Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CÁC DÂN TỘC TỈNH YÊN BÁI

CÁC DÂN TỘC TỈNH YÊN BÁI

Tải bản đầy đủ - 0trang

80

- Ngành chăn nuôi của các địa phương trong vùng đã từng bước phát triển theo

hướng sản xuất hàng hoá. Vật ni của tỉnh chủ yếu là trâu, bò, lợn và gia cầm. Tuy

nhiên, do đây là vùng mùa đông có thời tiết vơ cùng khắc nghiệt, rét đậm, rét hại

thường kéo dài, một số nơi có băng giá, nên trâu được ni nhiều hơn bò. Ngồi ra,

trong những năm gần đây, do nhu cầu của thị trường, nên nhiều loại động vật, trong đó

có cả các lồi động vật hoang dã cũng được người dân quan tâm nuôi dưỡng.

3.1.2. Ngành lâm nghiệp

Với tỉnh Yên Bái, phát triển lâm nghiệp có vai trò quan trọng trong việc khai

thác lãnh thổ một cách có hiệu quả đi đơi với bảo vệ môi trường sinh thái. Về kinh

tế rừng cung cấp nguyên liệu giấy, tinh dầu hồi, quế, thảo quả, dược liệu và gỗ dân

dụng; tạo cảnh quan đẹp cho phát triển du lịch và bảo tồn nguồn gen quý hiếm...

Đồng thời về phương diện mơi trường có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, tạo nguồn

sinh thủy cho các cơng trình thủy điện, thủy lợi; bảo vệ đất vùng, hạn chế các tai

biến thiên nhiên.

Với thực tế đó, từ năm 2005 đến nay, các địa phương trong tỉnh đã quan tâm

nhiều đến việc phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng bền vững. Các loại rừng đặc

dụng, rừng phòng hộ được bảo vệ nghiêm ngặt. Bên cạnh các cơ quan, các doanh

nghiệp nhà nước, các địa phương đã quan tâm đến việc giao rừng cho người dân

bảo vệ, có cơ chế và chính sách hỗ trợ để họ có thể làm tốt điều đó.

Nhiều vùng đất rừng sản xuất cũng đã được giao cho người dân quản lý.

Nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc, giờ đây đã được người dân trồng lại rừng (đến

31/12/2016 tồn tỉnh có 14.278 ha rừng trồng mới). Những năm gần đây tỉ lệ che

phủ rừng của tỉnh tăng lên bình quân 1%/ năm, độ che phủ rừng là 62,2% (2016).

Việc khai thác, chế biến các sản phẩm từ rừng cũng đã được các địa phương quan

tâm chỉ đạo thực hiện, cũng như đầu tư phát triển. Nhiều hộ dân ở các tỉnh có rừng

giờ đây đã có thể yên tâm sinh sống và làm giàu từ nghề rừng.

Theo kết quả kiểm kê đất vùng năm 2016, tỉnh Yên Bái có 466.681,0 ha đất

lâm nghiệp, chiếm 67,7% trong tổng diện tích tự nhiên tồn tỉnh, cao so với các tỉnh

trung du miền núi phía Bắc. Trong đó diện tích có rừng là 454.822,2 ha, trong đó

diện tích rừng tự nhiên là 245.957,3 ha chiếm 54,1% tổng diện tích rừng của tỉnh,

rừng trồng là 208.865,5 ha chiếm 45,9%. Trong rừng tự nhiên có nhiều loại gỗ quý

hiếm như Pơ mu, Sến, Lát,...



81

Nhìn chung sản xuất nơng nghiệp manh mún và nhỏ lẻ, diện tích đất hoang

hóa còn nhiều, trình độ lao động nhìn chung còn thấp… Vì vậy, vùng cần đầu tư

phát triển các vùng chuyên canh, thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện tích cây lâu

năm, chú trọng các loại cây đặc sản có giá tri kinh tế cao phù hợp với điều kiện tự

nhiên của vùng.

