Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
giai đoạn 2010-2016 (Đơn vị: Triệu đồng)

giai đoạn 2010-2016 (Đơn vị: Triệu đồng)

Tải bản đầy đủ - 0trang

114



Bảng 3.11. Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính và thuỷ sản ở vùng giữa

Cây trồng/

NTTS

Cây hàng năm



2005

DT



NS



2010

SL



NS



DT



(ha) (tạ/ha) (tấn)



(tạ/ha



(ha)



2015

SL



DT



(tấn)



NS



(ha) (tạ/ha)



So sánh



2016

SL



DT



(tấn)



(ha)



NS

(tạ/ha



SL2016/2005

SL



+,-



(tấn)



(tấn)



(%)



8.303,0



46,6 38.691, 8.481,



)

)

49,0 41.476, 8.226,0 53,28 43.829,0 8.274, 53,31 44.109,0



3.783,0



9

0

53,8 20.352, 3.914,



0

0

56,2 21.982, 4.068,0 58,65 23.862,0 4.102, 58,67 24.067,0



3.714,5 118,3



4.020,0



5

2

0

0

44,4 17.848, 4.179, 42,68 19.494, 4.158,0 48,02 19.967,0 4.172, 48,04 20.042,0



2.193,2 112,3



Lúa nương

Ngô cả năm



500,0

3.200,0



8

5

0

0

10,0 500,0

22,8 7.296,0 4.671, 29,37 13.720, 6.067,0 32,98 20.009,0 6.108, 33,39 20.392,0 13.096,0 279,5



Sắn cả năm



0

0

0

1.797,0 105,5 18.958, 1.457, 142,40 20.749, 1.564,0 163,55 25.579,0 1.500, 168,50 25.275,0



Lúa cả năm

Lúa xuân

Lúa mùa



Khoai lang

Cây lâu năm



5.417,1 114,0



6.316,6 135,7



4

0

0

0

563,0 48,5 2.730,6 663,0 50,06 3.319,0 790,0 51,58 4.075,0 802,0 52,49 4.210,0 1.479,4 154,2

(ha) (tạ/ha) (tấn) (ha) (tạ/ha (tấn)

(ha) (tạ/ha) (tấn)

(ha) (tạ/ha (tấn)

+, - (tấn) (%)

)

95,0 40.688, 4.950,0



2.845,3



66,7 18.978, 4.281,



Cây ăn quả



3.121,6



2

0

0

0

83,2 25.971, 2.433, 100,0 24.330, 2.394,0 109,0 31.980,0 2.669, 110,0 29.359,0

7



0



0



91,0 45.039,0 4.665,



)

96,6 45.057,0 26.078,8 237,4



Chè



0



3.387,3 `130,0



115



Cây LN (8



1.500,0



80,0 12.000, 6.904,



95,0 65.588, 9.174,0 120,1 110.179, 9.163, 120,0 109.956, 97.956,0 916,3



0

0

0

năm)

Nuôi trồng TS (ha) (tạ/ha) (tấn) (ha) (tạ/ha (tấn) (ha) (tạ/ha)

Thuỷ sản



7

(tấn)



0

(ha) (tạ/ha



0

(tấn)



+, - (tấn) (%)



)

)

397,318,5

735,0 405,0 16,2 670,0 219,0 37,4

819,0

228,0 35,9

819,0

84,0111,4

Nguồn:Niên giám thống kê huyện Văn Chấn năm 2010,2015,2016 và tính tốn của tác giả từ số liệu điều tra



116

Tại khu vực vùng giữa, xét về cơ cấu diện tích cây trồng, diện tích lúa năm 2005

là lớn nhất, tiếp theo là đến diện tích ngơ và cây ăn quả. Tuy nhiên, cơ cấu diện tích cây

trồng đã có sự thay đổi sau 10 năm (bảng 3.11). Năm 2016, diện tích cây lâm nghiệp là

lớn nhất, sau đó đến lúa, đến ngơ rồi chè. Trong khoảng thời gian 10 năm qua, cây lâm

nghiệp là cây trồng có sự phát triển mạnh nhất, sau đó đến ngô, chè và nuôi trồng thủy

sản. Thực tế này khẳng định hoạt động sử dụng đất nông nghiệp theo các loại hình canh

tác ở vùng giữa đã được đầu tư theo hướng thâm canh.

