Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC

Tải bản đầy đủ - 0trang

25

nguyên nông nghiệp để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững [25].

Đồng quan điểm với Frank Ellis, Ernst Lutz cũng đã đưa ra khuyến cáo với

các quốc gia, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển rằng: “Trong q trình

phát triển KT-XH ở khu vực nơng thơn, phải đặc biệt coi trọng việc gắn kết hài hoà

giữa phát triển sản xuất với gìn giữ và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường đất,

môi trường nước, môi trường khơng khí và mơi trường rừng. Các quốc gia chỉ có

thể đạt được sự thành cơng trong phát triển KT-XH ở khu vực nông thôn khi và chỉ

khi đi theo hướng phát triển bền vững” [107].

Liên quan đến vấn đề này, Sudhir Anand và Amartya Sen (1996) cũng đã

khẳng định rằng: Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài

nguyên thiên nhiên trong hoạt động sản xuất, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông,

lâm nghiệp là nền tảng cho phát triển bền vững và nâng cao chất lượng môi trường

sống. Để bảo đảm phát triển bền vững các NCS cũng đã đưa ra nhiều điều cần lưu

ý, trong đó đáng quan tâm là: Sử dụng hợp lý đất vùng, bảo về rừng và nguồn tài

nguyên nước, tiết kiệm năng lượng và giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội [105].

Hay theo, Mankin (1998) nói một cách khác, sự phát triển bền vững trong lĩnh

vực nơng, lâm nghiệp, chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động thực vật để

khơng bị suy thối mơi trường, sử dụng kĩ thuận thích hợp, tạo sinh lợi về kinh tế và

chấp nhận được về mặt xã hội và môi trường.

1.1.1.2. Về phát triển nông nghiệp

Nền kinh tế của các nước trên thế giới đều đi lên từ nơng nghiệp, hoặc nơng

nghiệp có vị trí đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia nào đó, vì thế đã có

khơng ít các cơng trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến luận án và các nghiên

cứu này sẽ là những tài liệu bổ ích cho nghiên cứu của luận án và gợi mở những bài

học kinh nghiệm quý giá đối với Việt Nam. Ngân hàng thế giới với tài liệu báo cáo

"Tăng cường nông nghiệp cho phát triển" [44] đã nêu bật nông nghiệp là cơng cụ

phát triển sống còn để đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Báo cáo có độ dài hơn

500 trang, nội dung thể hiện 3 vấn đề chính, đó là: Nơng nghiệp có thể làm gì để

góp phần vào phát triển; công cụ hữu hiệu trong việc sử dụng nơng nghiệp vì sự

phát triển là gì?; làm thế nào để thực hiện tốt nhất các chương trình nghị sự nơng

nghiệp vì sự phát triển. Báo cáo này đã hướng dẫn cho các Chính phủ và cộng đồng

quốc tế khi thiết kế và thực thi các chương trình nơng nghiệp cho phát triển, những

chương trình này có thể đổi cuộc sống cho hàng triệu người đói nghèo, cơ cực ở

nơng thơn.

Peter Oakley et al trong cơng trình nghiên cứu Projects with People: The



26

Practice of Participation in Rural Development Geneva: International Labour

Office, 1991, đã nêu rõ: muốn phát triển KT-XH nông thôn nhanh, theo hướng hiện

đại, con đường đúng nhất là phải phát triển theo hướng bền vững. Trong đó, nghiên

cứu cho rằng việc để người nông dân tham gia vào thực thi, cũng như kiểm tra,

giám sát các chương trình, dự án Phát triển nông thôn là yếu tố cực kỳ quan trọng

cho sự phát triển bền vững của khu vực này [94].

1.1.1.3. Về cộng đồng các dân tộc trong sử dụng TNTN

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, kiến thức bản địa được các nhà nghiên cứu

tập trung chú ý. Qua việc phân tích những thành tựu và thất bại của nhiều dự án phát

triển nông thôn và miền núi tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh họ nhận thấy

rằng: Các kỹ thuật truyền thống có khả năng thích ứng cao với điều kiện mơi trường

tự nhiên cũng như tập quán xã hội, nên việc kết hợp kiến thức bản địa với kỹ thuật

hiện đại là phương pháp tốt nhất để ứng dựng khoa học kỹ thuật mới vào nông thôn

và miền núi. Đối với các dân tộc sống ở khu vực miền núi thì cuộc sống của họ gắn

bó chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên nơi cư trú (đặc biệt là tài nguyên

rừng, đất và khí hậu), nên việc sử dụng những kiến thức bản địa để bảo vệ và sử dụng

bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên được các tộc người rất coi trọng - và đó

cũng là hướng nghiên cứu mà các nhà khoa học, trong đó có khoa học Địa lí rất quan

tâm nghiên cứu trong những năm gần đây.

