồng cây lâm nghiệp,

rừng phòng hộ bị giảm một diện tích khá lớn giảm nhưng trên thực tế lại được chuyển

thành rừng sản xuất và rừng đặc dụng. Để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm cho người

dân trong vùng đã có khoảng hơn 300,0 ha đất lâm nghiệp được chuyển sang đất trồng

cây hàng năm khác. Chuyển khoảng hơn 600 ha đất lâm nghiệp các loại được sang đất

có mục đích cơng cộng. Có hơn 100,0 ha đất rừng giảm do các nguyên nhân khác chưa

được làm rõ, nhưng thực tế nghiên cứu cho thấy có một diện tích rừng tự nhiên khá lớn

ở vùng này đã bị tàn phá vì mục đích lợi nhuận và để phục vụ nhu cầu sinh hoạt như

đun nấu, làm nương rẫy và làm nhà sàn (Hình 3.6).

Nghiên cứu bảng 3.16 cho thấy giá trị sản xuất lâm nghiệp của khu vực vùng

cao có quy mơ khơng lớn nhưng giá trị sản xuất liên tục tăng nhanh trong khoảng

10 năm trở lại đây. Nếu năm 2005, giá trị sản xuất lâm nghiệp mới chỉ đạt 52.180,3

triệu đồng thì đến năm 2016 đã tăng lên và đạt 136.927,1 triệu đồng, tức tăng

84.746,8 trong khoảng 10 năm. Đạt tốc độ tăng trưởng là 450%. Kết quả này cho

thấy khu vực vùng cao đã và đang có sự đầu tư phát triển đúng hướng để khai tác có

hiệu quả nhất những thế mạnh về phát triển lâm nghiệp của vùng (bảng 3.16),

(Hình 3.7), (Hình 3.10).

Trong cơ cấu giá trị sản xuất lâm nghiệp thì ngành mang lại giá trị sản xuất

cao nhất là khai thác gỗ và lâm sản khác, tiếp đến là giá trị từ ngành thu nhặt sản

phẩm không phải gỗ và lâm sản. Thực tế này cho thấy đồng bào đã biết đẩy mạnh

sinh kế dựa vào nguồn lợi từ rừng.

Từ bảng 3.17 có thể thấy, nhiều loại cây trồng, đặc biệt là lúa, ngô và cây lâm

nghiệp khá phù hợp với các điều kiện tự nhiên của vùng này. Thực tế nghiên cứu cho

thấy, tuy năng suất và sản lượng của các loại cây trồng ở khu vực vùng cao tương đối ổn

định và có xu hướng tăng dần nhưng so với năng suất và sản lượng của các cây trồng

cùng loại ở khu vực vùng giữa và vùng thấp thì vẫn thấp hơn. Sản lượng cây trồng

khơng đủ đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm tại chỗ, vùng này vẫn có hàng nghìn

hộ rơi vào tình trạng đói và phải cứu đói mỗi năm. Trong giai đoạn 2005 - 2016, sản

lượng các cây trồng tăng nhanh nhất lần lượt là sơn tra, sau đó đến ngơ, lúa và chè.

Trong giai đoạn này sản lượng sơn tra tăng mạnh chủ yếu là do mở rộng diện tích (tăng

14 lần).Sản lượng lúa tăng do sự gia tăng chủ yếu của năng suất và một phần nhỏ do

mở rộng diện tích. Khơng giống với cây lúa, so với các cây trồng khác sản lượng ngô

tăng khá nhiều và cũng do cả sự gia tăng của diện tích lẫn năng suất, nhưng sự gia tăng

do mở rộng diện tích lớn hơn (Hình 3.8).



