Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
của các vùng ở tỉnh Yên Bái

của các vùng ở tỉnh Yên Bái

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 3.6. Bản đồ biến động tài nguyên rừng theo các vùng của tỉnh Yên Bái



Hình 3.7. Bản đồ hiện trạng sản xuất ngành lâm nghiệp theo các vùng của tỉnh Yên Bái



99



Bảng 3.5. Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính và thuỷ sản ở vùng thấp

Cây trồng/

Vật nuôi

Cây hàng năm

Lúa cả năm

Lúa xuân

Lúa mùa

Ngô cả năm

Sắn cả năm

Khoai lang

Đậu tương

Lạc

Cây lâu năm

Chè

Cây cam quýt

Cây LN (8năm)

Nuôi trồng TS

Thuỷ sản



2010



2005

DT

(ha)



NS

(tạ/ha)



SL

(tấn)



DT

(ha)



NS

(tạ/ha)



4.380,0



43,6 19.096,8 4.419,0



48,15



2.028,0



46,0 9.328,8 2.128,0



48,50



2.352,0



41,5 9.760,8 2.291,0



47,83



984,0



30,0 2.952,0 1.458,0



29,32



1.755,0



130,0 22.815,0 3.148,0 223,30



616,0

55,0 3.388,0

128,5

6,4

82,2

292,5

8,9

260,3

(ha) (tạ/ha)

(tấn)

2.526,7

94,4

2.886,7



756,0 53,88

161,8

6,6

340,5

9,1

(ha) (tạ/ha)



60,0 15.160,2 2.011,0



83,4



26,9



110,0



27,0



80,0 23.093,6 3.106,0



85,0



254,1



(ha) (tạ/ha)

(tấn)

917,8

16,8 1.543,2



(ha) (tạ/ha)

909,0

34,8



2015

SL

(tấn)

21.278,

0

10.321,

0

10.957,

0

4.274,0

70.306,

0

4.073,0

106,7

309,8

(tấn)

16.783,

0

298,0

26.401,

0

(tấn)

3.163,0



DT

(ha)



NS

(tạ/ha)



So sánh SL

2016/2005



2016

SL

(tấn)



DT

(ha)



NS

(tạ/ha)



SL

(tấn)



+,(tấn)



(%)



4.420,0



50,75 22.432,0



4.505



51,58 23.237 4.140,2 106,8



2.136,0



51,77 11.057,0



2.214



53,22 11.748 2.124,2 105,8



2.284,0



49,80 11.375,0



2.291



49,99 11.453 1.692,2 107,7



1.590,0



30,75



1.584



30,95



4.891,0



3.140,0 209,58 65.808,0

704,0 56,56

158,9

7,1

325,3

9,5

(ha) (tạ/ha)

1.832

53,0

2.907,0



3.982

112,8

309,0

(tấn)



4.903 1.951,0 175,1



3.088 211,53 65.319 42.504,0 396,2

718 53,73

157,0

7,1

330,1

9,4

(ha) (tạ/ha))



4.119

731,0 116,7

111,4

29,2 138,0

310,2

49,9 154,9

(tấn) +, -(tấn)

(%)



84,6 15.500,0 1.584,0



95,4 15.123,0



-37 139,3



26,0



21,6



-33 350,4



138,0



56,0



90,0 26.163,0 2.802,0



(ha) (tạ/ha)

776,0

45,0



(tấn)

3.942,0



121,0



89,0 24.378,0 1.284,0 105,6



(ha) (tạ/ha)

(tấn) +,- (tấn)

(%)

722,0

45,8 3.306,7 1.763,5 214,2



Nguồn: Niên giám thống kê huyện n Bình năm 2010, 2016 và tính tốn của tác giả từ số liệu điều tra



Hình 3.8. Bản đồ hiện trạng phát triển và phân bố nông nghiệp theo các vùng của tỉnh n Bái



101

Loại hình canh tác chính của khu vực vùng thấp là trồng lúa, trồng sắn, trồng

chè, trồng cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản. Theo thời gian, diện tích, năng suất,

sản lượng các cây trồng này có sự thay đổi. Sự thay đổi đó được thể hiện cụ thể

trong bảng 3.5.

