Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
phân theo loại hình sử dụng (Tính đến hết năm 2016)

phân theo loại hình sử dụng (Tính đến hết năm 2016)

Tải bản đầy đủ - 0trang

61

phân hóa tạo điều kiện cho huyện có thể phát triển một nền nông nghiệp đa dạng,

tuy nhiên, việc sử dụng đất của tỉnh còn chưa hiệu quả. Một trong những vấn đề cần

lưu ý nhất chính là việc áp dụng các biện pháp canh tác hợp lí để hạn chế q trình

rửa trơi, xói mòn, thối hóa đất.

2.2.3. Khí hậu

n Bái có đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với một mùa đơng lạnh.

Nhiệt độ trung bình năm từ 22ºC - 23ºC, có tới 3 tháng nhiệt độ dưới 18ºC, lượng

mưa trung bình năm đạt từ 1.500 mm/năm - 2.200 mm/năm, thường tập trung từ

tháng V đến tháng IX hằng năm. Mùa khô kéo dài từ tháng X đến tháng IV năm

sau, thời tiết khơ hanh, ít mưa, lạnh, kèm theo các đợt gió mùa Đơng Bắc. Độ ẩm

tương đối trung bình năm từ 83% đến 87%. Mùa mưa từ tháng V đến tháng IX,

nhiệt độ cao, lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa này. Tuy nhiên, do n Bái có

diện tích khá rộng và tính đa dạng, phức tạp của địa hình nên đã hình thành các

tiểu vùng khí hậu khác nhau.

Bên cạnh những đặc điểm trên về khí hậu thì ở n Bái còn có các hiện tượng

thời tiết đặc biệt như sương muối thường xuất hiện ở độ cao trên 600m, càng lên

cao số ngày có sương muối càng nhiều. Hiện tượng này thường xảy ra vào tháng

XII, I, II; mưa đá xuất hiện rải rác ở một số vùng, càng lên cao càng có nhiều mưa

đá. Hiện tượng này thường xuất hiện vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ, thường đi

kèm với hiện tượng dơng và có gió xốy cục bộ.

Nhìn chung, khí hậu Yên Bái cho phép phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp

đa dạng theo những hướng khác nhau. Đặc biệt, có năng phát triển một số loại cây

cơng nghiệp lâu năm, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc theo hướng nông, lâm kết

hợp. Tuy nhiên, những hạn chế về khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan kết

hợp với độ dốc lớn của địa hình sẽ gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trơi tài nguyên

đất, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống. Vì vậy, cần có những biện pháp phòng

chống lú ống, lũ quét, sạt lở, khô hạn, sương muối và cải tiến phương thức sản xuất

mang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

2.2.4. Tài nguyên rừng

Yên Bái là nơi hội tụ của 3 luồng sinh vật: Luồng Bắc Việt Nam - Nam Trung

Hoa, Luồng Ấn Độ - Malaixia và luồng Vân Nam - Himalaya. Nhờ sự đa dạng đó

mà thảm thực vật tự nhiên của vùng rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại

động, thực vật tự nhiên cũng như các loại cây trồng vật nuôi có nguồn gốc khác

nhau. Năm 2016, diện tích rừng của tỉnh đạt 454.822,2 ha, độ che phủ của rừng đạt

62,5%; trong đó diện tích rừng tự nhiên là 245.957,3 ha chiếm 54,1% tổng diện tích



62

rừng của tỉnh, rừng trồng 208.865,5 ha chiếm 45,9%.

- Hệ sinh thái rừng tự nhiên: Hệ sinh thái rừng của Yên Bái khá đa dạng với

nhiều kiểu rừng như: rừng nhiệt đới vùng đồi núi thấp (độ cao dưới 700m), với thành

phần thực vật chủ yếu là các cây họ sến, sui, táu, trò xanh, sấu, dây leo có song, mây….