3.2. Thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm

nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái

3.2.1. Khái quát chung về thực trạng sử dụng tài nguyên đất và

rừng ở tỉnh Yên Bái

3.2.1.1. Thực trạng sử dụng đất

Theo số liệu thống kê năm 2016, Tổng diện tích đất tự nhiên tồn tỉnh là

688.767,0 ha. Trong đó diện tích nhóm đất nơng nghiệp có giá trị lớn nhất là

588.281,0 ha, chiếm 85,4% diện tích đất tự nhiên; diện tích nhóm đất phi nơng

nghiệp là 54.254,0 ha chiếm 7,9% và hiện tại nhóm đất này đang có xu hướng tăng

lên; diện tích đất chưa sử dụng còn khá nhiều 46.233,0 ha, chiếm 6,7%.

Hình 3.1. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Yên Bái năm 2016

Đối với một tỉnh mà hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn giữ vai trò

chính thì với hiện trạng cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Yên Bái cũng chưa

thật hợp lí. Đất nơng nghiệp chiếm tới 85,4% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, nhưng

trong đất nơng nghiệp thì đất SXNN lại rất ít, chỉ chiếm hơn 20,3%, còn đất lâm

nghiệp chiếm tới hơn 79,3%. Là một tỉnh miền núi, quỹ đất được sử dụng vào mục

đích ni trồng thủy sản của tỉnh rất ít, chỉ có hơn 2000 ha, chiếm 0,39% diện tích

đất nơng nghiệp.



Hình 3.2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Yên Bái



83

3.2.1.2 Thực trạng tài nguyên rừng

Đối với tỉnh Yên Bái rừng là nguồn TN vơ cùng q giá. Rừng đóng vai trò

quan trọng trong phát triển KT-XH và bảo vệ mơi trường sinh thái. Năm 2016, diện

tích rừng của tỉnh đạt 454.822,2 ha, độ che phủ của rừng đạt 62,5%; trong đó diện

tích rừng tự nhiên là 245.957,3 ha chiếm 54,1% tổng diện tích rừng của tỉnh, rừng

trồng 184.495,3 ha chiếm 42,6%. Hiện nay, diện tích rừng vẫn tiếp tục tăng lên theo

mục tiêu phát triển lâm nghiệp đến năm 2020 là thiết lập, quản lý, bảo vệ và phát

triển sử dụng bền vững 469.858,0 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp, nâng tỷ lệ đất

có rừng lên 63% vào năm 2020. Thực tế, diện tích rừng che phủ có tăng nhưng chất

lượng rừng vẫn còn xa mức ổn định và còn đang chịu nhiều áp lực lớn.

Tỉnh Yên Bái hiện nay có chỉ tiêu rừng vào loại thấp, chỉ đạt mức bình quân

khoảng 0,56 ha rừng/người, trong khi mức bình quân của cả nước là 0,97 ha/người.

Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của

tỉnh về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, "phủ xanh đất trống đồi núi trọc" nên

nhiều năm gần đây diện tích rừng của tỉnh đã tăng đã ngăn chặn được sự suy thối

diện tích rừng, đưa độ che phủ hàng năm tăng khoảng 1%.



Hình 3.3. Bản đồ biến động tài nguyên rừng tỉnh Yên Bái



85



3.2.2. Thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp

của cộng đồng dân tộc theo các vùng

3.2.2.1. Căn cứ để phân chia các vùng ở tỉnh Yên Bái

Trong phát triển NLN ở tỉnh Yên Bái, tài nguyên đất và rừng đã được người

dân khai thác, sử dụng gần như triệt để. Hồn cảnh nào thì có hệ thống canh tác ấy.

Mỗi dân tộc, mỗi tiểu vùng đều có hệ canh tác đặc trưng, biểu thị sự thích ứng và

thích nghi của mỗi dân tộc với điều kiện sống của họ để tồn tại và phát triển. Muốn

làm rõ được những đặc điểm về sự phân hóa đó trên tồn tỉnh, tác giả xin đề xuất

chia tỉnh Yên Bái thành 3 vùng cư trú, canh tác khác nhau: vùng thấp, vùng giữa và

vùng cao. Việc phân chia tỉnh Yên Bái thành 3 vùng như vậy dựa trên các căn cứ:

- Căn cứ về tính đồng nhất tương đối: Các huyện trong từng vùng có sự đồng

nhất tương đối về: điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử phát triển.