Trong các dự án phát triển nông nghiệp nông thơn. O.D. Atteh (1992) đã “coi

KTBĐ là chìa khóa cho sự phát triển cấp địa phương” [55]. Ngân hàng thế giới là

một trong các tổ chức quốc tế đã tích cực ủng hộ các chương trình nghiên cứu

KTBĐ nhằm tăng tính hiệu quả cho các dự án phát triển nơng thơn. Hiện nay, trên

thế giới có khoảng trên 3000 chun gia tại khoảng 126 nước hoạt động trong lĩnh

vực nghiên cứu KTBĐ. Một mạng lưới quốc tế nghiên cứu và sử dụng và sử dụng

KTBĐ đã được thành lập năm 1987 thông qua Trung tâm nghiên cứu KTBĐ phục

vụ phát triển nông nghiệp (CIKARD) tại Đại học Iowa State, Hoa Kỳ [108].

Ngồi mục đích làm tăng tính hiệu quả trong phát triển nơng nghiệp và nơng

thơn, quản lí bền vững TNTN và BVMT, nhiều quốc gia còn chú trọng khai thác

dạng tài nguyên này để phục vụ mục đích thương mại, mang lại hiệu quả kinh tế

cao, như trong lĩnh vực y học cổ truyền hay mỹ phẩm...

Năm 1998, tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) đã thiết lập chương trình

“Tri thức bản địa cho sự phát triển” nhằm mục đích học tập từ các hệ thống tri thức

địa phương phục vụ phát triển tại các cộng đồng đó và từ đó mở rộng tính ứng dụng



27

của tri thức này.

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, những vấn đề về tài nguyên, môi trường đã được nghiên cứu

trong vài thập kỷ gần đây, nhất là từ năm 1986 Việt Nam chuyển sang một giai đoạn

đổi mới toàn diện đất nước. Hàng loạt các cơng trình cả về lý thuyết và thực tiễn

nghiên cứu về vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên; về phát triển nông nghiệp; về cộng

đồng các dân tộc trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc biệt là dân tộc

vùng miền núi đã được công bố.

1.1.2.1. Về tài nguyên thiên nhiên

Vấn đề quản lí sử dụng tài nguyên thiên nhiên được nghiên cứu khá chi tiết

trong các cơng trình nghiên cứu của Lê Đức An, ng Đình Khanh [1], Nguyễn

Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức [71], Trần Công Tấu [63], Nguyễn Văn Đạt [23].

Nhờ kết quả nghiên cứu cơ bản về cơ sở địa lí, nhiều vấn đề về thổ nhưỡng, về tài

nguyên rừng, tài nguyên nước đã được kiến nghị trong nhiều tác phẩm của các nhà

địa lí Việt Nam như Lê Bá Thảo [68], Vũ Tự Lập [40]. Những khái niệm cơ bản,

cách quản lí sử dụng về các nguồn tài nguyên như khí hậu, đất vùng, sinh vật,... đã

được diễn giải sâu sắc và toàn diện tại các ấn phẩm của nhiều học giả như: Alaev E.

B [4], Trần Công Tấu [63], Báo cáo về PCI Việt Nam năm 2015, Báo cáo về Quản lí

tài nguyên đất và rừng của Nhóm các nhà tài trợ quốc tế cho Việt Nam.

Việc sử dụng và quản lí các nguồn tài nguyên cũng đã được phân tích sâu sắc và

với nhiều kiến nghị thiết thực của Đào Châu Thu [78], Lê Thông [75], Thái Văn Trừng

[73], Trần Công Tấu [63]. Xu hướng nghiên cứu cụ thể thiết thực ngày càng thu

hút nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu thông qua các luận văn tiến sĩ, thạc

sĩ địa lí.