Kiểu rừng này được phân bố ở khu vực đồi núi thấp thuộc thung lũng sông Hồng, sông

Chảy, trong các bồn địa Văn Chấn, Lục Yên; rừng á nhiệt đới vùng núi trung bình

(700m - 1.700m), với thành phần thực chủ yếu gồm các cây sồi, dẻ… các cây dược liệu

như tam thất, đương quy, hoàng bá, đỗ trọng. Phân bố ở các khu vực như đỉnh núi Con

Voi, các bậc thềm của vùng núi cao ở huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải;

vành vùng rừng cận nhiệt đới núi cao (trên 1.700m), phân bố ở vùng núi cao thuộc dãy

Hoàng Liên Sơn - Pú Lng, Phu Sa Phìn, Phu Chiêm Ban. Đây là kiểu rừng hỗn giao

giữa cây lá rộng như sồi, dẻ, đỗ quyên và cây lá kín như pơ mu, sa mộc, thông, liễu…

Động vật hoang dã trong tỉnh khá đa dạng, theo bảng danh mục động vật có

xương sống trên cạn, đã thống kê được 42 loài quý hiếm ở Việt Nam và 28 loài ở

mức độ bị đe dọa trên tồn cầu. Đặc biệt có 4 lồi: Niệc cổ hung, Gà lơi tía, Vượn

đen, Voọc xám, đang có nguy cơ đe dọa bị tiêu diệt loài ở mức toàn cầu.

- Hệ sinh thái rừng trồng: Với diện tích là 184.495,3 ha, các cây trồng chủ yếu

phục vụ cho mục đích sản xuất lâm nghiệp. Tiêu biểu là các cây keo, bạch đàn cho

lấy gỗ củi và nguyên liệu sản xuất cơng nghiệp giấy.

Ở n Bái, những huyện có diện tích rừng lớn như: Mù Cang Chải, Trạm Tấu,

Văn Chấn, Lục Yên, Văn Yên. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có khu bảo tồn

thiên nhiên Nà Hẩu và khu bảo tồn loài sinh vật cảnh Mù Cang Chải.

Khu bảo tồn Nà Hẩu: Theo kết quả điều tra, thống kê, lập bảng danh mục thực

vật cho thấy bước đầu đã thống kê được 675 loài thuộc 447 chi và 153 họ. Đây là hệ

rừng lá rộng thường xanh còn khá nguyên vẹn, nhiều khe, suối, thác nước chảy

quanh năm. Có sự phân chia rõ rệt của tầng tán và cấu trúc rừng gần như chưa bị

phá vỡ: ở tầng cao nhất là sự nhô lên không liên tục của các cây gỗ lớn thuộc các

lồi như Trám, Chò nâu, Giổi…; ở tầng giữa là tán cây rừng liên tục cao gần ngang

nhau thuộc các loài cây tường xanh như De, Gội, Giẻ,… và đây là tầng ưu thế sinh

thái; tầng dưới phân thành nhiều lớp cao thấp khác nhau, các cây gỗ nhỏ ưa bóng là

thành phần chủ yếu; dưới cùng là tầng thảm tươi với các cây bụi, Dương sỉ, Cau

rừng...; Hiện rừng tự nhiên ở khu bảo tồn vẫn còn trên 30 lồi thực vật khác nhau

với nhiều loại cây gỗ quý hiếm như Pơ mu, Lát Hoa, Giổi… phân bố chủ yếu trên

độ cao 700m trở lên. Hệ động vật trong khu bảo tồn khá phong phú với nhiều lồi

q hiếm vẫn được bảo tồn và gìn giữ. Có 65 lồi trên tổng số 214 lồi động vật có



63

xương sống trên cạn ở khu bảo tồn được xếp vào danh mục động vật quý hiếm nằm

trong Sách đỏ Việt Nam.

Khu bảo tồn loài và sinh vật cảnh Mù Cang Chải (gọi tắt là khu bảo tồn) là

khu bảo tồn điển hình của khu vực Tây Bắc với tổng diện tích trên 20.293,1 ha.

Trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 15.128 ha, diện tích phân khu phục hồi tái

sinh thái là 4.979 ha. KBT nằm trên địa bàn của 5 xã, trong đó có xã Chế Tạo nằm

trong vùng lõi, vùng đệm trải rộng trên các xã Púng Lng, Nậm Khắt, Lao Chải và

Dế Su Phình. Trung tâm khu bảo tồn cách huyện lỵ Mù Cang Chải 40km.

