Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ở vùng thấp (Tính cho 1 ha năm 2016)

ở vùng thấp (Tính cho 1 ha năm 2016)

Tải bản đầy đủ - 0trang

104

- Về mùa vụ: Đối với người kinh ở Yên Bái, canh tác lúa nước trên chân ruộng

thấp có 2 vụ chính là vụ xuân và vụ mùa. Để hạn chế được một số tai biến thiên

nhiên (rét đậm, hạn, mưa nhiều khi chưa kịp thu hoạch…) người Kinh ở Yên Bái đã

chia lịch mùa vụ như sau: Vụ Xuân - Gieo mạ từ: 25 tháng 1 đến 10 tháng 2 - Cấy

lúa từ: 10 tháng 2 đến 25 tháng 2; Vụ Mùa - Gieo mạ từ: 10 đến 30 tháng 6 - Cấy

lúa từ: 20 tháng 6 đến 5 tháng 7.

- Làm đất, vệ sinh đồng ruộng: Theo kinh nghiệm của bà con, muốn cây lúa

phát triển được tốt thì đất phải được cày, bừa kỹ, san phẳng, làm nhuyễn, dọn sạch

cỏ dại. Cần có rãnh thốt nước theo độ nghiêng của ruộng.

- Kỹ thuật chọn giống: Chọn giống, bà con thường mua giống từ các cơ sở

khuyến nông. Theo kinh nghiệm cứ 1,5 - 2 kg giống/sào ruộng. Trước khi gieo hạt

giống nên phơi hạt giống 3 - 4 giờ để tăng khẳ năng hút nước của hạt khi ngâm và

loại các tạp chất trong hạt giống như cỏ, hạt lép lửng.

- Kỹ thuật ngâm ủ hạt giống: Ngâm hạt giống. Xử lý bằng nước nóng 540C và

ngâm khoảng 24 giờ vớt thóc đãi cho hết nước chua. Ngâm tiếp trong nước sạnh 18

giờ để hạt giống hút no nước. Thời gian ủ từ 24 - 26 giờ đến khi hạt nứt nanh thì

đem gieo ngay.

- Kỹ thuật cấy lúa: Cấy lúa khi mạ đạt 2 - 3 lá (10 - 15 ngày tuổi). Mật độ khoảng

cách: 20 x 12 x 3 dảnh/khóm. Phương pháp cấy: nơng tay, thẳng hàng.

- Chăm sóc: Làm cỏ lần 1 sau khi bón phân thúc đẻ; lần 2 sau khi bón phân

thúc đòng. Điều tiết nước từ khi cấy đến 30 ngày để nước sâu 1 - 2 cm để kích thích

quá trình đẻ nhánh.; từ 30-35 ngày sau cấy để khơ ruộng ruộng để hạn chế chồi vô

hiệu đồng thời hạn chế chất độc trong đất; 40 ngày đến chín cần đảm bảo đủ nước.

Tháo hết nước khỏi ruộng trước khi gặt 10 ngày.

- Phòng trừ sâu, bệnh hạ: Theo bà con nên tiến hành thăm ruộng định kỳ 7

ngày 1 lần/ và phải phun thuốc cho ruộng khi xuất hiện sâu bệnh hại.

Đối với bệnh hại: Bệnh đạo ôn, khi thấy có một vài vết bệnh xuất hiện, sử

dụng thuốc hóa học như: Beam 20WP; Trizole 20WP; Fuji-one 40EC; Bump

650WP; FILIA-525EC; Kabim 30EC... để phun; Bệnh khô vằn: Sử dụng các loại

thuốc như Anvil, Tilt super, Amistar Top…; Bệnh Bạc lá: Bệnh Bạc lá do vi khuẩn

gây ra. Bệnh lây lan qua con đường hạt giống. Để phòng trị bệnh chủ yếu sử dụng

giống kháng kết hợp với xử lý hạt giống.

- Kinh nghiệm thu hoạch: Thu hoạch vào lúc sau trỗ 28-33 ngày hoặc khi thấy

85-90% số hạt trên bơng đã chín vàng. Nếu cắt sớm hay trễ đều làm tăng tỷ lệ hao



105

hụt. Sau khi cắt tiến hành suốt ngay, không nên phơi mớ trên ruộng. Sử dụng máy

đập lúa trục dọc (tuốt lúa, máy nhai) để suốt lúa.