Về sản lượng của hầu hết các cây trồng chính đều tăng, tăng mạnh nhất là sản lượng

cây lâm nghiệp, cây ngô, cây chè rồi đến cây lúa. Điều này thể hiện thế mạnh vượt trội của

cây lâm nghiệp, cây ngô và cây chè ở vùng này so với vùng thấp và vùng cao (Hình 3.8).

Đây là khu vực có diện tích và năng suất chè lớn nhất trong 3 vùng ở Yên Bái, vì

vậy sản lượng chè ở đây cũng cao nhất và liên tục tăng mạnh trong những năm gần đây.

Sau cây chè là ngô và lúa. Sản lượng ngô năm 2016 tăng 2,37 lần so với năm 2005. Sản

lượng lúa năm 2016 tăng 1,14 lần so với năm 2005. Sản lượng lúa nương giảm mạnh do

diện tích đã bị thu hẹp để chuyển sang đất trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả và chuyển

sang hình thức canh tác ruộng bậc thang ở những nơi thuận lợi về nguồn nước.

Như vậy, có cùng cơ cấu cây trồng như nhau, nhưng năng suất ở vùng giữa khác

với năng suất ở vùng thấp. Sự khác biệt này thể hiện rõ nhất là ở loại hình cây lâm

nghiệp trong giai đoạn 2005 - 2016. Năng suất cây lâm nghiệp cùng độ tuổi 8 năm ở

khu vực vùng giữa cao gấp khoảng 1,35 lần năng suất cây lâm nghiệp cùng loại ở khu

vực vùng thấp. Nhưng, về loại hình ni trồng thủy sản thì ngược lại, năng suất nuôi

trồng thủy sản ở khu vực vùng thấp lại cao hơn ở khu vực vùng giữa từ 1,3 đến 1,6 lần.

Điều này phần nào đã bộc lộ dần những lợi thế của từng vùng.

Bảng 3.12. Hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất nơng nghiệp ở

vùng giữa (Tính cho 1 ha năm 2016)

TT



Chỉ tiêu



GO

IC

VA

MI GTNC GO/IC VA/IC MI/IC

(tr. đ) (tr. đ) (tr. đ) (tr. đ) (ng. đ) (lần) (lần) (lần)



Chuyên trồng lúa

52,6 9,71

1 (Lúa xuân -Lúa mùa)

Chuyên trồng màu

2 (Ngô hè thu-Ngô thu

85,0 6,90

đông)

3 Chuyên trồng Sắn

20,0 6,00

Chuyên trồng màu

30,7 7,00

4 (Khoai lang)

Chuyên trồng màu

38,20 18,40

5 (Khoai tây Atlantic)

6 Trồng cây lâu năm (Chè) 167,00 11,10

7 Trồng cây ăn quả

22,30 5,60

8 Nuôi trồng thuỷ sản

23,13 4,70



41,29



32,30 106,46



5,15



4,15



3,33



10,9 10,00



78,1



75,5



88,76



12,3



14,0



12,0



76,70



3,3



2,3



2,0



22,3



20,0



86,00



4,3



3,2



2,8



19,80



18,00



60,00



2,10



1,10



0,97



155,9

44,40

23,75



152,5 215,00

39,96 240,00

18,45 100,00



15,0 14,00

3,98 7,93

4,92 5,05



13,7

7,14

3,93



Nguồn: Tính tốn từ số liệu điều tra của NCS



117

Trong các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của khu vực vùng giữa, xét về tất

cả các mặt như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp, giá trị ngày công,

hiệu quả sử dụng vốn cũng như một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cho thấy (bảng

3.12): Mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất là loại hình trồng chè, thể hiện ở tất cả các

chỉ tiêu như GO, VA, MI, GTNC, HSSDV, GO/IC và VA/IC đều cao. Điều này cho

thấy cây chè vẫn khẳng định được thế mạnh ở vùng này so với vùng thấp và vùng

cao; tiếp theo là cây ngô đứng thứ hai, do đây là loại cây rất thích hợp với đặc điểm

tự nhiên của vùng giữa và là điều kiện quan trọng để phát triển chăn nuôi vùng nên

được người dân chú ý phát triển; Cây lúa có hiệu quả kinh tế cao thứ ba; Khoai tây

Atlantic chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao mặc dù có năng suất, chất lượng tốt do

đang trong giai đoạn trồng thử nghiệm, chi phí đầu tư cao. Những loại hình sử dụng