Khu bảo tồn có tính đa dạng cao về thực vật, Theo kết quả điều tra từ 3 đợt

của Tổ chức Bảo tồn động, thực vật Quốc tế (FFI) đã thống kê được khu bảo tồn

loài sinh vật cảnh Mù Cang Chải có 788 lồi thực vật bậc cao có mạch thuộc 480

chi, 147 họ và 5 ngành, trong đó có 33 lồi thuộc diện q hiếm được ghi vào sách

Đỏ Việt Nam và thế giới. Trong đó có 7 loài nằm trong cấp hiếm, 4 loài nằm trong

cấp bị đe dọa nguy cấp, 2 loài nằm trong cấp nguy cấp và có 190 lồi cho gỗ thuộc

54 họ, phần lớn là nhóm gỗ hồng sắc và tạp mộc.

2.2.5. Tài nguyên nước

2.2.5.1. Nước trên mặt

Nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên nguồn cung cấp nước dồi

dào, địa hình chia cắt mạnh nên nguồn nước trên mặt ở Yên Bái rất phong phú, với

hệ thống sông, suối, hồ phân bố dày đặc, mật độ trung bình đạt 1,15km /km²(dày

hơn so với mật độ trung bình của vùng miền núi phía Bắc1,5km/km²). Trên địa bàn

của tỉnh có 2 hệ thống sông lớn chảy qua là sông Hồng và sơng Chảy, ngồi ra còn

hàng trăm ngòi suối lớn nhỏ khác nhau [8], [76], [59].

- Sông Hồng: Bắt nguồn từ dãy núi Ngụy Sơn, độ cao 1.776m, ở tỉnh Vân

Nam, Trung Quốc, là điển hình về hướng Tây Bắc - Đơng Nam. Đoạn sơng Hồng

chảy qua n Bái có chiều dài 100km với lòng sơng rộng từ 100m - 200m, độ dốc

giảm dần, có nhiều bãi bồi ven sơng. Mùa lũ có thể lên tới 20m - 30m nhưng mùa

cạn lại xuống thấp 2m - 3m. Sơng Hồng có những tính chất thuỷ văn của sơng Hồng

khá đặc biệt với một lượng nước dồi dào và một lượng phù sa lớn. Vào mùa mưa từ

tháng 5 đến tháng 10 lưu lượng nước là 4.000m 3/s, vào mùa cạn tháng 11 đến tháng

4 hàng năm lưu lượng nước là 2.000m3/s. Ngồi dòng chính, các chi lưu của sơng

Hồng ở địa phận Yên Bái đều ở hữu ngạn và bắt nguồn từ dãy Hồng Liên Sơn - Pu

Lng như Ngòi Thia, Ngòi Hút…

- Sơng Chảy: bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.419 m) và



64

sườn đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti (2402 m) trên khối núi thượng nguồn sơng Chảy,

phía tây bắc tỉnh Hà Giang, sơng vượt qua tỉnh Lào Cai về Yên Bái qua 2 huyện

Lục Yên và n Bình rồi nhập vào sơng Lơ. Sơng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông

Nam, đoạn sông Chảy chảy qua Yên Bái có chiều dài hơn 60km, các chi lưu chính

nằm ở phía tả ngạn như Ngòi Biệc, Ngòi Đại Kại nằm ở hạ lưu sông Chảy thuộc

huyện Lục Yên đã trở thành lòng hồ Thác Bà.

- Hệ thống ao hồ: Yên Bái có khá nhiều ao, hồ, nhưng tập trung chủ yếu ở 3

huyện là Lục Yên, Trấn n và n Bình. Có nhiều đầm lớn tự nhiên có nguồn gốc

là dòng cũ của sơng Hơng nằm ở các xã Minh Quân, Giới Phiên, Hợp Minh. Đặc

biệt, ở n Bái có hồ Thác Bà trên sơng Chảy là 1 trong 3 hồ nhân tạo lớn nhất Việt

Nam. Hồ có diện tích rộng 19.050 ha, có sức chứa khoảng 3,9 tỷ m³ nước. hồ này

đã tạo ra giá trị rất lớn về thủy điện, thủy lợi, về đánh bắt và ni trồng thủy sản.

