Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NÔNG, LÂM NGHIỆP TỈNH YÊN BÁI

NÔNG, LÂM NGHIỆP TỈNH YÊN BÁI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh n Bái



55



2.2. Các nhân tố tự nhiên

2.2.1. Địa hình

Với vị trí nằm ở giữa hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc nên Yên Bái là tỉnh có

địa hình chuyển tiếp từ vùng núi cao Tây Bắc thuộc dãy Hồng Liên Sơn - Pu

Lng và dãy núi Con Voi xuống vùng đồi trung du Phú Thọ. Như vậy, địa hình

thấp dần từ Tây Bắc xuống Đơng Nam. Địa hình chủ yếu là đồi núi với độ cao trung

bình tồn tỉnh là 600, nơi có địa hình thấp nhất là cao 20m tại xã Minh Quân và nơi

cao nhất là đỉnh Pu Luông 2.986m [1], [8], [76]. Địa hình khá phức tạp, bị chia cắt

mạnh bởi các dãy núi cao, sông suối và các thung lũng, bao gồm 3 loại chính: địa

hình núi, địa hình đồi và địa hình thung lũng - bồn địa hay còn gọi là khu vực địa

hình vùng cao, vùng giữa và vùng thấp.

- Địa hình núi khá hiểm trở, với độ cao trung bình khoảng 600m trở lên, chiếm

67,56% diện tích tồn tỉnh. Bao gồm các hệ thống núi chạy theo hướng tây bắc đơng nam; hệ thống núi Hồng Liên Sơn - Pu Luông, kẹp giữa sông Hồng và sơng

Đà là một dãy núi trẻ có độ cao trung bình từ 1700 - 2800m, sườn bị chia cắt mạnh

với độ dốc trung bình 40º, có nơi lên tới trên 70º; tiếp đến là hệ thống núi cổ Con

Voi kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy với độ cao trung bình từ 400 - 1150m; và

cuối cùng là hệ thống núi đá vôi nằm giữa sông Chảy và sông Lô, vách dựng đứng,

đỉnh nhọn và độ dốc lớn, độ cao trung bình 400 - 800m. Khu vực này có địa hình

khá hiểm trở nên dân cư thưa thớt, tuy nhiên, vẫn có tiềm năng về đất vùng, lâm

sản, khống sản, có khả năng huy động vào phát triển KT - XH, đặc biệt là phát

triển lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc.

- Địa hình đồi: chủ yếu là đồi núi thấp, có độ cao trung bình dưới 600m, tập

trung ở phía đơng nam của tỉnh, vùng này rất có tiềm năng phát triển nơng nghiệp.

- Địa hình thung lũng - bồn địa: Có đặc trưng theo kiểu hồ cạn địa hình lòng

chảo, có dãy núi bao quanh tạo thành những cánh đồng lớn tương đối độc lập nằm

rải rác trong tồn tỉnh như: Cánh đồng Mường Lò, Đơng Cng, Đại Phú - An, Yên

Thắng - Liễu Đô - Minh Xn, đây là vùng có tiềm năng phát triển nơng nghiệp lớn

nhất, đồng thời cũng là vùng sản xuất lúa tập trung và có điều kiện thâm canh cao

nhất tỉnh Yên Bái.



Tỉ lệ: 1: 500.000



Hình 2.2. Bản đồ phân tầng độ cao địa hình tỉnh Yên Bái



57



2.2.2. Tài nguyên đất

2.2.2.1. Các nhóm đất

Yên Bái có tài nguyên đất khá đa dạng. Theo tiêu chuẩn phân loại của FAOUNESCO và theo bản đồ đất tỉ lệ 1:100.000 của tỉnh Yên Bái thì đất vùng n Bái

được chia thành 6 nhóm với 16 đơn vị đất và 35 đơn vị đất phụ với 649.383,8 ha

chiếm 94,3% diện tích tự nhiên tồn tỉnh [75]. Mỗi nhóm đất có những đặc điểm

riêng với khẳ năng sử dụng khác nhau vào nông - lâm nghiệp.