đất mất ít cơng lao động thường có giá trị ngày cơng cao hơn. Nếu xét hiệu suất sử

dụng đồng vốn thì loại hình trồng chè, trồng ngơ, cây ăn quả có hiệu quả cao, còn

loại hình trồng khoai sắn có hiệu suất thấp hơn. Cây khoai tây Atlantic tại thời điểm

điều tra nghiên cứu có hiệu quả kinh tế thấp nhất, nhưng trong tương lai để đáp ứng

nhu cầu thị trường vẫn nên phát triển loại cây trồng này theo hướng tăng năng suất,

tăng sản lượng và giảm dần chi phí đầu tư.

b. Kiến thức bản địa của dân tộc Dao trong sản xuất nông, lâm nghiệp

* Trong canh tác nương rẫy

Trong canh tác nương rẫy của người Dao ở Yên Bái thì việc chọn đất có ý

nghĩa quyết định đến hiệu quả của mùa vụ sản xuất. Để phân biệt được các loại đất

tốt hay xấu, người Dao dựa và màu sắc của đất, thực vật sống trên đất và độ ẩm.

Theo kết quả khảo sát tại 2 xã của huyện Văn Yên về tri thức bản địa trong việc

chọn đất canh tác nương rẫy thì đều thấy bà con chọn những nơi đất khơng q dốc

đứng, đất có màu đen, có rừng dậm, cây to và cỏ mọc nhiều, tuy nhiên tránh đất ở

những nơi có nhiều sỏi đá, đất quá cứng hay ở những nơi có cỏ chó đẻ và cỏ gianh

mọc vì theo bà con đây sẽ là những nơi đất xấu.

Người Dao ở Yên Bái bắt đầu phát nương vào tháng 2 dương lịch (theo lịch

của người Dao là tháng 7), nương được bà con ủ trong khoảng 1 - 1,5 tháng để cho

cây, cỏ khô. Sang tháng 3 dương lịch (tháng 8 lịch Dao) bà con đốt và dọn nương.

Trong q trình đốt nương, để tránh khơng cho cháy lan sang các vùng lân cận thì

người Dao đã tạo ra khoảng trống ở khu vực xung quanh nương. Tro đốt được bà

con dùng làm phân tãi đều khắp nương nhằm tăng độ phì cho đất. Sang cuối tháng 4



118

dương lịch (cuối tháng 9 lịch Dao) người Dao bắt đầu gieo hạt. Cây trồng chủ yếu

của người thái là lúa, ngô, đậu, và các loại rau... Phương thức canh tác của người

Dao là trọc lỗ, tra hạt. Theo bà con, ngày xưa thường là đàn ông đi trước trọc lỗ,

phụ nữ đi sau tra hạt, nhưng ngày nay tùy thuộc vào nguồn lao động của gia đình

mà người trọc lỗ và tra hạt có thể đều là đàn ông hoặc đều là phụ nữ. Về kỹ thuật

trọc lỗ cứ khoảng 30 lỗ/m², các lỗ được trọc theo hàng ngang (theo khoa học gọi là

đường đồng mức), mỗi lỗ tra từ 5 - 7 hạt. Như vậy cỏ sẽ mọc theo băng, có vai trò

cản nước, chống xói mòn khi mưa xuống. Khi cây mọc cao được khoảng 25 - 30 cm

các gia đình bắt đầu làm cỏ và bón phân. Trong một vụ làm cỏ 2 đến 3 lần. Người

Thái chọn ngày trời nắng to để đi làm cỏ, theo bà con lúc trời nắng cỏ sẽ bị tiêu diệt

triệt để. Trước đây, người Dao ở Yên Bái khơng sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu

trong canh tác nương rẫy, nhưng ngày nay bà con đã sử dụng để nhằm tăng năng

suất cây trồng.

Trong quá trình canh tác, để tránh lãng phí đất và để tăng thêm hiệu quả canh

tác, người Dao đã tiến hành các biện pháp xen canh gối vụ theo hướng lúa, ngô, rau,

sắn. Qua khảo sát, nghiên cứu tác giả nhận thấy rằng hệ canh tác nương rẫy của

đồng bào dân tộc Dao sống ở khu vực vùng giữa của tỉnh Yên Bái đã để lại nhiều

kinh nghiệm quý báu trong khai thác, sử dụng, bảo vệ và quản lí tài nguyên đất. ví

dụ: Đất có màu đen, vàng sẫm, đất ẩm, mùn dầy à đất loại 1 à trồng lúa nếp, ngô

nếp; Đất màu nâu xám đến vàng sẫm à đất loại 2 à trồng lúa tẻ, ngô tẻ; Đất màu nâu

nhạt à đất loại 3 à trồng lúa tẻ, ngô tẻ; Đất màu màu nâu vàng, đất khơ chắc, có sỏi

sạn à đất loại 4 à trồng ngô tẻ.