Ngồi ra, n Bái còn khoảng 200 con sông, suối và đầm lớn nhỏ khác.

Chế độ thủy văn của các sông hồ trong vùng phụ thuộc chủ yếu vào chế độ

mưa và khẳ năng điều tiết của lưu vực các sông. Lượng nước trên các sông, suối, hồ

trong mùa lũ thường chiếm từ 65% - 77% lượng nước cả năm. Tuy nhiên vào mùa

khô lượng nước các sơng thường cạn.

Ngồi giá trị thủy điện, các sơng trong tỉnh từ xưa đã là nguồn cung cấp nước

cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân…

2.2.5.2. Nước dưới đất

Nguồn nước dưới đất của tỉnh cũng khá phong phú. Các nguồn này đã góp

phần cấp nước sinh hoạt cho nhân dân địa phương. Đặc biệt, trên địa bàn tỉnh còn

có các điểm suối nước nóng như điểm suối nước nóng Bản Co Cọi, xã Sơn A, huyện

Văn Chấn; suối nước nóng Bản Hốc, xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn; Suối nước

nóng Tú Lệ, huyện Văn Chấn…

2.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội

2.3.1. Dân cư và nguồn lao động

2.3.1.1. Dân số

a. Quy mô và gia tăng dân số

- Quy mô

Theo số liệu thống kê năm 2016, tổng số dân của tỉnh Yên Bái là 800.150

người, trong đó nam 399.700 người, nữ 400.450 người, là tỉnh có quy mơ dân số

trung bình đứng thứ 7/15 tỉnh của vùng Trung du và miền núi phía Bắc



65

Bảng 2.2. Dân số tỉnh Yên Bái giai đoạn 2005 - 2016

Năm

Dân số (người)

So với toàn vùng

TDMNPB (%)



2005

719.487



2010

751.286



2015

792.710



2016

800.150



6,04



6,08



6,09



6,09



Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2010, 2015, 2016

- Gia tăng dân số

Bảng 2.3. Gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Yên Bái giai đoạn 2005 - 2016

Năm

2005

2010

2015

2016



Tỉ suất sinh thô

Tỉ suất tử thô

Tỉ suất gia tăng dân

(%o)

(%o)

số tự nhiên (%)

18,81

5,08

1,30

19,80

6,70

1,31

19,05

6,90

1,21

18,99

6,87

1,21

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái năm 2010, 2015, 2016



Yên Bái là một trong những tỉnh có tốc độ gia tăng dân số tự nhiên cao so với

các tỉnh trong vùng Trung du miền núi phía Bắc, song cũng có xu hướng giảm

nhưng giảm chậm từ 1,3% năm 2005 xuống 1,21% năm 2016. Tỉ lệ gia tăng dân số

tự nhiên này vẫn cao và cao tương đương so với mức trung bình của vùng (2016 là

1,23%) và cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên trung bình của cả

nước (1,07%). Ở nhiều huyện trong tỉnh, do trình độ dân trí thấp, cộng với còn

nhiều hủ tục lạc hậu nên tỉ lệ phụ nữ sinh con thứ ba, thứ tư còn nhiều và đây đang

là một áp lực lớn lên KTXH mà tỉnh cần phải giải quyết gấp.

b. Cơ cấu dân số

- Theo độ tuổi: Yên Bái có cơ cấu dân số thuộc loại trẻ, năm 2016 dân số dưới

tuổi lao động chiếm 33,8%, dân số trong độ tuổi lao động chiếm 52,09%, dân số

trên độ tuổi lao động chiếm 13,1%. Đây vừa là thuận lợi (nguồn lao động bổ sung

dồi dào) vừa là khó khăn cho địa phương (việc làm, thất nghiệp, nhà ở...).

- Theo giới tính: Cơ cấu dân số theo giới tính của tỉnh có số nữ và số nam.