- Sơ chế và bảo quản: Phơi thóc trên sân gạch, xi măng hoặc sân đất. Nên sử

dụng lưới nilon lót dưới trong q trình phơi, phơi từ 2-3 ngày là được. Sau khi làm

khô, rê sạch và sử dụng bao để đựng. Bảo quản lúa ở những nơi khô ráo và thoáng.

Nếu bảo quản trong thời gian dưới 3 tháng, độ ẩm thóc đạt 13-14%. Nếu thời gian

bảo quản trên 3 tháng, độ ẩm phải dưới 13%.

* Trong phát triển hệ sinh thái cây hàng năm

- Cây ngô

Ngô tẻ và ngơ nếp lai là hai ngơ chính của người Kinh. Để ngô cho vụ mùa

bội thu, chất lượng tốt, người Kinh rất chú trọng đến khâu chọn giống. Ngô được

chọn là những bắp phải to, dài, hạt mẩy đều và không bị sâu bệnh. Số ngô được

chọn làm giống sẽ được bẻ bắp, để cả lớp vỏ ngoài đem phơi dưới nắng khoảng 2 3 ngày cho khô sau đó buộc 5 - 6 bắp vào nhau rồi treo lên gác bếp để tránh mọt và

ẩm mốc. Khi gieo trồng mới đem bóc vỏ, dùng tay tách lấy hạt, ngâm nước lã trước

một đêm cho hạt ngô no nước mới vớt ra. Cách thức gieo trồng ở những chân ruộng

dộc bà con làm luống rồi chọc lỗ tra hạt. Còn ở các sườn thoải dễ thối nước khơng

cần làm luống mà chọc lỗ tra hạt trực tiếp.

Ngô được gieo sớm hơn so với lúa, vào khoảng tháng 2, tháng 3 âm lịch hàng

năm và thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 7 âm lịch, tùy thuộc từng giống ngô. Trong

quá trình tra hạt bà con thường thả vào mỗi lỗ đã chọc sẵn vài ba hạt giống, để

phòng trường hợp có hạt giống khơng thể nảy mầm, mỗi lỗ thường cách nhau 60cm

- 80cm nếu là đất tốt, đất xấu hơn thì khoảng cách thu hẹp hơn. Khi ngơ mọc khỏi

mặt đất khoảng một tuần, người Kinh thường ra ruộng kiểm tra, chỗ nào cây khơng

mọc thì phải trồng thêm, còn chỗ nào các hạt giống nảy mầm tốt họ thường tỉa bớt

để đảm bảo cho cây sinh trưởng, phát triển tốt. Giống ngơ càng cao thì khoảng cách

giữa các lỗ khi gieo trồng càng lớn và ngược lại.

- Cây khoai

Ở Yên Bái, Khoai lang là cây dễ trồng, có thể trồng được tất cả các vụ trong

năm. Người Kinh ở Yên Bái thường trồng giống khoai Hoàng Long. Theo kinh

nghiệm của bà con, loại khoai này thích hợp trồng ở những nơi có đất cát pha như

khu vực ven sông Hồng, sông Chảy của huyện trấn Yên, huyện Yên Bình.



106

Theo bà con, đất trồng khoai phải được làm kỹ, tạo độ tơi xốp và làm sạch cỏ,

làm luống theo chiều dốc của ruộng để tránh đọng nước, luống rộng khoảng 1,2 1,5m (kể cả rãnh), cao từ 30 - 40cm thì thân cây và củ mới dễ phát triển.

Về kinh nghiệm trồng, sau khi lên luống xong, rạch một hàng trên đỉnh luống

sâu 10 - 15cm, bón lót một lớp phân, phủ qua một lớp đất mỏng sau đó đặt dây

khoai. Như vậy sẽ tránh được tình trạng dây khooai bị chết sót do bón phân lót. Cứ

1 mét chiều dài luống thì đặt 5 đến 6 dây khoai.

Sau khi trồng khoảng 20 - 25 ngày, làm sạch cỏ, xới xáo đất bón thúc lần 1,

sau 40 - 45 ngày làm sạch cỏ, xới xáo đất và bón thúc lần 2.

Khi dây dài 35 - 40 cm tiến hành bấm ngọn, chừa lại 4 - 5 mắt để hạn chế thân

chính vươn dài, kích thích phân nhánh sớm. Vun và xới cao luống, phủ kín gốc để

tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển củ và phòng tránh bỏ hà đẻ trứng.