- Nhóm đất phù sa (P): có diện tích khoảng 9.171,0 ha, chiếm 1,33% diện tích

tự nhiên tồn tỉnh, bao gồm 3 lại đất chính là đất phù sa được bồi (Pb), đất phù sa

không được bồi (Pk) và đất phù sa ngòi suối (Py). Hầu hết ở các huyện trong tỉnh đều

có sự phân bố của nhóm đất phù sa, nhưng phần lớn nhóm đất này tập trung ở lưu

vực các con sông, suối lớn trong tỉnh như sông Hồng, sơng Chảy, ngòi Thia,... bồn

địa Mường Lò - Văn Chấn trở thành cánh đồng phù sa trồng lúa lớn nhất tỉnh vì đây

là khu vực có diện tích tập trung đất phù sa nhiều nhất; bên cạnh đó ở các huyện Văn

n, Trấn n, Lục n, n Bình cũng có các cánh đồng phù sa có diện tích khá

lớn. Lúa, cây màu các loại rất phù hợp để trồng trên nhóm đất này và hiện nay nhóm

đất phù sa của tỉnh đã, đang được đưa vào khai thác, sử dụng cơ bản hết.

- Nhóm đất đỏ vàng (F): Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất tỉnh với khoảng

436.419,2 ha chiếm 63,47% diện tích tự nhiên tồn tỉnh. Nhóm đất này phân bố trên

nền độ cao dưới 1800m ở phần lớn diện tích đồi núi của tất cả các huyện trong tỉnh, tuy

nhiên được trung nhiều nhất vẫn là ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Mù Cang Chải.

Nhóm đất đỏ vàng có khả năng thích hợp trồng cây nông nghiệp, công nghiệp ở vùng

thấp, trồng rừng và bảo vệ rừng ở địa hình đồi vùng cao.

Nhóm đất này có phản ứng chua, độ no bazơ thấp, hoạt tính thấp, thành phần

cơ giới từ trung bình đến nặng, tầng đất mùn dày, độ phì tự nhiên khá cao, thích hợp

vơi nhiều loại cây trồng như chè, ngô, cây ăn quả... Tuy nhiên nhóm đất này dễ bị

rửa trơi, xói mòn nên trồng cây lâu năm, kết hợp nơng và lâm nghiệp.

- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi (H): Nhóm này có diện tích khoảng

158.027,4ha, chiếm 23% diện tích đất tự nhiên của tồn tỉnh. Là nhóm đất có diện tích



58



lớn thứ hai của tỉnh, phân bố ở vùng cao từ 900m - 1.800m ở các huyện Mù Cang Chải,

Trạm Tấu, Văn Chấn, Văn Yên. Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi gồm 3 loại đất: Đất

mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất; Đất mùn vàng trên đá macma axít; Đất mùn vàng

nhạt trên đá cát.

- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): phân bố rải rác ở các huyện

trong tỉnh. Đất được hình thành do sản phẩm phong hóa bị rửa trơi bồi tụ từ trên

vùng đồi núi xuống, tầng đất thường có lẫn đá, nơi thấp thường có tầng glây. Mặc

dù chiếm diện tích khơng lớn (5.229,8 ha, chiếm 0,8% diện tích đất tự nhiên tồn

tỉnh) nhưng phân bố trên địa hình tương đối bằng phẳng, gần nguồn nước, thích hợp

để phát triển nhiều loại cây trồng, đặc biệt là lúa nước. Do vậy, nếu được cải tạo tốt,

đây là nhóm đất có thể phát triển sản xuất nơng nghiệp mang lại hiệu quả.