Năm 2016, nam giới chiếm tỉ lệ 49,95% và nữ giới chiếm 50,05%, hay tỉ số giới

tính là 100,05%.

- Theo dân tộc: Theo số liệu từ Ban Dân tộc tỉnh Yên Bái, trên địa bàn tỉnh

Yên Bái có tới 31 dân tộc sinh sống, trong đó có 7 dân tộc có dân số trên 10.000

người, có 1 dân tộc có dân số từ 5.000 - 10.000 người, có 1 dân tộc có dân số từ

2.000 - 5.000 người, 3 dân tộc có dân số từ 500 - 2.000 người. Trong đó người kinh

chiếm 45,0%, người Tày chiếm 18,0%, người Dao chiếm 11,5%, người Mông

chiếm 12,3%, người Thái chiếm 7,1%, người Nùng chiếm 2,2%, người Cao Lan

chiếm 1,2%, còn lại là các dân tộc khác.



66

c. Phân bố dân cư

Mật độ dân cư trung bình của tỉnh năm 2016 là 116 người/km², thấp hơn mật

độ dân cư trung bình của miền núi phía Bắc (128,4 người/km²) và bằng 41,4% mật

độ trung bình của cả nước (280 người/km²).

Dân cư phân bố không đồng đều giữa các huyện trong tỉnh. Dân số tập trung

đông ở thị xã Nghĩa Lộ 987 người/km², thành phố Yên Bái 937 người/km², trong

khi đó huyện Trạm Tấu và huyện Mù Cang Chải mật độ dân số lại rất thấp (41 và 47

người/km²), vì đây là các huyện tập trung nhiều rừng đầu nguồn, tập trung khu bảo

tồn các loài sinh vật cảnh nên mật độ tập trung dân cư thấp).

Cộng đồng các dân tộc cũng phân bố rất không đồng đều và có những đặc

trưng riêng, các dân tộc thiểu số tập trung nhiều hơn ở các huyện phía tây (huyện

Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Lục Yên, Văn Chấn). Bốn huyện này chiếm 43,9% dân

số tồn tỉnh, trong đó người Kinh chiếm 20,9%; người Mông 25,6%; người Tày

23,3%; người Thái 11,9%; người Dao 10,0%; Mường 3,2% và còn lại là các dân tộc

khác. Cộng đồng các dân tộc trong tỉnh với những bản sắc và truyền thống văn hóa

riêng đã hình thành nên một nền văn hóa rất đa dạng và phong phú, có nhiều nét

độc đáo, sâu sắc nhân văn. Mỗi dân tộc đều có rất nhiều nhưng tri thức bản địa, tập

quán canh tác riêng trong đời sống và sản xuất.

Nhìn chung, do địa hình chủ yếu là núi cao, hiểm trở khó khăn nên Yên Bái là

tỉnh có mật độ dân số vào loại thưa của cả nước. Mật độ tập trung dân cư ở Yên Bái

chưa bằng ½ mật độ dân số trung bình của cả nước (277 người/km 2). Dân cư phân

bố phân hóa, khơng đều đã gây nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế của tỉnh.



Hình 2.5. Bản đồ phân bố dân cư và dân tộc tỉnh Yên Bái



68

2.3.1.2. Nguồn lao động

- Về số lượng: Tổng số lao động của tỉnh Yên Bái hiện có 508.770 người chiếm

64,18% số dân của tỉnh. Nguồn lao động của Yên Bái có xu hướng tăng lên qua các

năm. Đây vừa là yếu tố thuận lợi vì có nguồn lao động dồi dào nhưng đồng thời cũng

tạo ra áp lực đối với vấn đề việc làm của tỉnh.

- Về chất lượng: Do có sự đa dạng về thành phần dân tộc và dân tộc thiểu số

chiếm tỉ lệ khá lớn (55%), lại sống ở miền núi cao, hiểm trở nên nhìn chung trình độ

dân trí và chất lượng nguồn lao động ở đây còn rất thấp, chủ yếu là lao động khơng có

trình độ chun mơn. Hiện nay, đang có sự chuyển biến theo hướng giảm lao động

khơng có trình độ chun mơn kỹ thuật, thay vào đó có sự tăng số lượng lao động đã

qua đào tạo. Bên cạnh đó, lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên có sự tăng lên,

Tuy nhiên, lực lượng lao động này hầu hết tập trung ở các lĩnh vực cơng nghiệp - dịch

vụ còn ở lĩnh vực nơng, lâm nghiệp tỉ lệ lao động có trình độ là rất ít.