1.1.2.2. Về phát triển nơng nghiệp

Giáo trình kinh tế nơng nghiệp của Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng - NXB

Thống Kê (2002) và Kinh tế nơng nghiệp của Phạm Đình Vân, Đỗ Thị Kim Chung,

NXB Nơng Nghiệp (2008). Hai giáo trình này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản

của sản xuất nông nghiệp như: Đặc điểm và các nhân tố tác động đến sự phát triển

và phân bố nông nghiệp; lý thuyết kinh tế trong nông nghiệp; các vấn đề phát triển

nông nghiệp bền vững. Đây là những cơ sở lý luận quan trọng trong q trình

nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và phân bố kinh tế nông

nghiệp tỉnh Yên Bái.



28

Địa lý kinh tế - xã hội đại cương của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên),

GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Lê Thơng - NXB ĐHSP Hà Nội (2005); Giáo

trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam của GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Đỗ Thị

Minh Đức - NXB Giáo dục (2003); Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam (phần 1)

của TS Dương Quỳnh Phương - NXB Giáo Dục (2011); Địa lý kinh tế - xã hội Việt

Nam của GS.TS. Lê Thông (chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ, Lê Mỹ

Dung - NXB Đại học Sư Phạm (2012); Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam của PGS.TS.

Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)... Các nghiên cứu trên của các tác giả đã đề cập đến sự

phân bố địa lí của sản xuất nơng nghiệp; vai trò, các điều kiện và đặc điểm phát triển

của nó ở các nước, các vùng khác nhau trên thế giới và ở Việt Nam; các hình thức tổ

chức lãnh thổ nơng nghiệp nói chung và thực trạng tổ chức lãnh thổ nơng nghiệp ở

Việt Nam. Đó là những cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu địa lí nơng nghiệp vào

một lãnh thổ cụ thể, đồng thời giúp tác giả đưa ra được những phân tích, nhận định

quan trọng trong quá trình nghiên cứu thực trạng phát triển nơng nghiệp tỉnh Yên Bái.

Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam của Đặng Văn Phan - NXB Giáo dục,

2008. Tác giả đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ

nông nghiệp: khái niệm, các nhân tố, các hình thức tổ chức lãnh thổ nơng nghiệp

chung và thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Việt Nam. Đây là cơ sở quan

trọng cho tác giả trong việc nghiên cứu thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên

địa bàn tỉnh Yên Bái.

Trên địa bàn vùng miền núi phía Bắc, cũng đã có một số cơng trình nghiên cứu

về lĩnh vực trên, tiêu biểu là: "Những khó khăn trong cơng cuộc phát triển miền núi ở

Việt Nam", (N. Jamieson, Tenry Rambo, L.T. Cúc). "Sự phát triển hệ thống nơng

nghiệp miền núi phía Bắc”, Đào Thế Tuấn. Trần Đức Viên: "Nông nghiệp bền vững,

lối đi cho tương lai" và "Hệ canh tác vùng cao nông nghiệp miền núi". Dương Quỳnh

Phương, “Tác động của cộng đồng các dân tộc đến nguồn tài nguyên thiên nhiên của

vùng Trung du và miền núi phía Bắc” (Đề tài KH và CN cấp Bộ, 2010).

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: "Kết nối sản xuất của hộ nông dân đối

với thị trường khu vực Trung du miền núi Đông Bắc” do TS. Đỗ Quang Giám,

trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội làm chủ nhiệm. Đề tài đã tập trung nghiên cứu

thực trạng sản xuất và tiêu thụ một số nông sản chủ yếu của 3 tỉnh vùng Trung du

miền núi Đông Bắc là: Bắc Giang, Tuyên Quang và Lạng Sơn [28].

1.1.2.3. Về cộng đồng các dân tộc trong sử dụng TNTN



29

Tác giả Hồng Xn Tý (1998) với cơng trình nghiên cứu: "Kiến thức bản địa

của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên", đã cung

cấp hàng chục bài viết liên qua đến cộng đồng các dân tộc trong việc sử dụng tài

nguyên thiên nhiên dựa trên nguồn tri thức bản địa. Đó là những kiến thức về trồng

trọt, chăn nuôi, những kiến thức về quản lí rừng và tài nguyên cộng đồng… của nhiều

dân tộc khác nhau. Cụ thể, ở phần thứ hai của cuốn sách Tác giả Hồng Xn Tý đã

trình bày nhiều bài viết về tri thức bản địa của một số dân tộc với những nội dung khác