130



Bảng 3.17. Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính và thuỷ sản ở vùng cao

Cây trồng/

NTTS

Cây hàng năm

Lúa cả năm

Ngô cả năm

Sắn cả năm

Khoai lang

Rau các loại

Đậu tương

Lạc

Mía



2005



SSSL

TĐTT

2016/2005

DT

NS

SL

DT

NS

SL

DT

NS

SL

+,(%)

(ha) (tạ/ha)

(tấn)

(ha) (tạ/ha) (tấn)

(ha)

(tạ/ha)

(tấn)

(tấn)

4.210,0 27,88 11.739,0 4.506,0 42,35 19.084 5.691,0 40,27 22.917,0 13.083,9

233,0

2.657,0 25,34 6.733,0 4.296,0 33,08 15.598,0 4.708,0 33,13 15.598,0 12.052,3

439,9

360,0 100,1 3.604,0

350,0 126,06 4.412,0 343,0 135,01 4.631,0

1.195,6

134,8

69,0

41,5

286,0

73,0

51,2

374,0

74,0

50,9

377,0

111,8

142,1

264,0 108,18 2.853,0

301,3 104,4 3.145,0 306,0

105,0 3.217,2

336,4

141,1

350,0

7,7

270,4

211,6 12,1

140,1

95,3

12,2

116,3

29.5

133,9

170,0

9,1

90,0

95,3

14,0

77,4

98,5

14,8

90,0

26,2

141,1

22,4 147,0

329,2

23,5 150,0 352,1

23,8

150,0

357,1

86,2

131,8

+, (ha) (tạ/ha)

(tấn)

(ha) (tạ/ha) (tấn)

(ha)

(tạ/ha)

(tấn)

(%)

(tấn)

500,0 40,0

2.000,0

700,0 45,0 3.150,0 761,0

47,0

3.576,7

3.327,1

1.432,0

181,0 28,1

509.0

146,4 36,2

529,4

92,3

25,4

235,3

-795,2

23,4

1.184,0 16,7

1.593,0

756,2

4,6

534,0

371,0

10,7

398,0

-1914,0

17,2

2.937,0 130,0 38.181,0 3.163,0 138,0 43.649,4 3.292,0 136,0 44.771,0 24.226,5

217,9

+,(ha) (tạ/ha

(tấn)

(ha) (tạ/ha) (tấn)

(ha)

(tạ/ha)

(tấn)

(%)

(tấn)

10,3

14,2

14,628

11,0

24,1

26,6

13,0

23,0

29,9

26,15

797,0

2010



DT

NS

SL

(ha) (tạ/ha) (tấn)

3.981,0 24,7 9.833,1

1.886,0 18,8 3.545,7

356,0 96,5 3.435,4

65,0

40,8

265,2

224,0 99,3 2.280,6

140,0

6,2

86,8

75,0

5,0

63,8

19,2 141,1 270,9



Cây lâu năm



(ha)



(tạ/ha)



(tấn)



Sơn tra

Cây ăn quả

Chè

CâyLN (8năm)



120,0

165,0

1.652,0

2.417,0



20,8

59,5

14,0

85,0



249,6

1.004,7

2.312,9

20.544,5



Nuôi trồng TS



(ha)



(tạ/ha)



(tấn)



Thuỷ sản



0,3



12,5



3,75



2015



2016



Nguồn: Niên giám thống kế huyện Mù Cang Chải năm 2010, 2016



131

Trong khoảng 10 năm qua, sản lượng cây lâm nghiệp tăng nhanh do cả chú

trọng đầu tư tăng năng suất và mở rộng diện tích. Thơng lá kim và sơn tra là những

cây lâm nghiệp chủ yếu được người dân trong vùng trồng. Sau 8 năm, hai loại cây

trồng này đem lại năng suất và thu nhập khá cao cho các hộ trồng rừng, điều đó khác

với cây lâm nghiệp của vùng giữa và vùng thấp.

So với vùng giữa và vùng thấp, năng suất nuôi trồng thủy sản ở vùng này thấp

hơn nhưng sản lượng vẫn đang có xu hướng tăng do mở rộng diện tích ni trồng.

Mặc dù đã được mở rộng, nhưng về diện tích ni trồng thủy sản của vùng này chỉ

bằng 1/70 diện tích ni trồng thủy sản vùng thấp và bằng 1/20 diện tích ni trồng

ở vùng giữa.

Thực tế nghiên cứu trên đã một lần nữa khẳng định thế mạnh trồng cây lâm

nghiệp và những hạn chế trong ni trồng thủy sản ở vùng cao (Hình 3.8).