- Lúa: Tại vùng thấp, lúa nước được trồng tập trung trên đất ruộng, là loại đất

phù sa cơ giới nhẹ, có mức độ thích nghi trung bình.Từ năm 2005 đến năm 2016,

cây lúa ln chiếm diện tích lớn nhất và khá ổn định qua các năm (DT lúa cả năm

năm 2005 là 4.380,0 ha, năm 2016 là 4.505,0 ha). Sản lượng lúa tăng 4.140,2 tấn, sản

lượng lúa tăng chủ yếu là do tăng năng suất. Cơ cấu mùa vụ đang có sự thay đổi

theo hướng đưa vụ xuân lên làm vụ chính. Cây lúa đã đảm bảo được an ninh lương

thực trong khu vực và đáp ứng một phần nhu cầu thị trường trong tỉnh.

- Sắn: Năm 2004, khi nhà máy chế biến tinh bột sắn được đưa vào hoạt động

xây dựng thì từ năm 2005 đến năm 2016 diện tích sắn và đặc biệt là sắn cao sản liên

tục tăng và đến năm 2016 sắn là cây trồng có diện tích lớn thứ 2 ở khu vực vùng

thấp. Theo đánh giá của Viện Nơng hố Thổ nhưỡng thì đất nơng nghiệp ở khu vực

vùng thấp của tỉnh Yên Bái rất thích hợp cho việc phát triển cây sắn. Kết quả khảo

sát của viện cho thấy có khoảng 27,57% tổng DTĐT có độ thích nghi cao với cây

sắn, có khoảng 42,47% tổng DTĐT có mức độ thích nghi trung bình với cây sắn.

Bên cạnh đó hiệu quả trồng sắn của vùng khá cao do hệ thống tưới tiêu được đảm

bảo. Đến năm 2016, diện tích trồng sắn của vùng đạt hơn 3.088 ha cho sản lượng

65.319,0 tấn và tăng 42.504 tấn so với năm 2005.

- Cây ăn quả: Trong vùng có sự đa dạng về chủng loại cây ăn quả như cam,

quýt, bưởi, xồi… Trong đó, cây ăn quả chủ lực của vùng là cây bưởi. Bưởi được

trồng nhiều nhất ở huyện Yên Bình, đặc biệt là bưởi ở xã Đại Minh được đánh giá

có chất lượng bưởi ngon nhất. Đối với khu vực vùng thấp, cây bưởi không chỉ đem

lại giá trị về kinh tế cho người nơng dân mà nó còn đem lại hình ảnh cho vùng trên

thị trường trong nước và hướng ra quốc tế. Đặc điểm của cây bưởi và các cây ăn

quả có múi khác là khá thích nghi với các loại đất thịt hoặc đất có thành phần cơ

giới nhẹ kết hợp với lượng mưa lớn. Theo đánh giá của Viện Nơng hố Thổ nhưỡng

về mức độ thích nghi của cây ăn quả đối với khu vực vùng thấp thì đất nơng nghiệp

ở khu vực này rất thích hợp cho việc phát triển các cây ăn quả có múi. Kết quả khảo

sát của viện cho thấy có khoảng 19,9% tổng DTĐT có độ thích nghi cao, có khoảng

43,1% tổng DTĐT có mức độ thích nghi trung bình. Mặt khác diện tích đất nơng

nghiệp của vùng có địa hình tương đối bằng phẳng hoặc hơi lượn sóng, có khả năng



102

tưới tiêu, tầng mặt trên 100 cm, rất thích hợp với cây ăn quả có múi. Năm 2016 diện

tích trồng cam quýt của vùng là 56 ha, so với năm 2005 diện tích này giảm nhưng

nếu so với một vài năm trở lại đây, diện tích này lại đang có xu hướng tăng lên do

nhu cầu của thị trường và đặc biệt là do chính sách quy hoạch của tỉnh Yên Bái về

phát triển cây ăn quả có múi tại vùng này. Các cây ăn quả khác của vùng tuy cũng

cho hiệu quả nhưng được trồng manh mún, chủ yếu là trồng xen kẽ trong vườn tạp.

- Chè: Giống như đa phần các tỉnh miền núi phía Bắc, cây cơng nghiệp chính

được trồng ở khu vực vùng thấp là cây chè. Diện tích trồng chè của vùng năm 2016

là 1.584,0 ha, nếu so với năm 2005 thì diện tích chè giảm gần 1000 ha. Nguyên

nhân là do chính sách của tỉnh đang trong giai đoạn chuyển đổi những diện tích chè

già cho năng suất thấp sang trồng các giống chè mới cho năng suất cao. Vì vậy,

trong nhưng năm qua tuy diện tích chè giảm nhưng năng suất chè lại liên tục tăng từ

60,0 tạ/ha năm 2005 lên 95,4 tạ/ha năm 2016. Chè cũng là loại cây trồng được đánh

giá có mức độ thích nghi cao với điều kiện của vùng, cho năng suất và chất lượng

tốt nên đây được xem là cây công nghiệp thế mạnh. Chè được trồng nhiều ở các xã

Ngọc Chấn, Tân Nguyên, Phúc An, Mỹ Gia, n Bình… Ngồi cây chè ra cũng có

một vài cây công nghiệp được đưa vào trồng như cây quế nhưng có qui mơ nhỏ và

rất manh mún.