- Cơ cấu lao động theo ngành:

Trong tổng số 508.770,0 người lao động thì lao động trong ngành, nơng, lâm,

thủy sản chiếm 67,1%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 17,5% toàn tỉnh,

ngành dịch vụ chiếm trên 15,4%.

Như vậy cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế của tỉnh ưu thế là nông lâm - thủy sản, các ngành cơng nghiệp, dịch vụ tỉ trọng còn thấp. Điều này gây khó

khăn cho sử dụng lao động trong nơng nghiệp, làm cho mức sống người dân khó

được cải thiện.

Có thể nói, nguồn lao động của tỉnh khá dồi dào, tuy nhiên lao động chủ yếu là

lao động phổ thông, phần lớn lao động làm việc trong các lĩnh vực nông - lâm thuỷ sản chưa qua đào tạo, nên thu nhập thường khơng cao. Đây là khó khăn lớn

của tỉnh trong việc quy hoạch nguồn nhân lực phục vụ cho chiến lược phát triển nền

nơng nghiệp hàng hóa và nông nghiệp công nghệ cao trong tương lai.

2.3.2. Cơ sở hạ tầng

2.3.2.1. Giao thơng

n Bái cũng có mạng lưới đường giao thơng đáp ứng nhu cầu vận chuyển

hàng hóa, hành khách, đảm bảo mối liên hệ giữa các địa phương trong tỉnh, liên

tỉnh, liên vùng tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn.

Đường bộ: Tuy có sự phân bố tương đối hợp lý so với đặc điểm địa hình, song

hệ thống đường bộ ở Yên Bái chưa được hoàn chỉnh, hiện tại chưa có đường tiêu

chuẩn kỹ thuật cao, chủ yếu là các tuyến đường cấp IV, V, VI, nhiều tuyến chưa vào

cấp, hệ thống giao thông nông thôn ở nhiều huyện chưa đảm bảo hoạt động liên tục



69

trong 4 mùa, đặc biệt vào mùa mưa lũ nhiều đoạn đường bị ngập, sạt lở nghiêm

trọng, còn thiếu một số tuyến ngang.

Đường thủy: Gồm 2 tuyến chính: Tuyến sơng Hồng dài 115 km, nhưng trong

đó có 105 km chưa được khai thơng luồng lạch và xây dựng bến cảng, kho bãi để

phát triển, còn lại chỉ có 10 km đoạn Văn Phú - Yên Bái do Trung ương quản lý

được đầu tư hơn; Tuyến hồ Thác Bà dài 83 km, hoạt động ổn định, đặc biệt trên

đoạn đoạn cảng Hương Lý - Thác Bà - Cẩm Nhân với chiều dài khoảng 50 km.

Đường sắt trên tuyến Hà Nội - Lào Cai - Trung Quốc chạy qua Yên Bái dài

83 km nhìn chung phát triển chậm. Gồm 10 ga (1 nhà ga hạng 2; 9 nhà ga hạng 4)

chạy qua địa phận 20 xã, phường, thị trấn. Vận tốc tàu chạy chậm, cơ sở bến bãi,

nhà ga và các hoạt động dịch vụ phục vụ hành khách còn rất hạn chế.

Nhìn chung, mạng lưới giao thơng trên địa bàn tỉnh chưa được hồn chỉnh

khép kín, mới được đầu tư xây dựng các tuyến chính, còn thiếu nhiều tuyến ngang,

chủ yếu là đường có chất lượng trung bình, đặc biệt đường có chất lượng xấu còn

nhiều. Các cơng trình thốt nước, cầu, cống ở nhiều huyện chưa được xây dựng

hoàn chỉnh, tắc về mùa mưa. Điều này đã có nhiều tác động tiêu cực đến phát triển

kinh tế của tỉnh.