Bảng 3.18. Hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất nơng nghiệp ở

vùng cao (Tính cho 1 ha năm 2016)

TT

1

2

3

4

5

6

7

8

9



Chỉ tiêu

Chuyên trồng lúa

(Lúa xuân - Lúa mùa)

Chuyên trồng màu

(Ngô xuân - Ngô mùa)

Chuyên trồng Sắn

Chuyên trồng màu (Khoai

lang)

Chuyên trồng màu (Đậu

tương)

Trồng cây lâu năm (Chè)

Trồng cây ăn quả

Nuôi trồng thuỷ sản

Trồng cây lâm nghiệp



GO

IC

VA

MI GTNC GO/IC VA/IC MI/IC

(tr. đ) (tr. đ) (tr. đ) (tr. đ) (ng. đ) (lần) (lần) (lần)

34,40 10,51 23,89 21,80 97,26



3,27



2,27



2,05



40,50 4,50 36,00 34,10 107,50 9,00



8,00



7,57



16,60 6,00 10,60 9,50



63,79



2,76



1,76



1,53



17,25 6,72 10,53 9,40



74,00



2,56



1.57



1,40



19,50 9,40 10,10 9,20



72,00



2,07



1,07



0.97



76,00

25,00

22,26

140,10



160,00

110,00

95,00

270,0



7,23

3,78

2,82

16,3



6,23

2,78

1,82

15,3



6,03

2,56

1,64

15,0



10,50

6,60

8,60

8,50



65,50

18,40

13,66

122,0



63,40

16,96

12,29

120,0



Nguồn: Tính tốn từ số liệu điều tra của NCS

Trong các loại hình sử dụng đất nơng nghiệp của khu vực vùng cao, xét về tất

cả các mặt như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp, giá trị ngày công,

hiệu quả sử dụng vốn cũng như một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cho thấy (bảng

3.18): Mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất là loại hình trồng cây lâm nghiệp, thể hiện

ở tất cả các chỉ tiêu như GO, VA, MI, GTNC, HSSDV, GO/IC và VA/IC đều cao.

Điều này cho thấy cây lâm nghiệp vẫn khẳng định được thế mạnh ở vùng này so với

vùng thấp và vùng giữa; tiếp theo là loại hình trồng chè đứng thứ hai, do đây là loại

cây khá thích hợp với đặc điểm tự nhiên của vùng cao (tuy nhiên hiện nay ít được

131



132

các hộ đầu tư phát triển do đòi hỏi nguồn vốn lớn); Loại hình trồng màu (cây ngơ)

có hiệu quả kinh tế cao thứ ba; loại hình chuyên trồng màu với cây đậu tương cho

hiệu quả kinh tế thấp nhất nguyên nhân là do bà con trồng đại trà và khơng đầu tư

phân bón, chăm sóc nên năng suất, chất lượng kém. Ở khu vực vùng cao cây đậu

tương được trồng với mục đích chủ yếu là cải tạo đất, chống bạc màu chứ chưa

được đầu tư thâm canh để tăng năng suất. Tính tự sản suất, tự tiêu thụ vẫn là bản

chất cố hữu của vùng này. Những nghiên cứu này kết hợp với các kết quả nghiên

cứu khoa học về thổ nhưỡng, về nơng học có thể khẳng định loại hình cây trồng phù

hợp nhất với khu vực vùng cao là cây lâm nghiệp. Tuy nhiên, việc phát triển rừng ở

vùng cao đang gặp phải những thác thức lớn đó là thiếu lương thực và thực phẩm

phục vụ cho đời sống hàng ngày. Thách thức này đòi hỏi phải nghiên cứu và có giải

pháp phát triển mơ hình nơng - lâm hay lâm - nông kết hợp để đảm bảo mục tiêu lấy

ngắn nuôi dài.

b. Kiến thức bản địa của dân tộc Mông trong sản xuất nông, lâm nghiệp

* Trong canh tác ruộng bậc thang

Lịch sử hình thành ruộng bậc thang ở tỉnh Yên Bái gắn liền với lịch sử cư trú

của tộc người Mông khoảng 300 năm. Người Mông là tác giả của những thửa ruộng

bậc thang, chủ nhân cư trú đầu tiên tại vùng đất này. Ruộng là một phương thức

canh tác nông nghiệp kết hợp nhuần nhuyễn giữa canh tác nương rẫy và ruộng

nước. Hiện nay, ruộng bậc thang tập trung nhiều nhất là ở các xã La Pán Tẩn, Chế

Cu Nha, Dế Xu Phình của huyện Mù Căng Chải và các xã,… của huyện Trạm Tấu.