Nhìn chung năng suất các cây trồng chính đều có xu hướng tăng dần qua các

năm. Trong giai đoạn 2005 - 2016 sản lượng của tất cả các cây trồng đều tăng,

tăng nhiều nhất là sắn, sau đó đến lúa, ngơ, cây LN (8 năm). Sản lượng tăng chủ

yếu do sự gia tăng của cả diện tích và năng suất, nhưng chủ yếu là do được mở

rộng diện tích. Diện tích các cây trồng được mở rộng mà vẫn cho năng suất cao

hơn là một thực tế bước đầu khẳng định đất nơng nghiệp của vùng đã được sử

dụng có hiệu quả hơn.

- Thủy sản: Khu vực vùng thấp rất có điều kiện để phát triển thủy sản. Vùng

lòng hồ Thác Bà với tiềm năng thủy sản phong phú cho sản lượng đánh bắt hàng

năm trung bình khoảng 2.000 tấn. Tuy diện tích ni trồng thủy sản có xu hướng

giảm, nhưng năng suất và sản lượng vẫn tăng dần theo thời gian do người dân đã có

sự đầu tư về giống cũng như khoa học kĩ thuật.

Trong các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của khu vực vùng thấp, xét về tất

cả các mặt như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp, giá trị ngày công,

hiệu quả sử dụng vốn cũng như một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cho thấy: Mang lại

hiệu quả kinh tế cao nhất là loại hình ni trồng thủy sản, thể hiện ở tất cả các chỉ



103

tiêu như GO, VA, MI, GTNC, HSSDV, GO/IC và VA/IC đều cao; tiếp theo là cây

bưởi đặc sản có giá trị sản lượng cao thứ ba, do chi phí trồng bưởi thấp cộng với

tốn ít công lao động hơn trồng lúa và màu nên giá trị ngày cơng cao, GO/IC và

VA/IC của loại hình trồng cây bưởi đặc sản cao thứ 2. Chè cho giá trị sản xuất cao

thứ 2, nhưng chi phí cao nên GO/IC, VA/IC, IM/IC cao thứ ba. Trồng lúa kết hợp

với cây trồng cạn, chuyên trồng lúa, tiếp đến là loại hình trồng sắn là những loại

hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao thứ tư. Nếu xét riêng chỉ tiêu GO/IC thì

ni trồng thủy sản là loại hình sử dụng đất mang lại hiệu quả cao nhất (GO/IC =

13,85 lần), sau đó đến loại hình trồng cây ăn quả (Bưởi đặc sản) với GO/IC = 10,7

lần và loại hình có hiệu quả kinh tế thấp nhất là trồng màu (ngô xuân) (GO/IC =

2,89 lần) (Bảng 3.6).

Bảng 3.6. Hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất nơng nghiệp

ở vùng thấp (Tính cho 1 ha năm 2016)



TT



1



2



3

4

5

6

7

8

9



Chỉ tiêu

Chuyên trồng lúa (Lúa

xuân - Lúa mùa)

Kết hợp trồng lúa với cây

trồng cạn (Lúa xuân Lúa mùa - Khoai tây

đông)

Trồng màu (Khoai lang

xuân - Khoai lang mùa)

Trồng màu (Ngô xuân)

Trồng cây ăn quả (Bưởi)

Trồng cây ăn quả (Dứa)

Trồng Sắn

Trồng cây lâu năm (Chè)

Nuôi trồng thuỷ sản



GTN

GO/I

MI/I

GO IC VA MI

C

VA/IC

C

C

(tr. đ) (tr. đ) (tr. đ) (tr. đ) (ng.