Theo bà con, khi khoai lang có biểu hiện ngừng sinh trưởng như lá gốc ngả

màu vàng, vỏ củ nhẵn, ít nhựa thì tiến hành thu hoạch. Thu hoạch vào những ngày

khô ráo, không làm tổn thương, xây xát vỏ để tránh khoai bị thối.

* Trong phát triển hệ sinh thái vườn rừng; cây ăn quả

Khác với một số dân tộc thiểu số sống lâu đời trên cùng địa bàn như Tày,

Nùng thì người Kinh ở n Bái có trình độ phát triển cao hơn, thích ứng nhanh hơn

với nền kinh tế hàng hóa. Thay vì giữ nguyên rừng, họ chặt phá một phần cây rừng

để trồng cây công nghiệp lâu năm hoặc cây ăn quả tại một số nơi có điều kiện đất và

khí hậu thích hợp. Người Kinh áp dụng mơ hình vườn rừng như cây chè được trồng

theo rạch phù hợp với đường bình độ, cây quê, cây hồi xen kẽ cây trẩu, cây sỏ, cây

keo lai, keo tượng... vừa bảo vệ đất, vừa tăng nguồn dinh dưỡng cho đất. Mơ hình

vườn cây ăn quả như cây bưởi, cam, quýt, chanh, hồng, nhãn được trồng ở các sườn

đồi có xen lẫn các cây ăn quả khác như chuối, đu đủ...là mơ hình mang lại giá trị

kinh tế rất cao cho bà con. Trung bình mỗi vườn bưởi của một hộ người Kinh ở xã

Hán Đà, xã Đại Minh huyện Yên Bình, hay vườn cam của các hộ ở huyện Văn Yên,

Trấn Yên, cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Theo lát cắt địa hình từ chân

đồi lên đỉnh đồi, các hộ nông dân người Kinh ở Yên Bái thường bố trí hệ canh tác :

Ruộng lúa → Ao → sườn đồi trồng cây ăn quả hoặc một số cây công nghiệp dài

ngày → đỉnh đồi thường là vạt rừng để lấy củi và làm nguồn sinh thủy.

Cây công nghiệp lâu năm của người Kinh ở Yên Bái là cây chè, cây quế. Cây

ăn quả tiêu biểu là bưởi, cam, hồng. Mơ hình vườn rừng và vườn cây ăn quả đã trở

thành kinh nghiệm bản địa của người Kinh ở Yên Bái. Một số dân tộc sống xen kẽ



107

với người Kinh cũng phát triển mơ hình vườn rừng và vườn cây ăn quả này, đem lại

hiệu quả kinh tế và sinh thái rõ rệt. Trong những năm gần đây, các sản phẩm như

chè, quế, bưởi, cam Yên Bái đã trở thành mặt hàng được ưa chuộng trong cả nước.

* Trong chăn nuôi

So với các dân tộc khác ở Yên Bái, người Kinh có nhiều kinh nghiệm phát

triển chăn ni và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Điển hình là các hộ dân sống ở

huyện Yên Bình, huyện Trấn Yên. Trải qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, họ đã

xây dựng được mơ hình chăn ni đem lại hiệu quả kinh tế cao. Điển hình là mơ

hình chăn ni gà, lợn

Xác định phát triển kinh tế trang trại theo mơ hình khép kín, khơng để lãng phí

diện tích đất vùng, nhiều hộ tiến hành đầu tư xây dựng chuồng trại chăn ni lợn

theo quy mơ hàng hóa. Vừa làm, vừa tham khảo tài liệu, học tập kinh nghiệm nuôi

lợn từ nhiều nơi nhận thấy quy hoạch chuồng nuôi rất quan trọng. Do đó, bà con

đầu tư xây dựng chuồng ni hợp lý với máng ăn, máng uống tiện lợi và quy hoạch

khu vực xử lý chất thải tách biệt. Bên cạnh đó, về chế độ dinh dưỡng cho lợn cũng

được các hộ chăn nuôi nghiên cứu kỹ, chia theo từng giai đoạn và đúng lúc để điều

chỉnh chế độ ăn. Bà con cũng chủ động trong việc tiêm phòng, phòng chống dịch

bệnh cho đàn lợn. Hiện nay đàn lợn của nhiều gia đình người Kinh ln duy trì từ

50 - 60 con lợn thịt thậm trí có những hộ gia đình lên đến 300 - 400 con lợn thịt

hàng năm xuất bán đem lại cho bà con những nguồn thu có giá trị lớn..