Theo phân loại của người Dao, nương rẫy chia thành: Căn cứ vào cây trồng:

nương ngô, nương sắn, nương chè; Căn cứ vào địa hình: nương bãi bằng, nương hốc

đá; Căn cứ vào môi sinh của khu vực: nương già, nương tái sinh.

* Trong phát triển nông, lâm kết hợp và các cây công nghiệp lâu năm

Từ xa xưa đồng bào Dao đã rất biết khai thác thế mạnh đồi, rừng vào hoạt

động sản xuất nơng - lâm nghiệp. Trên địa hình đất dốc, ở khu vực vùng giữa người

Dao đã trồng các loại cây ăn quả như cam, nhãn, mận, lê, đào... và các công nghiệp

dài ngày như quế, chè, keo, trẩu, mỡ.

+ Cây Quế

Người Dao phát triển rất mạnh nghề trồng quế, đưa n Bái trở thành vùng

quế có diện tích và sản lượng vỏ quế cao nhất nước ta. Theo thống kê hiện nay tồn



119

tỉnh n Bái có trên 30.000 ha diện tích trồng quế, trung bình bán từ 4000 - 5000

tấn vỏ quế/năm. Cây quế được người Dao sống tập trung ở ba huyện Văn Yên, Văn

Chấn và Trấn Yên phát triển mạnh. Trong đó huyện Văn Yên có trên 15.000 ha, chủ

yếu ở các xã có đơng đồng bào Dao sinh sống (có khoảng 80% dân số là người

Dao) như xã Đại Sơn trồng gần 2000 ha quế, xã Kiên Thành có trên 1.500 ha, xã

Viễn Sơn trồng trên 1000 ha, xã Mỏ Vàng có khoảng 64% dân tộc Dao trồng 1.300

ha. Còn tại huyện Văn Chấn hiện có khoảng 4000 ha trồng quế, riêng xã Nậm Lành,

nơi có tới 90% dân số là người Dao có khoảng 700 ha, trong đó ở thơn Giàng Cài có

rừng quế cộng đồng với diện tích gần 90 ha. Đây là thôn duy nhất cho đến nay

không phát triển rừng quế theo hộ gia đình mà hình thành rừng quế cộng đồng do

160 hộ người Dao trong thơn cùng chăm sóc, cùng bảo vệ và cùng khai thác, trong

qui ước của thôn đã quy định cụ thể điều này. Đây là một tập quán sản xuất rất độc

đáo và đặc biệt của người Dao.

Ở những vùng đất này việc trồng cây quế có nhiều lợi thế hơn so với các địa

phương khác nhờ đất rừng có tầng thảm mục và tầng mùn dày, giữ ẩm tốt, đất tơi

xốp. Cây quế vừa có giá trị kinh tế cao giúp đồng bào xóa đói giảm nghèo và vươn

lên làm giàu, vừa góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên, giữ đất, giữ nước ở những

vùng đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng của các nguồn gen quý của cây bản

địa nên ngay từ thủa ban đầu cây quế đã được người Dao trồng thành rừng, đưa vào

hương ước của từng bản, họ coi quế như “kho vàng xanh” để lưu truyền muôn đời

cho con cháu, là của hồi môn chính cho con gái đi lấy chồng chứ khơng phải là đồng

bạc trắng hay những hiện vật khác, là tài sản chia cho con trai khi ra ở riêng. Vì thế

mà có thể nói trên mảnh đất n Bái thì người Dao ở đâu là ở đó có những khu rừng

quế bạt ngàn xanh tươi, thậm chí người Dao còn coi người là quế, quế là người.

Từ bao đời nay người Dao vẫn giữ được tập tục riêng trong việc trồng quế.