- Nhóm đất mùn Alit núi cao: có diện tích khoảng 41.267,7 ha chiếm 6,0%

diện tích tự nhiên tồn tỉnh. Phân bố rải rác ở các huyện, nhưng tập trung nhiều ở

các huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn. Đất được hình thành do sản phẩm

phong hóa của đá biến chất vá đá macma cùng với quá trình mùn hóa xảy ra trên địa

hình núi cao ở độ cao từ 1.800m trở lên, phần lớn có độ dốc trên 25º. Đất có thành

phần cơ giới nhẹ, hàm lượng hữu cơ trung bình, đạm khá, lân và kali trung bình.

Nhóm đất này chủ yếu thích nghi và có khả năng khai thác cho trồng cây dược liệu,

trồng, bảo vệ và khoanh ni rừng phòng hộ, bảo vệ mơi trường sinh thái.

- Nhóm đất đen: có diện tích nhỏ với khoảng 273,2 ha chiếm 0,03% diện tích

tự nhiên của tỉnh. Nhóm đất này thường có ở trên các địa hình thung lũng và chân

núi đá vơi; diện tích thường hẹp và được phân bố xen kẽ giữa các loại đất khác. Đặc

điểm của đất này là có hàm lượng mùn cao, tổng cation kiềm trao đổi rất cao. Nhóm

đất đen ở khu vực địa hình trũng thì thích hợp cho trồng lúa, các loại rau màu; ở địa

hình cao thì thích hợp trồng cây ăn quả.

Như vậy sự đa dạng trong nguồn tài nguyên đất của tỉnh sẽ là điều kiện thuận

lợi cho việc đa dạng hóa các sản phẩm nơng nghiệp. Tuy nhiên, do điều kiện địa

hình có độ dốc lớn, chia cắt mạnh; lượng mưa lớn tập trung theo mùa, tập quán canh

tác và trình độ thâm canh còn hạn chế nên chất đất bị ảnh hưởng. Đất dễ bị xói mòn,

rửa trơi, đặc biệt là diện tích đất trống đồi núi trọc.



Hình 2.3. Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Yên Bái



60

2.2.2.2. Cơ cấu sử dụng đất

Bảng 2.1. Thực trạng sử dụng đất đai của tỉnh Yên Bái

phân theo loại hình sử dụng (Tính đến hết năm 2016)

STT

I

1

2

3

4

II

1

2

3

III

1

2

3



Loại hình sử dụng

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Tổng

688.767,0

100,00

Đất nơng nghiệp

588.281,0

85,4

Đất SXNN

119.160,0

20,3

Đất lâm nghiệp

466.681,0

79,3

Đất nuôi trồng thủy sản

2.345,0

0,39

Đất nông nghiệp khác

95,0

0,01

Đất phi nông nghiệp

54.254,0

7,9

Đất ở

5.305,0

9,8

Đất chuyên dùng

17.065,0

31,5

Đất sử dụng vào mục đích khác

31.884,0

58,7

Đất chưa sử dụng

46.232,0

6,7

Đất bằng

622,0

1,4

Đất đồi núi

44.033

95,2

Núi đá khơng có rừng cây

1.577

3,4

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái, 2016



Hình 2.4. Cơ cấu đất vùng của tỉnh Yên Bái phân theo loại

hình sử dụng năm 2016

Theo số liệu thống kê năm 2016, Tổng diện tích đất tự nhiên tồn tỉnh là

688.767,0ha. Trong đó diện tích nhóm đất nơng nghiệp là 588.281,0 ha, chiếm

85,4% diện tích đất tự nhiên; diện tích nhóm đất phi nơng nghiệp là 54.254,0 ha

chiếm 7,9%; diện tích đất chưa sử dụng là 46.233,0 ha chiếm 6,7%.

Trong cơ cấu sử dụng đất của tỉnh, đất lâm nghiệp có tỉ lệ cao nhất, phù hợp

với đặc điểm của một tỉnh vùng núi. Việc sử dụng đất lâm nghiệp ở đây khơng chỉ

có ý nghĩa về kinh tế, mà còn có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo độ che

phủ, hạn chế tai biến thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái.