Song song với đó, tận dụng diện tích mặt ao, nhiều hộ đầu tư con ngan thịt.

Với nguồn thức ăn chủ yếu là cám ngô và thân cây chuối nên chi phí đầu tư khơng

cao, lại được chăn thả tự do nên chỉ sau từ 4 - 4,5 tháng nuôi ngan đã đạt từ 4,5 - 4,7

kg/con, mang lại giá trị kinh tế lớn cho bà con.

3.2.2.3. Sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng

đồng các dân tộc ở vùng giữa

a. Đánh giá chung

Vùng giữa là vùng có tính chất trung gian giữa vùng cao và vùng thấp, dân tộc

cư trú chủ yếu là Dao,Thái,Sán Chay; hệ canh tác có tính chất pha trộn giữa vùng

cao và vùng thấp trên nền độ cao trung bình từ 300m - 600m. Địa bàn này đồng bào

vừa trồng ruộng nước, vừa canh tác nương rãy trên những sườn dốc có khi tới 45 o.

Do biết thích ứng với điều kiện và mơi trường sống nên đồng bào đã biết đa dạng

hoá phương thức sử dụng đất bằng cách trồng lúa nước ở những nơi đất thấp ven

sông suối, các thung lũng; trồng các cây lương thực chịu hạn trên nương rẫy.



108

Bảng 3.7. Các loại hình sử dụng đất nơng nghiệp chính ở vùng giữa

STT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21



Loại hình sử dụng đất nơng nghiệp

Lúa (Lúa mùa)

Lúa (Lúa nương)

Lúa (Lúa xuân - Lúa mùa)

Lúa và cây trồng cạn (Lúa xuân - Lúa mùa - Đậu đỗ đông)

Lúa và cây trồng cạn (Lúa xuân - lúa mùa - Khoai đông)

Lúa và cây trồng cạn (Lúa xuân - Lúa mùa - Ngô đông)

Lúa và cây trồng cạn (Lúa xuân - Lúa mùa - Rau đông)

Cây hoa trồng màu (Ngô xuân)

Cây hoa màu (Ngô xuân - Ngô mùa)

Cây hoa màu (Ngô xuân - Ngô mùa - Ngô đông)

Cây hoa màu (Rau xuân - Rau mùa)

Cây hoa màu (Rau xuân - Rau mùa - Rau đông)

Cây hoa màu (Khoai lang xuân - Khoai lang mùa)

Cây hoa màu (Đậu đỗ xuân - Đậu đỗ mùa)

Cây hoa màu (Đậu tương xuân)

Cây hoa màu (Đậu tương xuân - Đậu tương mùa)

Hoa màu (Lạc xuân - Lạc mùa)

Hoa màu (Lạc xuân - Vừng mùa)

Sắn

Cây lâu năm (Chè, Bưởi, Cam, Quýt)

Cây lâm nghiệp (Quế, Keo, Bạch đàn, Tre Bát Độ, Bồ đề)



Mức độ phổ biến

Số hộ

Tỷ lệ

lựa chọn

(%)

50

62,5

11

13,75

61

76,3

55

68,8

35

43,8

57

71,3

19

23,8

46

57,5

69

86,3

38

47,5

63

78,8

49

61,3

100

100,0

68

85,0

43

53,8

53

66,3

59

73,8

45

56,25

56

70,0

78

97,5

57

72,0



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra của NCS

Trong giai đoạn 2005 - 2016, sự lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông

nghiệp của khu vực vùng thấp được tổng hợp trong bảng 3.7. Theo kết quả khảo sát

từ 80 hộ cho thấy trồng chè, trồng cây ăn quả (cam) và chun trồng màu là những

loại hình được các nơng hộ lựa chọn nhiều nhất, các loại hình này được áp dụng lên

tới trên 90% tổng số các hộ ở khu vực vùng giữa. Chuyên trồng màu (ngô xuân ngô mùa hay đậu đỗ xuân - đậu đỗ mùa) và chuyên trồng lúa là 2 loại hình được