Trước kia khi Nhà nước đưa cây quế vào danh mục khơng được mua bán cơng khai

thì người Dao trồng quế theo cách riêng của mình, đó là cứ tối đến họ rắc một vài

chòm hạt ở đồi hoặc bãi đất trống cạnh nhà. Hành động này thường được thực hiện

sau khi một đứa trẻ ra đời. Đây là hành động đánh dấu sự quản lí sử dụng của từng

hộ gia đình với diện tích đó. Ngày nay với chính sách giao đất giao rừng cho nhân

dân, đồng bào Dao tiếp tục phát triển mạnh nghề trồng quế.

+ Cây chè



120

Chè là cây truyền thống được trồng phổ biến trong các làng bản của người Dao.

Cộng đồng dân tộc Dao ở Yên Bái trồng nhiều loại chè khác nhau từ chè bản địa đến

chè nhập nội như chè Shan Tuyết, chè Bát Tiên, chè trung du... trong đó chè bản địa

Shan Tuyết được coi là tài sản quý của người Dao ở Yên Bái. Tại các xã vùng giữa

nơi người Dao sinh sống đều có chè Shan Tuyết như xã Suối Giàng, Suối Quyền, An

Lương, Nậm Lành, Nậm Mười của huyện Văn Chấn. Chè Shan Tuyết mọc tự nhiên

trong rừng. Các cây chè Shan Tuyết cổ thụ chủ yếu tập trung ở Suối Giàng (tồn xã

có 400 ha chè Shan Tuyết), còn tại các xã như Suối Quyền, An Lương, Nậm Lành,

Nậm Mười thì phần lớn các cây chè khoảng 40 - 50 năm tuổi, được gọi là chè cổ thụ.

Những cây chè thường cao từ 1,5m - 2,5m và tạo thành những rừng cây tự nhiên có lá

to và xanh ngắt. Cây chè càng già thì chất trà càng quý.

Người Dao hầu như không sử dụng các loại phân bón, thuốc trừ sâu hay áp

dụng khoa học kĩ thuật trong việc khai thác, chăm sóc và trồng mới chè. Việc thu

hái chè cũng hồn tồn thủ cơng, cây chè Shan Tuyết thường cao to nên trước đây

đồng bào chỉ việc bẻ cành về lấy lá pha nước uống, nhưng ngày nay để bảo vệ cây

chè và phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, đồng bào khơng còn bẻ cành mà chủ yếu

chỉ hái lá và hái búp. Người Dao ở huyện Văn Chấn hiện nay vẫn hái lá chè tươi đi

bán tại các phiên chợ. Đó là những lá chè to, xanh thẫm một màu, thường được bó

thành từng bó to bằng nắm tay, bọc trong một lớp lá rong để giữ cho lá chè tươi lâu.

Trong một năm người Dao thường thu hoạch từ 3 - 4 lứa chè búp.

Cây chè rất hữu dụng trong việc bảo vệ đất, thích hợp với điều kiện địa hình,

khí hậu, đất vùng miền núi, cho năng suất và chất lượng cao nên hiện nay các xã,

bản của người Dao huyện Văn Chấn đang trồng chè theo kiểu “trồng rừng” với mật

độ 2.500 - 3000 cây/ ha.

* Trong chăn nuôi

Trong chăn nuôi, đồng bào dân tộc Dao gần như không nuôi giống vật nuôi lai

tạo mà chủ yếu dùng giống vật ni bản địa. Các vật ni chính của người Dao là

Trâu, bò, lợn (lợn cắp nách) và gia cầm như gà ác (gà cẩm), gà trắng... Chăn nuôi

được phát triển một mặt nhằm sử dụng sức kéo trong hoạt động nông nghiệp, mặt

khác nhằm cung cấp vật tế lễ, thực phẩm cho các buổi sinh hoạt cộng đồng, trong

ma chay, cưới hỏi...

- Về kinh nghiệm chọn giống lợn tốt



121

Đối với người Dao lợn tốt và ngon phải là những con có da xấu, xù xì, lơng dài,

dựng và cứng, mặt nhỏ, mõm dài, cân nặng khoảng 15 - 20kg chứ không được hồng

hào, béo tốt bởi những con da hồng hào, mũm mĩm là những con ít chịu tự đi kiếm

thức ăn trong rừng mà chỉ quanh quẩn gần nhà hoặc được nuôi nhốt, sức đề kháng

kém, khả năng sinh sản cũng kém hơn so với lợn được thả rông nếu là lợn nái, còn nếu

là lợn thịt thì sẽ nhiều mỡ và không chắc thịt.