- Căn cứ về kinh tế: Việc xác lập các vùng trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi

cho mọi hoạt động kinh tế của từng vùng, cụ thể là việc sử dụng tài nguyên đất và

rừng vào sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc sẽ có hiệu quả hơn

từ đó phát huy thế mạnh riêng của từng vùng, đồng thời khai thác và sử dụng hợp lí

tài ngun, mơi trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho từng vùng.

- Căn cứ vào nguyên tắc trung tâm: Sự phân chia các vùng trên dựa vào trình độ

phát triển kinh tế - xã hội, trong đó vùng thấp thường được xem là: “Cực phát triển”,

“Cực tăng trưởng” của tỉnh. Vùng cao, hoạt động kinh tế phát triển chậm hơn.

Trong các căn cứ phân vùng trên thì căn cứ về tính đồng nhất tương đối là căn

cứ chính để tác giả dựa vào trong việc chia vùng ở tỉnh Yên Bái. Điều này cũng

hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc phân vùng của Vũ Tự Lập.

+ Vùng thấp: Là những huyện có độ cao trung bình từ 0 m - 300 m so với mực

nước biển: Căn cứ vào điều kiện này thì các huyện Yên Bình, Trấn Yên và thành

phố Yên Bái thuộc vùng thấp.

+ Vùng giữa: Là những huyện nằm trong độ cao trung bình từ 301 m - 700 m

so với mực nước biển, bao gồm các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Lục Yên và thị xã

Nghĩa Lộ.

+ Vùng cao: Là những huyện có độ cao trung bình trên 700 m, bao gồm các

huyện còn lại của tỉnh Yên Bái là huyện Mù Cang Chải và huyện Trạm Tấu.



86



Tuy nhiên để đánh giá thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản

xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái, mỗi vùng tác giả

chọn một huyện đại diện, tiêu biểu để nghiên cứu. Đảm bảo huyện được chọn phải

phải mang những đặc điểm chung và điển hình nhất cho vùng đó. Cụ thể:

* Vùng thấp: Chọn đại diện là huyện n Bình

- Có độ cao trung bình so với mực nước biển là 80 m. Trong tổng diện tích là

772,62 km² thì có 492 km² có độ cao dưới 100m, chiếm 63,6% diện tích đất tự

nhiên tồn huyện, 263 km² có độ cao từ 100 m - 300 m, chiếm 34%. Còn lại diện

tích có độ cao trên 300m là rất nhỏ, chỉ chiếm 2,4% diện tích.

- Phạm vi lãnh thổ bao gồm 24 xã, 02 thị trấn:

+ 24 xã: Văn Lãng, Xuân Long, Tích Cốc, Cảm Nhân, Ngọc Chấn, Tân Nguyên,

Phúc Ninh, Bảo Ái, Mỹ Gia, Xuân Lai, Mông Sơn, Cảm Ân, Yên Thành, Tân

Hương, Phúc An, Bạch Hà, Vũ Linh, Đại Đồng, Vĩnh Kiên, Yên Bình, Thịnh Hưng,

Hán Đà, Phú Thịnh, Đại Minh.

+ 02 Thị Trấn: n Bình, Thác Bà

- Diện tích: 773 km²

- Dân số: 110.064 người

- Các dân tộc chính: Kinh, Tày, Nùng

-Thế mạnh phát triển và hướng chun mơn hóa:

+ Lúa nước ruộng dộc

+ Cây ăn quả: Cây bưởi đặc sản, hồng.

+ Cây công nghiệp lâu năm: Chè, quế, keo tai tượng

+ Chăn ni: Trâu, Bò, gia súc, gia cầm

+ Ni trồng thủy sản

+ Kinh tế rừng: rừng keo

* Vùng giữa: Chọn đại diện là huyện Văn Chấn.

- Có độ cao trung bình so với mực nước biển là 495 m. Trong tổng diện tích là

1.206 km² thì có 856 km² có độ cao trên 300 m - 700 m, chiếm 71% diện tích đất tự

nhiên tồn huyện. Còn lại diện tích có độ dưới 300 m là 130 km², trên 700m là 310

km², chiếm tỉ lệ nhỏ.