khoảng 70% - 80% số hộ trong khu vực lựa chọn. Điều này cho thấy đây là những

loại hình sử dụng đất phù hợp và phổ biến đối với khu vực này. Loại hình kết hợp

trồng lúa với cây trồng cạn với cơng thức luân canh 2 vụ lúa một vụ rau đông ít

được áp dụng nhất, chỉ có khoảng hơn 20% số hộ trong khu vực lựa chọn. Điều này

giống với khu vực vùng thấp do loại hình canh tác này khó chuyển đổi và mất khá

nhiều công làm đất. Cho đến thời điểm hiện tại (2016), loại hình chuyên trồng lúa

nương giảm mạnh, chỉ còn ở 11/80 hộ lựa chọn (năm 2005 cả tỉnh có 7,0 nghìn ha

diện tích đất trồng lúa nương thì 2016 giảm xuống chỉ còn 932ha). Loại hình trồng



109

cây lâm nghiệp (chủ yếu là bồ đề, keo, bạch đàn và tre Bát Độ) được lựa chọn ở

57/80 hộ (chiếm 72%) (bảng 3.7).

Tại vùng giữa (bảng 3.8), trong cơ cấu giá trị đất nơng nghiệp thì đất sản xuất

nơng nghiệp chiếm tỉ lệ ít hơn nhưng có sự tăng liên tục qua các năm cả về giá trị

lẫn cơ cấu. Năm 2005, đất sản xuất nông nghiệp là 23.674,83ha (chiếm 21,47% cơ

cấu) thì đến năm 2016 diện tích này đã tăng khá nhanh và đạt 32.654,0ha (29,0% cơ

cấu), tức là tốc độ tăng trưởng đạt 195,8%.

Trong cơ cấu giá trị diện tích đất sản xuất nơng nghiệp thì diện tích đất trồng

cây hàng năm chiếm tỉ lệ giá trị nhỏ hơn nhưng giá trị diện tích vẫn tăng dần qua

các năm. Cụ thể năm 2005, diện tích đất trồng cây hàng năm là 8.662,94ha (36,6%

cơ cấu) đến năm 2016 đã tăng lên và đạt 12.866,0 ha (chiếm 39,4% cơ cấu), tức là

tốc độ tăng trưởng đạt 148,51%. Diện tích đất trồng cây lâu năm chiếm giá trị lớn

và liên tục tăng qua các năm, năm 2005 diện tích đất trồng cây lâu năm là

15.011,89ha (chiếm 63,4% cơ cấu) thì đến năm 2016 diện tích này đã tăng khá và

đạt 19.787,9ha (chiếm 71,0% cơ cấu. Tốc độ tăng trưởng 131,8%.

Trong cơ cấu giá trị diện tích cây hàng năm cũng có sự thay đổi lớn. Năm

2005, diện tích cây lúa có giá trị lớn là 4.940,54 ha (chiếm 57,03% cơ cấu) đến năm

2016 giảm nhẹ và đạt 4.933,0 ha và tỉ trọng giá trị trong cơ cấu lại giảm mạnh chỉ

còn 38,34%. Thay vào đó nếu như năm 2005, diện tích đất trồng cây hàng năm khác

là 3.772,0 ha (chỉ chiếm 42,07% cơ cấu) thì đến năm 2016 đã tăng mạnh lên 7.933,0

ha (tỉ trọng giá trị trong cơ cấu tăng lên và đạt 61,66%).

Trong cơ cấu giá trị diện tích trồng cây lúa cũng có sự biến đổi. Đất chuyên

trồng lúa chiếm giá trị lớn nhất, đất trồng lúa còn lại có giá trị nhỏ và cả hai loại

diện tích trồng lúa này đều tăng liên tục qua các năm. Bên cạnh đó diện tích đất

trồng lúa nương giảm rất mạnh, từ 828,32 ha năm 2005 giảm xuống còn 0,0ha năm

2016. Nguyên nhân của sự thay đổi này là do người dân chuyển tồn bộ phần diện

tích trồng lúa nương sang trồng cây ăn quả. Đây là sự chuyển đổi hợp lí, vừa cho

hiệu quả kinh tế cao hơn, vừa bảo vệ cảnh quan và mơi trường.

Diện tích và cơ cấu đất trồng cây hàng năm khác ở vùng giữa cũng có sự thay

đổi nguyên nhân là do để đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm trong vùng

người dân đã khai thác mở rộng diện tích.