nhau như: Bảo vệ nương rẫy và tài nguyên rừng qua luật tục người M'nông;Các giải

pháp canh tác đất dốc của đồng bào Thái đen ở Sơn La; Phân loại đất của người

Cơ Tu (vùng Nam Đông, Thừa Thiên Huế); Bộ giống cây lương thực và rau rừng

của người Chil ở Lâm Đồng; Các giống lúa của các dân tộc Mông, Thái đen; Cách

phân loại ruộng nương truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở Sơn La,… Như

vậy, tác giả Hoàng xuân Tý đã có những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu lí

luận cũng như nghiên cứu thực tiễn về cộng đồng các dân tộc trong việc sử dụng tài

nguyên thiên nhiên thông qua tri thức bản địa.

Tác giả Lê Trọng Cúc cũng có khá nhiều bài viết chuyên sâu về lĩnh vực này, Hệ

sinh thái nông nghiệp trung du miền Bắc Việt Nam [10]; Mối quan hệ giữa kiến thức

bản địa, văn hóa và mơi trường ở vùng núi Việt Nam[64]; Vai trò của tri thức địa

phương đối với phát triển bền vững vùng cao, trong Nông nghiệp trên đất dốc những thách thức và tiềm năng [11]; Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên [14];

Phải khẳng định rằng đây là một tập hợp những nghiên cứu có liên quan trực tiếp hay

gián tiếp đến cộng đồng các dân tộc trong việc quản lí, sử dụng tài nguyên thiên nhiên

vào hoạt động sản xuất nơng, lâm nghiệp. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai

trò của tri thức bản địa đối với sự phát triển bền vững trong sản xuất của đồng bào dân

tộc vùng cao như: tri thức bản địa về canh tác trên đất dốc, tri thức bản địa về hệ sinh

thái nông nghiệp vùng cao; tri thức bản địa về quản lí tài nguyên thiên nhiên…

Tác giả Vương Xn Tình (1998) với cơng trình nghiên cứu:"Tập quán bảo vệ

rừng và nguồn tài nguyên với việc xây dựng qui ước làng bản hiện nay của hai dân tộc

Tày - Nùng ", trong nghiên cứu này đã tìm hiểu những qui ước về bảo vệ rừng và tài

ngun thiên nhiên, những qui ước đó khơng những được nhắc nhở chung trong tồn

cộng đồng mà còn được khẳng định trong nghi lễ cúng thổ thần của làng.

Bên cạnh đó, còn có các cơng trình như: "Vấn đề quản lý, sử dụng, bảo vệ môi

trường tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc thiểu số Việt Nam" của Hồng Hữu Bình



30

(2003); "Truyền thống sở hữu và sử dụng đất vùng của các dân tộc thiểu số Việt Nam"

của Vương Xuân Tình và Bùi Minh Đạo,...

PGS.TS Lê Du Phong, PTS. Hoàng Văn Hoa: “Phát triển KT-XH các vùng dân

tộc và miền núi theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố”, NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội 1998. Cơng trình nghiên cứu này đã tập trung phân tích thực trạng phát triển

KTXH và môi trường của các vùng miền núi và dân tộc ở Việt Nam, đặc biệt là những

khó khăn, bất cập, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững (nhất là vùng miền

núi phía Bắc). Trên cơ sở đó cơng trình nghiên cứu đã đề xuất một hệ thống các giải

pháp đồng bộ nhằm giúp các vùng này tháo gỡ khó khăn để phát triển nhanh và theo

hướng bền vững trong q trình thực hiện cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá [49].

1.1.3. Những nghiên cứu ở tỉnh Yên Bái

Nhằm khai thác những lợi thế về tự nhiên và KT-XH phục vụ mục đích phát

triển lâu dài của tỉnh thì UBND tỉnh Yên Bái đã xây dựng nhiều kế hoạch, quy hoạch:

Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Yên Bái đến năm 2010 và tầm nhìn

đến năm 2020 đã định hướng quy hoạch địa phương theo hướng khai thác thế mạnh

lâm nghiệp của tỉnh miền núi, đồng thời mở rộng và tăng diện tích cây hoa màu,

lương thực trong điều kiện quỹ đất nông nghiệp hạn chế của 2 vùng kinh tế chính

mà ranh giới tự nhiên là thung lũng sông Hồng; tiếp theo quy hoạch tổng thể là các

quy hoạch kinh tế ngành của UBND tỉnh Yên Bái, Quy hoạch tổng thể phát triển

ngành nông nghiệp tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006 - 2020, Quy hoạch sử dụng đất đến

năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kì đầu (2011 - 2015) tỉnh Yên Bái; Quy

hoạch phát triển 3 loại rừng tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 - 2020; Quy hoạch trồng

lúa nước tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020, các quy

hoạch này là yếu tố đầu vào quan trọng cho nội dung phân tích và đánh giá sử dụng

tài nguyên đất và rừng để của cộng đồng các dân tộc để phục vụ cho mục đích thực

tiễn của tỉnh Yên Bái.