- Về kinh nghiệm chăm sóc vật ni

Người Dao ở n Bái chăn ni theo hình thức chăn thả tự nhiên, gia súc và

gia cầm được thả rông cả ngày trên đồi, trên nương hay những bãi cỏ gần nhà, chiều

xuống họ mới gọi vật ni về chuồng. Chuồng trại tại gia đình người Dao rất đơn

giản, thường được đồng bào gọi là lán, ít có sự che chắn cẩn thận. Lán được làm

trên nền bằng, có đào rãnh thốt nước, họ sử dụng những cây vầu, cây tre, cây nứa,

các loại gỗ tạp được đóng xuống và buộc lại với nhau mà thành lán, mái được phủ

bằng cỏ tranh, gianh hay lá cọ.

* Trong phát triển rừng và bảo vệ rừng

Địa bàn cư trú của người Dao Yên Bái chủ yếu ở vùng giữa - vùng tiếp giáp

giữa vùng thấp và vùng cao. Đời sống gắn bó mật thiết với rừng, do đó người Dao

biết rất rõ cách khai thác rừng và thế mạnh mà rừng đem lại, họ tự gọi mình là

“Kiềm Miền”, tức là người ở rừng, “ở đâu có rừng thì ở đó có người Dao”. Vì vậy

họ có rất nhiều kinh nghiệm trong phát triển và bảo vệ rừng.

- Khai thác gỗ: Diện tích rừng ở Yên Bái khá lớn, trong rừng có nhiều loại

loại gỗ q như: pơmu, thơng nàng, thông tre lá lớn, sa mộc, sam mộc, nghiến,

đinh, trò chỉ, sồi, dẻ... Người Dao n Bái có câu tục ngữ “Diểu trụ đam pâu diểu

chẩu lình” (vừa làm tiều phu vừa làm ruộng), trong quá trình sinh tồn và phát triển,

ngồi việc làm nơng nghiệp thì hoạt động khai thác lâm sản của người Dao cũng

được coi là một hoạt động kinh tế chính. Theo thời gian, dân tộc Dao đã tích lũy

được nhiều kinh nghiệm trong khai thác tài nguyên gỗ. Người dao khai thác gỗ để

làm nhà, làm đồ dung sinh hoạt, làm củi đốt… Chính từ những đúc kết kinh nghiệm

của người Dao được truyền từ đời này qua đời khác đã hình thành kiến thức của

người dân, đó là thu được nguồn lợi từ rừng, nhưng khơng gây thiệt hai nhiều cho

rừng. Ví dụ khi khai thác, người Dao chỉ chặt những cây gỗ to, lâu năm để cho các

cây con tiếp tục sinh trưởng, đảm bảo sự phát triển lâu dài cho rừng. Tuy nhiên,



122

những cây to nhất trong rừng cũng được đồng bào giữ lại bởi họ quan niệm nơi đấy

chứa đựng linh hồn của các thần thánh hay ma quỷ, cần phải tơn trọng và giữ gìn.

Đối vơi đồng bào Dao thì pơmu, nghiến, trò chỉ, sồi, dẻ là những cây gỗ tốt... những

loại gỗ này rất bền và chịu được mối mọt. Trong q trình chặt cây, tránh khơng

được làm ảnh hưởng đến những cây xung quanh. Công cụ chặt gỗ thường là rìu,

cưa. Riêng đối với gỗ nghiến, một bộ phận người Dao thường làm theo cách cắt một

khoanh vỏ quanh thân cây sau đó tẩm dầu châm lửa đốt. Vì gỗ nghiến có đặc điểm

cháy ngang nên lửa dần dần ăn ngang thân cây, đồng bào chỉ cần chờ cây đổ xuống

mà khơng cần tốn sức, cũng có khi họ buộc sẵn trên thân cây ở nơi cao nhất có thể

một đoạn dây, khi thấy thân cây cháy được một nữa, đồng bào sẽ dùng sức kéo dây

xuống theo hướng mình muốn để tránh làm ảnh hưởng lớn đến các cây xung quanh.