110



Bảng 3.8. Biến động diện tích đất nơng nghiệp ở vùng giữa giai đoạn 2005 - 2016

Loại hình sử dụng

ĐẤT NƠNG NGHIỆP

Đất sản xuất nông nghiệp

Đất trồng cây hàng năm

- Đất trồng lúa

Đất chuyên trồng lúa nước

Đất trồng lúa nước còn lại

Đất trồng lúa nương

- Đất trồng cây hàng năm khác

Đất trồng cây lâu năm

- Đất trồng chè

- Đất trồng cây ăn quả lâu năm

- Đất trồng cây lâu năm khác



2005

2010

Diện tích Cơ cấu Diện tích

(ha)

85.648,77

23.674,83

8.662,94

4.940,54

3.825,57

286,65

828,32

3.722,0

15.011,89

3.270,00

2.666,56

9.075,33



2015

Diện tích



2016

Diện tích Cơ cấu



So sánh 2016/2005

+, +, -%



TĐPT

2005-2016



(%)

(ha)

(ha)

(ha)

(%)

(ha)

(%)

(%)

100,0 109.234,22 112.617,0 112.588,0

100,0 34.934,23

0

145,0

21,47 28.771,86

32.666,0 32.654,0

29,0 9.006,17

7,53

195,82

36,6 10.956,32

12.870,0 12.866,0

39,4 4.203,06

-2,8

148,51

57,03

4.904,35

4.936,0

4.933,0

38,34

-7,54

-18,69

99,85

77,43

4.024,37

4.230,6

4.227,6

85,7

402,03

8,27

110,5

5,8

394,52

705,4

705,4

14,29

68,59

8,49

245,94

16,77

485,1

0,0

0,0

42,07

6.051,0

7.934,0

7.933,0

61,66 4.211,0

25,29

213,13

63,40 17.915,54

19.795,0 19.787,0

71,0 4.775,11

7,6

131,80

21,78

4.281,0

4.950,0

4.950,0

25,02 1.696,60

3,24

151,3

17,76

2.423,0

2.408,0

2.392,0

12,08 -274,56

-5,68

89,70

60,49 11.211,54

10.617,0 12.445,0

62,89 3.369,67

2,4

137,12

Nguồn: Tổng hợp, tính tốn từ số liệu của Phòng Nơng nghiệp huyện Văn Chấn



111



Bảng 3.9. Biến động diện tích đất lâm nghiệp ở vùng giữa giai đoạn 2005 - 2016

Loại hình sử dụng

ĐẤT NƠNG NGHIỆP

Đất lâm nghiệp

Đất rừng sản xuất

- Đất có rừng tự nhiên SX

- Đất có rừng trồng SX

- Đất khoanh nuôi phục hồi rừng SX

- Đất trồng rừng SX

Đất rừng phòng hộ

- Đất có rừng tự nhiên PH

- Đất có rừng trồng PH

- Đất khoanh nuôi phục hồi rừng PH

- Đất trồng rừng PH

Đất rừng đặc dụng



2005

2010

DT

Cơ cấu

DT

85.648,77

100,0 109.234,22

60.763,60

78,25 80.263,81

27.434,62

45,15 56.312,51

8.434,10

30,74 25.018,79

9.386,99

34,22 14.270,54

1.258,23

4,59

1.477,93

8.355,30

30,46

7.623,47

33.328,98

54,85 23.951,30

23.406,84

70,23 19.347,11

5.682,30

17,05

2.330,82

32,00

0,10

34,00

4.207,84

12,63

527,60

-



2015

DT

112.617,0

79.666,0

62.865,0

33.575,70

15.258,90

1.913,00

12.117,40

16.801,0

14.031,00

2.734,00

36,00

-



2016

DT

Cơ cấu

112.588,0

100,0

79.665,0

70,76

62.850,0

78,90

33.560,70

53,40

15.758,90

25,10

1.913,00

3,00

11.617,40

18,50

16.801,0

21,10

14.031,00

83,51

2.734,00

16,27

36,00

0,22

-



So sánh 2016/2005 TĐPT 2005+,-(ha)

+,-(%)

2016 (%)