- Phạm vi lãnh thổ bao gồm 28 xã và 03 thị trấn:

+ 28 xã: Tú Lệ, Nậm Búng, Gia Hội, Sùng Đô, Nậm Mười, An Lương, Nậm Lành,

Sơn Lương, Suối Quyền, Suối Giàng, Sơn A, Phù Nham, Nghĩa Sơn, Suối Bu, Sơn

Thịnh, Thanh Lương, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Thạch Lương, Đại Lịch, Đồng Khê, Cát

Thịnh, Tân Thịnh, Chấn Thịnh, Bình Thuận, Thượng Bằng La, Minh An, Nghĩa Tâm.



87



+ Thị trấn: Liên Sơn, Nghĩa Lộ, Trần Phú.

- Diện tích: 1.204 km²

- Dân số: 153.306 người

- Các dân tộc chính: Kinh, Thái, Tày, Dao

-Thế mạnh phát triển và hướng chun mơn hóa:

+ Lúa nước, cây hoa màu

+ Cây công nghiệp lâu năm: Chè, quế, keo tai tượng

+ Cây ăn quả: cam, qt, nhãn

+ Chăn ni: Trâu, Bò

+ Kinh tế rừng: Rừng quế, rừng keo

* Vùng Cao: Chọn đại diện là huyện Mù Cang Chải.

- Có độ cao trung

Bình so với mực nước biển là 1520 m. Trong đó có 1.180 km² có độ cao trên

700 m, chiếm 98,4% diện tích đất tự nhiên tồn huyện.

- Phạm vi lãnh thổ bao gồm 13 xã và 01 thị trấn:

+ 13 xã: Hồ Bốn, Nậm Có, Khao Mang, Mồ Dề, Chế Cu Nha, Lao Chải, Kim

Nọi, Cao Phạ, La Pán Tẩn, Dế Xu Phình, Chế Tạo, Púng Lng, Nậm Khắt.

+ 01 thị trấn: Mù Cang Chải

- Diện tích: 1.197,7 km²

- Dân số: 58.206 người

- Các dân tộc chính: Mơng, Dao

-Thế mạnh phát triển và hướng chun mơn hóa:

+ Lúa nước ruộng bậc thang

+ Cây công nghiệp lâu năm: Chè

+ Chăn ni: Trâu, Bò

+ Kinh tế rừng:

Sự phân chia trong hoạt động sản xuất NLN ở tỉnh Yên Bái thành 3 hệ canh

tác theo độ cao địa hình (theo vùng) chỉ là tương đối và có tính quy ước, song có thể

khẳng định, để thích ứng với điều kiện đất, địa hình, khí hậu và sinh vật... của khu

vực miền núi thì đồng bào các dân tộc đã thích ứng với hồn cảnh địa lí của cuộc

sống bằng những phương thức canh tác khác nhau. Trong hoạt động kinh tế của

cộng đồng các dân tộc ở Yên Bái thì sản phẩm nông, lâm nghiệp là nhân tố quyết

định sự tồn tại của cộng đồng.



88



3.2.2.2. Sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng

đồng các dân tộc ở vùng thấp (thung lũng chân núi)

a. Đánh giá chung

Hoạt động kinh tế của đồng bào dân tộc ở vùng thấp hay còn gọi là hệ canh tác

chân núi, mơ hình này chỉ có ở khu vực TDMNPB và Yên Bái là một điển hình. Cư

dân chủ yếu là dân tộc Kinh ngồi ra còn có dân tộc Thái, Tày, Nùng và Cao Lan.