- Hoạt động bảo vệ tài nguyên rừng: Do cuộc sống gắn với rừng nên người

Dao đã sớm có ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên này, nhờ đó mà dân tộc Dao là một

trong số ít các tộc người từ xưa đã thể hiện rõ nhất sự thân thiện giữa con người với

môi trường thiên nhiên bằng việc bảo vệ rừng. Ví dụ trong tín ngưỡng của người

Dao, thần rừng được tơn thờ, sùng kính như đối với ông bà, tổ tiên, đặc biệt là cam

kết thực hiện các luật tục đối với các khu rừng thiêng, rừng già đầu nguồn như

không trộm cắp của rừng, không phá rừng, không mua bán lâm sản trái phép, nhờ

đó mà phong trào giữ rừng ở nơi đồng bào Dao sinh sống phát triển mạnh mẽ. Họ

không chỉ bảo vệ mà còn phát triển vốn rừng rất tốt.

Trong việc khai thác tài nguyên từ rừng, người Dao luôn thể hiện được phần

nào ý thức tự giác bảo vệ rừng. Đó là việc đốt nương làm rẫy chỉ làm từ dưới chân

núi đến lưng chừng núi mà không lên đến đỉnh núi, tạo vành vùng an toàn ngăn lửa

trước khi đốt nương, hình thành các cánh rừng quế, rừng chè có tuổi đời trên nửa

thế kỷ, thực hiện mơ hình nơng, lâm kết hợp. Hay khai thác gỗ thì chỉ vào mùa thu

đông, tránh mùa sinh trưởng và phát triển của cây, khi hạ cây phải đúng hướng, hạn

chế làm dập nát cây nhỏ, làm đổ, gẫy nhiều cây xung quanh.

Khi săn bắn, luật tục người Dao quy định không bắn giết những con thú đang

mang thai bởi đồng bào quan niệm nếu bắn giết chúng thì những con vật mà gia

đình mình ni sẽ khơng sinh sản được... Hơn ai hết, đồng bào Dao Yên Bái hiểu rất

rõ rằng việc bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống, bảo vệ tương lai cho cộng đồng.

3.2.2.4. Sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng



123

đồng các dân tộc ở vùng cao

a. Đánh giá chung

Vùng cao ở Yên Bái là những nơi cao nhất, thường có độ cao tuyệt đối trên

600m. Đứng ở vị trí tương đối, đây là nơi sâu nhất, xa nhất và kinh tế khó khăn nhất

của tỉnh và khu vực vùng cao điển hình chính là huyện vùng cao Mù Cang Chải. Ở

đây tập trung chủ yếu là người dân tộc Mông và một phần người Dao. Phương thức

sử dụng đất truyền thống của đồng bào là canh tác ruộng bậc thang và phát triển rừng

kết hợp chăn nuôi đại gia súc. Khoảng 70% sản lượng lương thực có hạt là ngơ và lúa

nước; mỗi hộ thường ni ít nhất 1 con trâu, 1 con bò hoặc 1 con ngựa.

Bảng 3.13. Các loại hình sử dụng đất nơng nghiệp chính ở vùng cao

STT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18



Loại hình sử dụng đất nơng nghiệp

Chun trồng lúa (Lúa mùa ruộng)

Chuyên trồng lúa (Lúa nương)

Chuyên trồng lúa (Lúa đông xuân)

Chuyên trồng màu (Ngô xuân hè)

Chuyên trồng màu (Ngô hè thu - Ngô thu đông)

Chuyên trồng màu (Rau, đậu các loại)

Chuyên trồng màu (Đậu tương xuân)

Chuyên trồng màu (Đậu tương hè)

Chuyên trồng màu (Lạc)

Trồng Lanh

Trồng cây ăn quả hàng năm (Chuối)

Trồng cây lâu năm (Chè)

Trồng cây ăn quả lâu năm (Chanh)

Trồng cây ăn quả lâu năm (Bưởi)

Trồng cây ăn quả lâu năm (Cam)

Trồng cây ăn quả (Mơ mận)

Trồng cây lâm nghiệp

Nuôi trồng thuỷ sản



Mức độ phổ biến

Số hộ lựa chọn

Tỷ lệ (%)

80

100,0

40

50,0

71

88,8

80

100,0

80

100,0

80

100,0

61

76,3

69

86,3

19

23,8

77

96,3

80

100,0

20

25,0

80

100,0

67

83,8

80

100,0

80

100,0

80

100,0

11

14,3



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra của NCS

Ở khu vực vùng cao chỉ có 18 loại hình sử dụng đất nơng nghiệp, ít hơn so với

khu vực vùng thấp và khu vực vùng giữa. Trong vùng này, mức độ áp dụng các loại

hình cũng có sự khác biệt rõ nét. Kết quả tổng hợp được trong bảng 3.12 cho thấy,

nông hộ áp dụng các loại hình trồng cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả có tỉ

lệ cao (khoảng 80% - 100%). Tại vùng cao có tới 90% dân số là người Mơng sinh

sống, canh tác nương rẫy mang tính truyền thống vẫn được áp dụng ở 100% số hộ

được điều tra nghiên cứu, do tập quán canh tác còn lạc hậu dẫn đến năng suất thấp,