2.3.2.2. Hệ thống điện

Trên địa bàn tồn tỉnh có 1.012 trạm biến áp, trong đó chủ yếu là các trạm

biến áp có cơng suất vừa và nhỏ. Cụ thể có 2 trạm biến áp 110/35 KV, công suất

60.000KVA, 11 trạm biến áp 35/10 KV, tổng công suất 36.000 KVA; 4 trạm biến áp

35/6 KV, công suất 15.000 KVA; 2 trạm biến áp 22/6KV, công suất 20.000 KVA;

762 trạm biến áp 35/0,4 KV, tổng công suất hơn 137.000 KVA; 2 trạm biến áp

22/0,4 KV, tổng công suất 1.120KVA; 228 trạm biến áp 10/0,4 KV, tổng công suất

hơn 47.000 KVA. 1 trạm 35/0,22KV với công suất 20 KVA.

Với hệ thống mạng lưới điện như trên thì 90% số dân trong tỉnh được dùng điện

lưới quốc gia, đã có hơn 111 nghìn hộ dân ở khu vực nơng thơn được dùng điện.

2.3.2.3. Thơng tin liên lạc

Ngành bưu chính viễn thông trong những năm gần đây liên tục được đầu tư

nâng cấp về cơ sở vật chất kĩ thuật nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin liên lạc

của mọi tổ chức, cá nhân, đồng thời phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và phát triển

KTXH của tỉnh. Mạng lưới thông tin nội bộ 100% đã được số hóa, 9/9 huyện, thị,

thành phố có tuyến viba và tổng đài điện tử tự động.



70

2.3.2.4. Thủy Lợi

Để phát triển kinh tế nông nghiệp, Yên Bái đã tập trung hàng đầu đến việc đầu

tư hạ tầng thủy lợi. Theo kết quả điều tra đối với các cơng trình có diện tích tưới

trên 1 ha: tồn tỉnh có 2626 cơng trình tưới bao gồm 2450 đập dâng, 160 hồ chứa,

16 trạm bơm, trong đó có 807 cơng trình kiên cố, 1819 cơng trình tạm.

Các cơng trình thủy lợi trong tỉnh đã phát huy việc chống hạn và thoát lũ đối

với sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, do địa hình vùng núi

cao phức tạp, nhiều cơng trình thuỷ lợi xây dựng trên các sườn núi dốc, địa chất

không ổn định, hàng năm các cơng trình thường bị hư hỏng đường mương và cơng

trình trên mương dẫn đến thực trạng vốn đầu tư cao nhưng hiệu quả tưới tiêu vẫn bị

hạn chế nhiều.

2.3.2.5. Hoạt động dịch vụ nông nghiệp

Hoạt động dịch vụ nông nghiệp chưa phát triển mạnh. Điểm bán các loại

giống cây trồng, vật nuôi, các loại phân đạm, kali, thuốc trừ sâu đều có sự tham gia

của các thành phần kinh tế, nhất là các thành phần kinh tế tư nhân nhưng mới tập

chung chủ yếu ở khu thành phố Yên Bái, các trung tâm huyện lị, chưa phát triển ở

trong các thôn bản. Ngành dịch vụ nông nghiệp cùng với hệ thống khuyến nông nhà

nước, các chương trình dự án, doanh nghiệp, một số trường học và viện nghiên cứu

tiến hành các hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ cho nông dân

trong tỉnh về mặt giống và kỹ thuật thông qua các lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất

mới cho nông dân.

Như vậy, tỉnh Yên Bái có đầu tư đầy đủ các điều kiện cần thiết về cơ sở hạ

tầng để phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật

nuôi cho năng suất cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều khó khăn cần khắc

phục như: giao thơng còn hạn chế; nhiều cơng trình thủy lợi đang xuống cấp, hoạt

động chưa hiệu quả, nhiều diện tích đất chưa có cơng trình thủy lợi, cơng cụ và

thiết bị trong sản xuất nông nghiệp chưa hiện đại, cũ và còn thiếu.