26.939,23

0,00

131,45

18.901,4

-7,49

131,10

35.415,38

33,75

229.09

25.126,60

22,66

397,91

6.371,90

-9,12

167,88

654,77

-1,59

152,03

3.262,10

-11,96

139,04

-16.527,9

-33,75

50,40

-9.375,84

13,28

59,94

-2.948,00

-0,78

48,11

4,00

0,12

112,50

-



Nguồn: Tổng hợp, tính tốn từ số liệu của Phòng Tài ngun và Mơi trường huyện Văn Chấn



112

Trong cơ cấu giá trị diện tích cây lâu năm cũng có nhiều biến động. Diện tích

trồng chè tăng khá nhanh qua các năm và đây là cây trồng có thế mạnh của vùng

này. Cây chè phù hợp với vùng giữa cả về điều kiện sinh trưởng cũng như điều kiện

chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Trong vùng có 2 nhà máy lớn, hàng chục hợp tác xã,

nhiều hộ gia đình trồng và chế biến chè các loại. Sự khác biệt giữa 2 vùng này là: ở

vùng thấp, diện tích chè có xu hướng giảm, nhưng ở vùng giữa, diện tích cây chè lại

tăng khá đều, trong 10 năm tăng thêm 1.680 ha (1,5 lần), trong khi đó, diện tích các

loại cây ăn quả giảm nhẹ. Diện tích trồng cây lâu năm khác như quế, nhãn, keo…

tăng mạnh (Hình 3.4).

Nhìn chung, sự chuyển đổi diện tích và cơ cấu cây trồng ở vùng giữa như trên là

phù hợp với đặc điểm tự nhiên của vùng, đồng thời cũng phù hợp với xu thế thay đổi

cơ cấu ngành nông nghiệp chung của toàn tỉnh Yên Bái.

Tại vùng giữa diện tích đất rừng các loại đều có biến động phức tạp trong giai

đoạn 2005 - 2016, (bảng 3.9) cụ thể:

Cơ cấu đất lâm nghiệp có sự thay đổi mạnh. Nếu năm 2005, tỉ lệ đất rừng

phòng hộ lớn hơn tỉ lệ đất rừng sản xuất thì đến năm 2016 cơ cấu này đảo ngược lại.

Năm 2005, đất rừng sản xuất chiếm 45,15% tỉ trọng, đất rừng phòng hộ chiếm

54,85% tỉ trọng. Năm 2016, đất rừng sản xuất chiếm 78,90% tỉ trọng, đất rừng

phòng hộ còn 21,10% tỉ trọng đất lâm nghiệp.

Diện tích đất rừng sản xuất tăng mạnh. Năm 2016 đạt 62.850,00 ha, tăng

35.415,38 ha so với năm 2005. Trong cơ cấu đất rừng sản xuất thì diện tích đất có

rừng tự nhiên sản xuất chiếm tỉ lệ lớn nhất và đây là điểm khác biệt so đất rừng ở

vùng thấp. Năm 2016 chiếm 53,40% tương ứng với 33.560,70 ha, tỉ lệ này tăng

nhanh so với năm 2005 (chiếm 30,74%), cùng với tăng tỉ lệ thì giá trị diện tích đất

có rừng tự nhiên sản xuất vẫn tăng đều qua các năm. Cụ thể, năm 2016 là 33.560,70

ha đã tăng so với năm 2005 là 25.126,60 ha. Diện tích đất có rừng trồng sản xuất

cũng tăng đều qua các năm, năm 2016 tăng 6.379,10 ha so với năm 2005.

Đất rừng phòng hộ giảm mạnh. Năm 2016 còn 16.801,00 ha, giảm 16.527,98

ha so với năm 2005. Trong cơ cấu đất rừng phòng hộ thì diện tích đất có rừng tự

nhiên phòng hộ giảm rất nhanh, giảm 9.375,84 ha, so với năm 2005 và trong một

vài năm gần đây diện tích đất rừng này vẫn đang có xu hướng giảm dần. Diện tích

đất có rừng trồng phòng hộ có xu hướng giảm, nhưng giảm chậm so với diện tích

rừng phòng hộ bị mất đi (Hình 3.7).