Các thung lũng ở Yên Bái được hình thành do các vận động kiến tạo lọt giữa

vùng núi cao với nhiều sơng suối thấp, có độ cao trung bình dưới 300m. Đây là khu

vực thuận lợi nhất cho việc canh tác lúa nước ở vùng miền núi Yên Bái, nên đặc

trưng của hoạt động kinh tế thung lũng chân núi là ruộng nước với một hệ phức hợp

về kỹ thuật, khác với kỹ thuật canh tác lúa nước ở vùng đồng bằng. Gắn liền với

canh tác ruộng nước, hệ thống thủy lợi vùng thung lũng chân núi khá đặc sắc, như

hệ thống mương phai, lái, lin ở người Thái, Tày, Nùng hay đập, mương và hệ thống

dẫn nước của người Kinh. Tuy nhiên, hệ canh tác này khơng chỉ có ruộng mà còn có

nương, góp phần đa dạng hóa hệ canh tác. Bên cạnh đó, cư dân còn tiến hành hoạt

động chăn ni, sản xuất TCN, săn bắt, nuôi và đánh cá, thu nhặt lâm thổ sản…

Trong khn khổ địa hình khu vực vùng thấp, cư dân tập hợp lại thành thơn, xóm

(người Kinh, Tày, Sán Chay) và các bản (người Thái) với thiết chế chặt chẽ. Trước

đây, trong khu vực vùng thấp chủ yếu thuần một tộc người (người Kinh) về sau này

một bộ phận các tộc người khác nhập cư nhưng cư dân Kinh vẫn là chủ yếu. Trong

tiến trình phát triển, trên cơ sở khai phá vùng thung lũng chân núi của cư dân đã

hình thành nên cánh đồng lớn như cánh đồng Mường Lò thuộc huyện Văn Chấn;

cánh đồng Đơng Cng, Đại Phú - An thuộc huyện Văn Yên và Mường Lay, cánh

đồng Yên Thắng - Liễu Đô - Minh Xuân thuộc huyện Lục Yên. Cùng với ruộng, cư

dân vùng thung lũng chân núi còn có các hoạt động phát triển HST cây hàng năm,

HST vườn rừng, khai thác các nguồn lợi từ rừng khá đa dạng và phong phú.

Trong giai đoạn 2005 - 2016, sự lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông

nghiệp của khu vực vùng thấp được tổng hợp trong bảng 3.1. Theo kết quả khảo sát

từ 80 hộ ở vùng thấp cho thấy loại hình chuyên trồng lúa (lúa xuân - lúa mùa), trồng

màu (đậu đỗ xuân - đậu đỗ mùa) và trồng cây ăn quả (bưởi, nhãn, vải) là phổ biến

nhất, các loại hình này được áp dụng lên tới trên 90% tổng số các hộ ở khu vực

vùng thấp. Loại hình chuyên trồng lúa kết hợp với cây trồng cạn (2 vụ lúa - 1 vụ

ngô) hay chuyên trồng màu (3 vụ rau ) được khoảng 60% - 80% số hộ trong khu

vực lựa chọn. Điều này cho thấy đây là những loại hình sử dụng đất phù hợp và phổ

biến đối với vùng này. Loại hình kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn với công thức



89



luân canh 2 vụ lúa một vụ rau ít được áp dụng nhất, chỉ có khoảng hơn 20% số hộ

trong khu vực lựa chọn. Nguyên nhân do loại hình canh tác này khó chuyển đổi và

mất khá nhiều cơng làm đất. Các loại hình sử dụng đất nơng nghiệp khác được

khoảng 40% - 60% số hộ dân trong khu vực tham gia. Nuôi trồng thủy sản được coi

là thế mạnh của vùng thấp và có gần 80% số hộ lựa chọn. Cá Tầm, cá Trắm đen,

đang là loại vật nuôi mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân. Cá chim trắng, Rơ

phi đơn tính, Trê lai, Mè... đã được người dân rất ưa thích và mở rộng diện tích mặt

nước để ni thả.

Bảng 3.1. Các loại hình sử dụng đất nơng nghiệp chính ở vùng thấp

Mức độ phổ biến

Số hộ lựa chọn Tỷ lệ (%)

1 Chuyên trồng lúa (Lúa nương)

0

0

2 Chuyên trồng lúa (Lúa xuân - Lúa mùa)

80

100,0

3 Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn (Lúa xuân - Lúa

54

67,5

mùa - Đậu đỗ đông)

4 Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn (Lúa xuân - Lúa

44

55.0

mùa - Khoai) đông)

5 Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn (Lúa xuân - Lúa

59

73,8

mùa - Ngô) đông)