Quá trình khai khẩn ruộng bậc thang của đồng bào Mông ở vùng cao rất công

phu và tốn nhiều công sức. Đầu tiên là chọn đất. Theo kinh nghiệm của đồng bào, đó là

nơi có nguồn nước với độ dốc vừa phải, có khả năng tạo mặt bằng và đất tốt, ít sỏi đá.

Khi đã chọn được mảnh đất ưng ý, đồng bào có thể chặt ngọn một số cây gỗ lớn hoặc

chồng các cột đá cao khoảng 1m trên mảnh đất đó để làm dấu hiệu xác lập quyền khai

khẩn. Việc khai khẩn sẽ được tiến hành khi đã huy động được lực lượng và điều kiện

thời tiết thuận lợi. Để có thể tháo nước vào sử dụng ngay trong tháng 4, 5 cho kịp thời

vụ thì việc này thường được tiến hành vào mùa xuân (khoảng tháng 1, 2, 3).

Để làm ruộng, việc đầu tiên phải phát loại cây nhỏ và cỏ, làm sạch mặt đất,

tiếp theo là đánh các gốc to rồi tiến hành đào và san. Tạo mặt bằng cho ruộng là

việc khó khăn nhất. Vì việc giữ nước và chia đều nước cho toàn ruộng là do mặt

bằng quy định. Việc đào và san ruộng là khâu kỹ thuật đòi hỏi các kỹ năng trong

việc khai khẩn ruộng bậc thang. Phải đủ 2 tiêu chí cơ bản để ruộng đạt tiêu chuẩn là

mặt bằng ruộng và nguồn nước ngâm chân cho lúa. Để đảm bảo cho việc canh tác

132



133

lúa nước trên sườn đồi và chân các quả đồi người Mông nơi đây đã làm được điều

này trong điều kiện hết sức khó khăn.

* Trong chăn ni

Đối với cộng đồng các dân tộc sống ở vùng cao như người Mông thì trong

chăn ni họ hầu như khơng ni giống vật nuôi lai tạo mà chủ yếu là giống bản

địa, họ chăn ni trâu Ngùng, bò Giàng Ngùng, lợn cắp nách và gia cầm như gà

cẩm, gà tre... Chăn nuôi được phát triển một mặt nhằm sử dụng sức kéo trong hoạt

động nơng nghiệp, chủ yếu chăn ni theo hình thức chăn thả tự nhiên, gia súc và

gia cầm được thả rông cả ngày trên đồi, trên nương hay những bãi cỏ gần nhà, chiều

xuống họ mới dồn vật nuôi về chuồng.

Đàn Ngựa, Do là sống ở khu vực núi cao, địa hình hiểm, việc đi lại của người

dân ở đây rất khó khăn và do chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Để

thuận tiện người Mông đã nuôi ngựa làm phương tiện đi lại cũng như vận chuyển

hàng hóa. Ngựa được bà con ni thả rơng như trâu và bò. Tuy nhiên, vài năm trở

lại đây hạ tầng giao thông vận tải được đầu tư phát triển, đường xá mở rộng, đời

sống của đồng bào được cải thiện vì vậy số lượng đàn ngựa đã bị giảm đi nhanh

chóng. Tổng đàn ngựa năm 2005 là 6.132,0 con thì đến năm 2016 đã giảm mạnh

xuống còn 3.129 con (giảm 2 lần).

* Trong phát triển rừng và bảo vệ rừng

Do cuộc sống gắn liền với rừng, người Mơng có một kho tàng kinh nghiệm trong

việc khai thác gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ cũng như các hoạt động bảo vệ rừng.