(lần)

(lần)

(lần)

đ)

41,25 9,10 32,15 30,40 96,50



4,53



3,50 3,00



56,60 11,10 45,50 43,50109,80



5,09



4,10 3,92



26,0 7,50 18,5 16,5 60,00



3,4



2,50 2,20



21,66 7,50 14,16 13,16 74,00 2,89 1,89 1,75

74,80 7,00 64,80 62,50230,00 10,70 9,90 9,30

25,90 9,00 16,90 15,70 75,00 2,90 1,90 1,70

32,30 6,60 33,70 32,10 80,00 4,91 3,73 3,01

75,6 11,0 64,6 62,0152,00 6,87 5,80 5,60

97,00 7,00 90,00 88,00281,30 13,85 12,85 12,5

Nguồn: Tính tốn của tác giả từ số liệu điều tra



b. Kiến thức bản địa của dân tộc Kinh trong sản xuất nông, lâm nghiệp

* Trong canh tác lúa nước

Trong quá trình canh tác lúa nước, đồng bào dân tộc Kinh ở Yên Bái đã tích

lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ sau. Cụ thể:



104

- Về mùa vụ: Đối với người kinh ở Yên Bái, canh tác lúa nước trên chân ruộng

thấp có 2 vụ chính là vụ xuân và vụ mùa. Để hạn chế được một số tai biến thiên

nhiên (rét đậm, hạn, mưa nhiều khi chưa kịp thu hoạch…) người Kinh ở Yên Bái đã

chia lịch mùa vụ như sau: Vụ Xuân - Gieo mạ từ: 25 tháng 1 đến 10 tháng 2 - Cấy

lúa từ: 10 tháng 2 đến 25 tháng 2; Vụ Mùa - Gieo mạ từ: 10 đến 30 tháng 6 - Cấy

lúa từ: 20 tháng 6 đến 5 tháng 7.

- Làm đất, vệ sinh đồng ruộng: Theo kinh nghiệm của bà con, muốn cây lúa

phát triển được tốt thì đất phải được cày, bừa kỹ, san phẳng, làm nhuyễn, dọn sạch

cỏ dại. Cần có rãnh thốt nước theo độ nghiêng của ruộng.

- Kỹ thuật chọn giống: Chọn giống, bà con thường mua giống từ các cơ sở

khuyến nông. Theo kinh nghiệm cứ 1,5 - 2 kg giống/sào ruộng. Trước khi gieo hạt

giống nên phơi hạt giống 3 - 4 giờ để tăng khẳ năng hút nước của hạt khi ngâm và

loại các tạp chất trong hạt giống như cỏ, hạt lép lửng.

- Kỹ thuật ngâm ủ hạt giống: Ngâm hạt giống. Xử lý bằng nước nóng 540C và

ngâm khoảng 24 giờ vớt thóc đãi cho hết nước chua. Ngâm tiếp trong nước sạnh 18

giờ để hạt giống hút no nước. Thời gian ủ từ 24 - 26 giờ đến khi hạt nứt nanh thì

đem gieo ngay.

- Kỹ thuật cấy lúa: Cấy lúa khi mạ đạt 2 - 3 lá (10 - 15 ngày tuổi). Mật độ khoảng

cách: 20 x 12 x 3 dảnh/khóm. Phương pháp cấy: nơng tay, thẳng hàng.

- Chăm sóc: Làm cỏ lần 1 sau khi bón phân thúc đẻ; lần 2 sau khi bón phân

thúc đòng. Điều tiết nước từ khi cấy đến 30 ngày để nước sâu 1 - 2 cm để kích thích

q trình đẻ nhánh.; từ 30-35 ngày sau cấy để khô ruộng ruộng để hạn chế chồi vô

hiệu đồng thời hạn chế chất độc trong đất; 40 ngày đến chín cần đảm bảo đủ nước.

Tháo hết nước khỏi ruộng trước khi gặt 10 ngày.

- Phòng trừ sâu, bệnh hạ: Theo bà con nên tiến hành thăm ruộng định kỳ 7

ngày 1 lần/ và phải phun thuốc cho ruộng khi xuất hiện sâu bệnh hại.

Đối với bệnh hại: Bệnh đạo ôn, khi thấy có một vài vết bệnh xuất hiện, sử

dụng thuốc hóa học như: Beam 20WP; Trizole 20WP; Fuji-one 40EC; Bump

650WP; FILIA-525EC; Kabim 30EC... để phun; Bệnh khô vằn: Sử dụng các loại

thuốc như Anvil, Tilt super, Amistar Top…; Bệnh Bạc lá: Bệnh Bạc lá do vi khuẩn

gây ra. Bệnh lây lan qua con đường hạt giống. Để phòng trị bệnh chủ yếu sử dụng

giống kháng kết hợp với xử lý hạt giống.

- Kinh nghiệm thu hoạch: Thu hoạch vào lúc sau trỗ 28-33 ngày hoặc khi thấy

85-90% số hạt trên bông đã chín vàng. Nếu cắt sớm hay trễ đều làm tăng tỷ lệ hao



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

của các vùng ở tỉnh Yên Bái

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×