2.3.3. Chính sách phát triển nơng, lâm nghiệp

Tỉnh Yên Bái chủ trương xây dựng nền nông nghiệp phát triển tồn diện, bền

vững gắn với xây dựng nơng thôn mới trên cơ sở khai thác, tận dụng tối đa lợi thế

của từng vùng, từng địa phương. Chính vì vậy, tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến

khích phát triển nơng nghiệp tồn diện, tái cơ cấu nội ngành giữa các lĩnh vực trồng

trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp được chú trọng đặc biệt; các nguồn lực đầu tư

cho nông, lâm nghiệp và hệ thống tổ chức quản lý, các tổ chức sự nghiệp trong

ngành nông nghiệp được cơ cấu lại; các dự án thành phần được tập trung xây dựng

để triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả; nâng cao hiệu quả sản xuất hàng hóa



71

dựa trên các ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, tập trung phát triển theo chiều sâu;

Đẩy mạnh tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng để duy trì tăng trưởng, nâng

cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh; cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng

tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản.

2.3.4. Thị trường

- Thị trường nội địa: Các tỉnh thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc là

những thị trường lớn cho việc tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp của tỉnh Yên

Bái. Tỉnh đã cung cấp cho thị trường nội địa một số sản phẩm như các sản phẩm

nông lâm sản, rau quả (gạo nếp Tú Lệ, mật ong rừng, măng, rau cải mèo, các sản

phẩm táo mèo, Mận, các sản phẩm về quế,...), gia súc. Trong những năm gần đây,

cùng với sự đi lên của KT-XH của tỉnh và các vùng lân cận, nhu cầu về sản phẩm

nông sản chất lượng cao ngày càng tăng đã thúc đẩy sự chuyển dịch sản xuất nông

nghiệp của tỉnh theo hướng “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao

giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, sản xuất nông sản hàng hóa cao cấp để đáp

ứng nhu cầu của thị trường. Đây là một lợi thế để sản phẩm nông, lâm nghiệp được

đảm bảo.

- Thị trường quốc tế: Quan hệ xuất nhập khẩu của doanh nghiệp trên địa bàn

tỉnh Yên Bái với các nước chưa được phát triển. Do kinh tế còn nghèo, sản phẩm

hàng hóa làm ra ít, chất lượng thấp nên chủ yếu phục vụ nhu cầu của tỉnh, hoặc các

tỉnh lân cận trong vùng.

2.4. Cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái

2.4.1. Nguồn gốc và đặc điểm phân bố các dân tộc

Cộng đồng các dân tộc ở Yên Bái có 2 nguồn gốc: nguồn gốc bản địa và

nguồn gốc di cư. Dân tộc bản địa gồm tất cả những cư dân đã ở Việt Nam, hay ở

một địa phương nào đó, trước các cư dân thuộc ngơn ngữ khác. Trong đó điển hình

là các dân tộc thuộc nhóm ngơn ngữ Việt - Mường và nhóm ngơn ngữ Mơn - Khơ

Me. Các dân tộc có nguồn gốc di cư là những dân tộc từ nơi khác đến (Trung Quốc,

Lào, Cam Pu Chia…) với những nguyên nhân do chiến tranh, loạn lạc, kiếm sống.

Đó là các cư dân thuộc nhóm ngơn ngữ Mơng - Dao, Tạng - Miến, Hán… Họ đến

Việt Nam vào từ nhiều vùng miền, nhiều nước khác nhau và vào những thời gian

khác nhau nên có những dân tộc được chia thành rất nhiều nhóm địa phương. Tuy

nhiên, họ đã nhanh chóng hòa nhập chung vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Theo

số liệu năm 2016 ở Yên Bái 31 dân tộc đang sinh sống, trong đó người Kinh (Việt)

chiếm số đơng (45,0% dân số). Các dân tộc còn lại chiếm 55% dân số của tỉnh và tuy

có địa bàn cư trú nhất định, nhưng vẫn có sự đan xen ở hầu hết các huyện.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

phân theo loại hình sử dụng (Tính đến hết năm 2016)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×