6 Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn (Lúa xuân - Lúa

19

24,0

mùa - Rau đông)

7 Kết hợp trồng lúa với thả cá (2 vụ lúa - 1 vụ cá)

39

49,0

8 Chuyên trồng màu (Ngô xuân - Ngô mùa)

55

68,8

9 Chuyên trồng màu (Ngô xuân - Ngô mùa - Ngô

59

73,8

đông)

10 Chuyên trồng màu (Rau xuân - Rau mùa)

45

56,3

11 Chuyên trồng màu (Rau xuân - Rau mùa - Rau đông)

61

76,2

12 Chuyên trồng màu (Khoai lang xuân - Kh.lang mùa)

52

65,0

13 Chuyên trồng màu (Đậu đỗ xuân - Đậu đỗ mùa)

80

100,0

14 Chuyên trồng màu (Lạc xuân - Lạc mùa)

42

52,5

15 Trồng Sắn

47

58,8

16 Trồng Mía

55

68,8

17 Trồng cây ăn quả hàng năm (Chuối)

45

56,3

18 Trồng cây ăn quả hàng năm (Dứa)

42

52,5

19 Trồng cây lâu năm (Chè)

59

73,8

2021 Trồng cây ăn quả lâu năm (Bưởi)

77

96,3

21 Trồng cây ăn quả lâu năm (Cam)

59

73,8

22 Trồng cây ăn quả lâu năm (Mơ mận)

56

70,0

23 Trồng cây ăn quả lâu năm (Nhãn, Vải)

73

91,3

24 Trồng cây LN

80

100,0

25 Trồng cây LN kết hợp với chăn nuôi gia súc

49

61,3

26 Nuôi trồng thủy sản

63

79,0

STT



Loại hình sử dụng đất nơng nghiệp



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra của NCS



90



Bảng 3.2. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở vùng thấp giai đoạn 2005 - 2016

2005



2010



2015



DT(ha)



DT(ha)

55.058,0

0

11.897,0

0

4.957,00



DT(ha)





cấu

(%)



33.066,6

2



100,00



9.353,37



28,29



Đất trồng cây hàng năm

-Đất trồng lúa



4.229,46



45,22



54.409,7

0

11.580,3

0

4.607,50



3.502,36



82,81



2.734,10



Đất chuyên trồng lúa nước

Đất trồng lúa nước còn lại

Đất trồng lúa nương

-Đất trồng cây hàng năm

khác

Đất trồng cây lâu năm

-Đất trồng chè

-Đất trồng cây ăn quả lâu

năm

-Đất trồng cây lâu năm khác



1.770,12

769,01

963,23



50,54

21,96

27,50



727,00



Loại hình sử dụng



ĐẤT NÔNG NGHIỆP

ĐẤT SXNN



So sánh

2016/2005



2016



TĐPT

20052016 (%)



DT(ha)



Cơ cấu

(%)



+,-,(ha)



+,(%)



55.042,00



100,00



21.975,38



00,00



166,46



11.888,00



21,60



2.534,63



-6,69



127,10



4.969,00



41,79



739,54



117,49



2.846,00



2.844,00



57,23



-658,36



2.011,27

642,27

80,56



2.197,05

648,95

0



2.197,00

647,00

0



77,25

22,75

0



426,88

-122,01

-963,23



-3,43

28,58

26,71

0,79

-27,50



16,92



1.830,49



2.113,00



2.113,00



42,77



1.386,00



25,85



290,64



5.123,91

1.742,0



54,78

34,0



6.972,7

2.011,0



6.938,0

1.876,0



6.931,0

1.832,0



58,21

26,43



1.807,09

90,0



3,43

-7,57



135,26

105,16



402,23



7,85



1.095,0



1.073,0



1.069,0



15,43



677,54



7,58



265,76



2.979,38



58,15



3.866,7



3.989,0



4.030,0



58,14



1.050,62



-0,1



135,26



81,20

124,12

84,13

0



Nguồn: Tổng hợp, tính tốn từ số liệu của Phòng Nơng nghiệp huyện Yên Bình



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CÁC DÂN TỘC TỈNH YÊN BÁI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×