- Khai thác gỗ: Người Mông biết sử dụng các lồi gỗ tốt như Pơmu, lim, dẻ,

kháo, mít, táu để làm nhà vì từ xa xưa cuộc sống của họ đã gắn liền với rừng; để có

than cho lửa tốt đốt lò rèn họ biết biết khai thác cây nghiến, vì than nghiến cho năng

lượng cao; để làm nhà cổ (trước kia) họ biết sử dụng gỗ một lồi cây theo tiếng

Mơng là “Sơ”. Loại gỗ này có đặc điểm là dễ thi cơng và có thể dùng làm cột nhà

hàng trăm năm không bị mối mọt. Tuy nhiên, số lượng các loài cây này trong rừng

hiện nay còn rất ít. Theo người dân thì ngun nhân là do hậu quả của việc khai thác

gỗ làm nhà không bền vững và một nguyên nhân nữa là do loài cây này rất khó tái

sinh trong tự nhiên.

- Bảo vệ và phát triển rừng

Do đặc điểm địa hình mà các bản người Mơng chỉ có khoảng hơn 30 hộ, trong đó

chia thành nhiều cụm, mỗi cụm nằm rải rác ven bìa rừng. Những nơi địa thế rộng và

tương đối bằng phẳng thì các hộ gia đình quần tụ gần nhau hơn. Các nguồn lợi tự nhiên

trong khu vực quản lý là nguồn lợi chung của cả bản làng. Các thành viên trong bản

133



134

đều có ý thức cộng đồng cao và thực hiện theo tiếng nói chung của trưởng bản. Trong



cộng đồng dân tộc Mơng đang có những thay đổi đáng kể. Nếu như trước đây,

người được dân làng bầu làm trưởng bản phải là một trong những người già

nhất và sống lâu năm trong bản, thì hiện nay trưởng bản đã được “trẻ hố”

nhưng phải có trình độ hiểu biết nhất định ở trong bản. Chủ trương bảo vệ và

nâng cao độ che phủ rừng đã được các trưởng bản qn triệt đến các hộ gia

đình. Chính vì thế, trong những năm gần đây hiện tượng đốt rừng làm nương

rẫy khơng còn phổ biến như trước đây, thay vào đó là việc giao đất, giao rừng

cho một số hộ gia đình người Mơng (trừ một hộ chuyển cư đến sau hoặc cư

trú ở những địa bàn quá cao và sâu).

3.3. Đánh giá chung về việc sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất

nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc

3.3.1. Hạn chế và cách khắc phục của cộng đồng các dân tộc trong việc sử dụng

tài nguyên đất và rừng

Phần lớn cộng đồng các dân tộc ở Yên Bái đã có ý thức về việc sử dụng và

bảo vệ tài nguyên đất và rừng. Tuy nhiên, nhận thức về vấn đề này đối với một số

dân tộc thiểu số sống ở các vùng cao như người Mông, Dao còn thấp. Người cao

tuổi có nhắc nhở con cháu trong gia đình khơng chặt cây ở đầu nguồn nước, nhưng

đơi khi quy định này được thực hiện chưa nghiêm dẫn đến rừng vẫn bị tàn phá, đặc

biệt là sự suy giảm của diện tích rừng phòng hộ. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp

đến hoạt động sản xuất và đời sống của người dân. Vì vậy, cần phải có những biện

pháp rắn hơn nữa trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn.

Hiện tượng đất bị rửa trơi, thối hóa vẫn diễn ra mạnh do rừng bị tàn phá và

do trong quá trình khai thác sử dụng, người dân vẫn chưa có ý thức cao trong việc

cải tạo để nâng cao độ phì cho đất, đặc biệt là khu vực vùng giữa và vùng cao. Do

đó cần có nhiều hơn nữa những buổi phổ biến kiến thức nông nghiệp của cán bộ

khuyến cho bàn con để bà con nâng cao nhận thức trong các hoạt động sản xuất.