đất nương rẫy dễ bị thoái hoá do bị rửa trơi. Vì vậy, tuy các loại hình hình trồng cây

lương thực, thực phẩm có tỉ lệ lựa chọn cao, được áp dụng rộng rãi hơn nhất so ở



124

với 2 vùng kia, nhưng sản lượng lương thực, thực phẩm lại thấp, hàng ngàn hộ dân

vẫn rơi vào diện cứu đói hàng năm. Trong vùng này, kiểu sản xuất hàng hố và

chun canh trong nơng nghiệp chưa hình thành, kiểu sản xuất tự cung tự cấp vẫn

thể hiện khá rõ. Do đó để có cơm ăn thì ở hầu hết các hộ đều phải tự trồng cây

lương thực, để có áo mặc tự trồng lanh và loại hình trồng cây ăn quả cũng được áp

dụng ở tất cả các hộ điều tra trong vùng.

Trồng cây lâm nghiệp là loại hình phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng

nên được áp dụng ở 80/80 hộ. Nếu như ở khu vực vùng thấp và khu vực vùng giữa

trồng chè là loại hình phổ biến được số hộ áp dụng lên đến trên 80% và có hơn 40%

số hộ trồng lạc thì ở vùng cao mới có hơn 20% tỷ lệ hộ áp dụng 2 loại hình này. Chỉ

có 11/80 hộ áp dụng hình thức ni trồng thuỷ sản với tổng diện tích gần 4 ha. Thực

tế này lại một lần nữa cho thấy nuôi trồng thủy sản không phải là loại hình phù hợp

cho vùng cao.

Bảng 3.14. Biến động diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở vùng cao

giai đoạn 2005 - 2016

2005



2010



2015



2016



So sánh

2016/2005



Loại hình sử dụng



DT

DT

cấu

(ha)

(ha)

(%)

ĐẤT NƠNG NGHIỆP

87.040,6 100 89.031,8 92.435,0

1

6

Đất sản xuất nông nghiệp 7.501,13 8,62 10.008,114.019,0

DT

(ha)



Đất trồng cây hàng năm



5.350,69 71,33



- Đất trồng lúa

Đất chuyên trồng lúa nước

Đất trồng lúa nước còn lại

Đất trồng lúa nương

- Đất trồng cây hàng



3.354,8 62,70 3.835,35

505,0 15,1

760,0

1.389,0 41,4 1.866,78

1.460,0 43.5 1.208,57

1.995,89 37,3 5.386,55



năm khác

Đất trồng cây lâu năm

2.150,44 28,67

- Đất trồng chè

1.652,6 76,8

- Đất trồng cây ăn quả

161,0 7,5

- Đất trồng cây lâu 336,84 15,7



9221,9



786,2

426,0

227,9

132,3





+, - +, -%

cấu

(ha)

(%)

(%)

92.425, 100 5.384,39

0

0

14.012, 15,2 6.510,87 6,58

0

13.065, 13.058, 92,14 7.707,31 20,81

0

0

4.513,0 4.508,0 34,5 1.153,2 -28.2

1.350,0 1.470,0 32,6

965,0 21,1

2.936,7 2.832,2 62,8 1.443,2 21,7

226,3 205,8 4,6 -1.254,2 -38,9

8.533,0 8.550,0 65,5 3.366,35 24,03

954,0

316,2

146,4

491,4



TĐPT

20052016,

%



DT

(ha)



106,2

186,8

244,0

134,4

291,0

118,5

14,1

428,4



953,0 7,86 -1197,44 -20,81 44,3

200,0 21,0 -1452,6 -55,8 12,1

92,3 9,7

68,7 -2,2 57,3

660,7 69,3

323,9 53,6 196,1



năm khác



Nguồn: Tổng hợp, tính tốn từ số liệu của Phòng Nơng nghiệp huyện

Mù Cang Chải



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

giai đoạn 2010-2016 (Đơn vị: Triệu đồng)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×