Bên cạnh các quy hoạch của UBND tỉnh còn có nhiều cơng trình nghiên cứu

rất có giá trị là cơ sở thực tiễn phục vụ cho việc phát triển KT-XH của địa phương:

Yên Bái một thế kỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Lương Văn Phượng

(1996) đã nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ ở Yên

Bái”, luận án đã thể hiện rõ thực trạng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của

Yên Bái trong thập kỉ 90. Nguyễn Đình Giang (2006) đã nghiên cứu “Cảnh quan

rừng trong sự biến đổi và diễn thế nhân tác các cảnh quan tự nhiên - nhân sinh ở

Yên Bái”, thực chất là phân tích biến động hiện trạng sử dụng đất tỉnh Yên Bái giai



31

đoạn 1995 - 2005, trong đó nhấn mạnh vai trò nhân tác của con người trong việc

tăng diện tích rừng trồng phục vụ mục đích phòng hộ và phát triển sản xuất; n

Bái: Đất và người trên hành trình phát triển, thuộc dự án Gương mặt Việt Nam

(NXB Văn hóa thơng tin và cơng ty văn hóa trí tuệ Việt, Hà Nội 2006); Thời gian

gần đây có một số đề tài được thực hiện do nhu cầu thực tiễn của địa phương:

“Điều tra, đánh giá tài nguyên đất nông nghiệp làm căn cứ khoa học để đề xuất cây

trồng hợp lí cho huyện Văn n, Trấn n và n Bình tỉnh n Bái”, cơng trình

thực hiện do viện thổ nhưỡng nơng hóa, Bộ Nơng nghiệp và phát triển nông thôn

tiến hành điều tra (2005); Đề tài “Nghiên cứu tiềm năng và hạn chế về đất vùng làm

cơ sở đề xuất các giải pháp tác động nhằm ổn định, nâng cao năng suất và chất

lượng chè tỉnh Yên Bái” do UBND tỉnh Yên Bái phối hợp với Bộ Nông nghiệp và

phát triển nông thôn thực hiện (2009); Xác lập luận cứ khoa học nhằm lựa chọn

giải pháp phát triển kinh tế rừng trồng tỉnh Yên Bái đến năm 2020 do UBND tỉnh

Yên Bái phối hợp với Viện khoa học Nơng, lâm nghiệp miền núi phía Bắc thực hiện

(2009); “Nghiên cứu sử dụng hợp lí tài nguyên đất phục vụ phát triển chè Shan

tuyết gắn với du lịch sinh thái ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái”, kết quả nghiên cứu

đã phân hạng và đánh giá mức độ thích hợp đất vùng đối với cây chè vùng đất dốc

và sử dụng hợp lí tài nguyên đất dốc để phát triển chè Shan tuyết gắn với du lịch

sinh thái ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái ; Cơng trình nghiên cứu : "Giải pháp

nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012 2020", Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Thái Ngun. Cơng trình nghiên cứu cho

thấy hiện trạng sử dụng tài nguyên đất ở tỉnh Yên Bái còn nhiều hạn chế, chưa mang lại

hiệu quả sử dụng đất cao. Luận án đã đề xuất một số giải pháp về sử dụng đất nông

nghiệp trên địa bàn tỉnh để nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, giúp người dân người dân sử

dụng đất nông nghiệp hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống [3].