Việc canh tác nương rẫy, đồng bào đã có nhiều kinh nghiệm trồng trọt, hồn

thiện một số công cụ sản xuất, nhưng canh tác nương rẫy vẫn phụ thuộc vào thiên

nhiên. Tình trạng hạn hán, mưa lũ, sâu bệnh, thú rừng phá hoại, mất mùa, thất thu

luôn luôn đe dọa đời sống của người dân vùng cao. Canh tác nương rẫy có năng

suất thấp, cuộc sống nay đây mai đó khơng ổn định nên rất cơ cực. Khơng những

thế, việc du canh du cư còn để lại một hậu quả khó lường: hàng năm có hàng chục

134



135

vạn ha rừng vẫn bị phá và gây ảnh hưởng rất lớn tới môi trường sinh thái... Đây là

một tập quán sản xuất lạc hậu cần phải được xóa bỏ dứt điểm trong tương lai.

Bên cạnh đó cơng tác bảo vệ rừng và Phòng cháy chữa cháy rừng vẫn còn

những điểm nóng, tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, lấn chiếm đất

rừng để canh tác, trồng cây lâm nghiệp nhất là đối với rừng tự nhiên vẫn còn xảy ra

và diễn biến phức tạp; cơng tác phòng cháy, chữa cháy rừng còn nhiều bất cập, diện

tích rừng bị thiệt hại do cháy rừng còn cao.

Quy hoạch, bảo vệ, phát triển rừng còn thiếu đồng bộ với quy hoạch sử dụng

đất và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; ranh giới ba loại rừng, ranh giới quản lý

rừng của các chủ rừng vẫn chưa được điều chỉnh trên bản đồ và ngồi thực địa.

Đóng góp của ngành nông, lâm nghiệp đối với phát triển kinh tế của tỉnh chưa

tương xứng với tiềm năng. Các huyện vùng cao đất vùng manh mún và phân tán,

khó áp dụng các biện pháp kĩ thuật tiên tiến, cơ giới hóa, tạo lập quy mơ sản xuất

hàng hóa lớn dẫn tới bị hạn chế trong sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống

cho cộng đồng các dân tộc sống ở các vùng cao.

Năng suất, chất lượng rừng thấp, đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục

bị suy giảm; giá trị thu nhập trên 1 ha rừng sản xuất, bình quân chỉ đạt khoảng 6-7

triệu đồng/ha/năm; hầu hết diện tích rừng do hộ gia đình quản lý dưới 3,0 ha/hộ;

thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 20-25% trong tổng thu nhập, đời sống còn nhiều

khó khăn; việc xã hội hóa cơng tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn

nhiều hạn chế.

Chất lượng nhiều loại sản phẩm nơng, lâm nghiệp còn chưa cao và khả năng

cạnh tranh thấp do quy mô sản xuất nhỏ, chưa được tổ chức trong liên kết theo chuỗi,

kết cấu hạ tầng phục vụ chế biến như kho tàng, bến bãi, công nghiệp phụ trợ… còn

kém phát triển, chưa phát triển mạnh thị trường nội tỉnh. Giá trị gia tăng của nông lâm

sản còn rất thấp do thiếu gắn kết giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu.

Công tác đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất còn chậm; phần

lớn các cơng ty nơng, lâm nghiệp vẫn đang trong giai đoạn cổ phần hóa, chưa được

tự chủ kinh doanh, khơng có nguồn tài chính ổn định; chưa phân định rõ sản xuất

kinh doanh với việc thực hiện nhiệm vụ cơng ích.

3.3.2. Sự thích ứng của cộng đồng các dân tộc trong môi trường miền núi vùng cao

Trong quá trình phát triển, để đảm bảo sinh tồn ở vùng núi cao thì cộng đồng

các dân tộc ở Yên Bái đã có sự thích ứng nhất định với mơi trường. Đặc biệt là các

dân tộc sống ở các vùng giữa và vùng cao như người Mơng, Dao, Thái… Vì sinh kế

chính là nơng, lâm nghiệp nên nhu cầu sử dụng tài nguyên đất, rừng trong sản xuất

135



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

giai đoạn 2005 - 2016

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×