Tỉ lệ đất sản xuất nông nghiệp tuy thấp nhưng có vai trò quan trọng trong

việc đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra các sản phẩm nơng nghiệp hàng hóa.

Hiện nay đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh đang được sử dụng ngày càng có hiệu quả.

Tỉ lệ đất chuyên dùng và đất ở nhìn chung còn rất thấp so với mức trung bình

của cả nước, trong khi đó tỉ lệ đất chưa sử dụng còn khá lớn. Điều này phản ánh

mức độ khai thác tài nguyên đất vào sản xuất và đời sống của tỉnh còn hạn chế.

Như vậy, tài nguyên đất đa dạng cùng với khí hậu nhiệt đới có mùa đơng lạnh,



61

phân hóa tạo điều kiện cho huyện có thể phát triển một nền nông nghiệp đa dạng,

tuy nhiên, việc sử dụng đất của tỉnh còn chưa hiệu quả. Một trong những vấn đề cần

lưu ý nhất chính là việc áp dụng các biện pháp canh tác hợp lí để hạn chế q trình

rửa trơi, xói mòn, thối hóa đất.

2.2.3. Khí hậu

n Bái có đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với một mùa đơng lạnh.

Nhiệt độ trung bình năm từ 22ºC - 23ºC, có tới 3 tháng nhiệt độ dưới 18ºC, lượng

mưa trung bình năm đạt từ 1.500 mm/năm - 2.200 mm/năm, thường tập trung từ

tháng V đến tháng IX hằng năm. Mùa khô kéo dài từ tháng X đến tháng IV năm

sau, thời tiết khơ hanh, ít mưa, lạnh, kèm theo các đợt gió mùa Đơng Bắc. Độ ẩm

tương đối trung bình năm từ 83% đến 87%. Mùa mưa từ tháng V đến tháng IX,

nhiệt độ cao, lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa này. Tuy nhiên, do n Bái có

diện tích khá rộng và tính đa dạng, phức tạp của địa hình nên đã hình thành các

tiểu vùng khí hậu khác nhau.

Bên cạnh những đặc điểm trên về khí hậu thì ở n Bái còn có các hiện tượng

thời tiết đặc biệt như sương muối thường xuất hiện ở độ cao trên 600m, càng lên

cao số ngày có sương muối càng nhiều. Hiện tượng này thường xảy ra vào tháng

XII, I, II; mưa đá xuất hiện rải rác ở một số vùng, càng lên cao càng có nhiều mưa

đá. Hiện tượng này thường xuất hiện vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ, thường đi

kèm với hiện tượng dơng và có gió xốy cục bộ.

Nhìn chung, khí hậu Yên Bái cho phép phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp

đa dạng theo những hướng khác nhau. Đặc biệt, có năng phát triển một số loại cây

cơng nghiệp lâu năm, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc theo hướng nông, lâm kết

hợp. Tuy nhiên, những hạn chế về khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan kết

hợp với độ dốc lớn của địa hình sẽ gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trơi tài nguyên

đất, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống. Vì vậy, cần có những biện pháp phòng

chống lú ống, lũ quét, sạt lở, khô hạn, sương muối và cải tiến phương thức sản xuất

mang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

2.2.4. Tài nguyên rừng

Yên Bái là nơi hội tụ của 3 luồng sinh vật: Luồng Bắc Việt Nam - Nam Trung

Hoa, Luồng Ấn Độ - Malaixia và luồng Vân Nam - Himalaya. Nhờ sự đa dạng đó

mà thảm thực vật tự nhiên của vùng rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại

động, thực vật tự nhiên cũng như các loại cây trồng vật nuôi có nguồn gốc khác

nhau. Năm 2016, diện tích rừng của tỉnh đạt 454.822,2 ha, độ che phủ của rừng đạt

62,5%; trong đó diện tích rừng tự nhiên là 245.957,3 ha chiếm 54,1% tổng diện tích



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NÔNG, LÂM NGHIỆP TỈNH YÊN BÁI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×