113

Bảng 3.10. Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành ở vùng giữa



Năm



Tổng số



2010

2013

2014

2015

2016



46.850,0

129.578,6

234.833,5

343.589,3

352.828,2



giai đoạn 2010-2016 (Đơn vị: Triệu đồng)

Chia ra

Trồng và

Khai thác gỗ

Thu nhặt sản

Dịch vụ

chăm sóc

và lâm sản phẩm khơng phải

lâm nghiệp

rừng

khác

gỗ và lâm sản

12.550,0

19.250,0

15.050,0

68.881,5

23.905,2

23.791,9

17.930,8

212.278,7

6.442,7

7.181,3

38.220,9

273.497,1

21.793,1

10.078,0

27.354,7

301.068,4

18.176,2

6.228,0

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Văn Chấn 2016



TĐTT (%)



Hình 3.9. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp qua các năm

của các vùng ở tỉnh Yên Bái

Như vậy, giá trị sản xuất lâm nghiệp của khu vực vùng giữa có quy mơ khá lớn

và giá trị sản xuất liên tục tăng nhanh trong khoảng 10 năm trở lại đây. Nếu năm 2010,

giá trị sản xuất lâm nghiệp mới chỉ đạt 46.850,0 triệu đồng thì đến năm 2016 đã tăng

lên và đạt 352.828,2 triệu đồng, tức tăng 305.978,0 triệu đồng trong khoảng 10 năm.

Đạt tốc độ tăng trưởng là 753%. Kết quả này cho thấy khu vực vùng giữa đã và đang

có sự đầu tư phát triển đúng hướng để khai tác có hiệu quả nhất những thế mạnh về

2014

2015

2016

Năm

2010

2013

phát triển lâm nghiệp của vùng. Hiệu quả rừng mang lại giá trị cao cho vùng giữa là

rừng quế, rừng keo và rừng bạch đàn (bảng 3.10), (Hình 3.7), (Hình 3.9).

Trong cơ cấu giá trị sản xuất lâm nghiệp thì ngành mang lại giá trị sản xuất cao

nhất là khai thác gỗ và lâm sản khác, tiếp đến là giá trị từ ngành trồng và chăm sóc rừng.



114



Bảng 3.11. Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính và thuỷ sản ở vùng giữa

Cây trồng/

NTTS

Cây hàng năm



2005

DT



NS



2010

SL



NS



DT



(ha) (tạ/ha) (tấn)



(tạ/ha



(ha)



2015

SL



DT



(tấn)



NS



(ha) (tạ/ha)



So sánh



2016

SL



DT



(tấn)



(ha)



NS

(tạ/ha



SL2016/2005

SL



+,-



(tấn)



(tấn)



(%)



8.303,0



46,6 38.691, 8.481,



)

)

49,0 41.476, 8.226,0 53,28 43.829,0 8.274, 53,31 44.109,0



3.783,0



9

0

53,8 20.352, 3.914,



0

0

56,2 21.982, 4.068,0 58,65 23.862,0 4.102, 58,67 24.067,0



3.714,5 118,3



4.020,0



5

2

0

0

44,4 17.848, 4.179, 42,68 19.494, 4.158,0 48,02 19.967,0 4.172, 48,04 20.042,0



2.193,2 112,3



Lúa nương

Ngô cả năm



500,0

3.200,0



8

5

0

0

10,0 500,0

22,8 7.296,0 4.671, 29,37 13.720, 6.067,0 32,98 20.009,0 6.108, 33,39 20.392,0 13.096,0 279,5



Sắn cả năm



0

0

0

1.797,0 105,5 18.958, 1.457, 142,40 20.749, 1.564,0 163,55 25.579,0 1.500, 168,50 25.275,0



Lúa cả năm

Lúa xuân

Lúa mùa



Khoai lang

Cây lâu năm



5.417,1 114,0



6.316,6 135,7



4

0

0

0

563,0 48,5 2.730,6 663,0 50,06 3.319,0 790,0 51,58 4.075,0 802,0 52,49 4.210,0 1.479,4 154,2

(ha) (tạ/ha) (tấn) (ha) (tạ/ha (tấn)

(ha) (tạ/ha) (tấn)

(ha) (tạ/ha (tấn)

+, - (tấn) (%)

)

95,0 40.688, 4.950,0



2.845,3



66,7 18.978, 4.281,



Cây ăn quả



3.121,6



2

0

0

0

83,2 25.971, 2.433, 100,0 24.330, 2.394,0 109,0 31.980,0 2.669, 110,0 29.359,0

7



0



0



91,0 45.039,0 4.665,



)

96,6 45.057,0 26.078,8 237,4



Chè



0



3.387,3 `130,0



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ở vùng thấp (Tính cho 1 ha năm 2016)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×