Nghiên cứu về cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái cũng có một số cơng trình

tiêu biểu. Cuốn sách “n Bái nơi hội tụ của đồng bào dân tộc” (1996), Nxb Văn

hóa Dân tộc của tác giả Hà Lâm Kỳ đã có những nghiên cứu về những nét đặc trưng

cơ bản của các dân tộc Yên Bái, trong đó có nói đến đồng bào dân tộc Dao. Cuốn

sách “Tỉnh Yên Bái một thế kỷ (1900 - 2000)” do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái biên soạn dưới dạng thông sử đã thể hiện khá rõ nét

và toàn diện về con người và lịch sử Yên Bái, trong đó có giới thiệu những nét cơ

bản về dân tộc Dao ở tỉnh Yên Bái. Nghiên cứu về địa bàn cư trú, các nhóm người

Dao, nét văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động kinh tế ở Yên Bái còn có trong các



32

báo cáo, tài liệu như “Lịch sử Đảng bộ Yên Bái”, Địa chí Yên Bái... cùng các bài

báo trong trang báo điện tử Yên Bái (baoyenbai.com.vn)... Bài viết “Tri thức bản

địa của người Dao ở Yên Bái” (2009), Tạp chí Văn hóa văn nghệ, số 300 của tác

giả Lê Thanh Hòa đã đề cập tới địa bàn cư trú và những tri thức dân gian của người

Dao trong hoạt động canh tác nông - lâm nghiệp, trong việc sử dụng và giữ gìn

nguồn nước cùng một số nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến các hoạt động sản xuất

của người Dao...

Như vậy, mỗi cơng trình xuất phát từ những cách tiếp cận và yêu cầu thực

tiễn khác nhau, tuy nhiên khi nghiên cứu về địa lí học mà cụ thể là nghiên cứu về sử

dụng tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái thông qua hoạt

động sản xuât nông, lâm nghiệp nói chung còn chưa có cơng trình nổi bật, chun

biệt theo hướng này. Trong các nghiên cứu nói trên, cũng nhận thấy bộc lộ những

vấn đề cần làm rõ. Đó là: (i) Việc nghiên cứu sử dụng về nguồn tài nguyên đất và

rừng mới chỉ dừng lại ở các con số thống kê, chưa đi sâu đánh giá, phân tích những

biến động đó, nó có ảnh hưởng như thế nào đến mơi trường sinh thái cũng như q

trình phát triển KT-XH ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực. (ii) Nội dung quản lí sử

dụng, qui hoạch sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp

vẫn mới chỉ phác họa nên nhưng nét lớn, chưa có những chỉ dẫn cụ thể, thiết thực.

Mơ hình sử sụng, quản li còn chung chung, khái qt, khó vận dụng trong thực tiễn

miền núi; (ii) Vấn đề quản lí, sử dụng đất và rừng chưa gắn với động lực tăng

trưởng kinh tế, thức đẩy năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường; (iv) Nhiều

vấn đề bức thiết liên quan tới quản lí, sử dụng đất và rừng thường là nguyên nhân

dẫn tới sự phức tạp trong nhiều quan hệ xã hội trong công đồng, giữa người dân với

nhà nước, các doanh nghiệp...

1.2. Cơ sở lí luận

1.2.1. Tài nguyên thiên nhiên

1.2.1.1. Khái niệm

Có nhiều nghiên cứu về tài ngun thiên nhiên, vì vậy đã có nhiều khái niệm

khác nhau về tài nguyên thiên nhiên được đưa ra, nội dung cơ bản đều đề cập đến

mối quan hệ giữa trình độ hoạt động sản xuất của con người trong việc khai thác tự

nhiên, điển hình có các khái niệm sau:

“Tài nguyên thiên nhiên đó là các thành phần của tự nhiên mà ở trình độ nhất

định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể sử dụng

làm phương tiện sản xuất (đối tượng lao động và tư liêu lao động) và đối tượng tiêu

dùng’’ [54]. Tài nguyên thiên nhiên là tất cả những gì có trong tự nhiên (chính là



33

ĐKTN) được con người khai thác, sử dụng để phục vụ hoạt động sản xuất, thỏa

mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình [32]. Theo D.L.Armand, “Tài nguyên

thiên nhiên là các nhân tố tự nhiên được sử dụng vào phát triển kinh tế làm phương

tiện tồn tại của xã hội loài người” [33].

Như vậy, tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được

hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các

nhu cầu trong cuộc sống, hay được hiểu như là nguồn vật chất hữu ích có sẵn trong

tự nhiên để cung cấp cho nhu cầu KT-XH loài người và sinh vật.

1.2.1.2. Phân loại tài nguyên thiên

Có nhiều cách phân loại tài nguyên thiên nhiên, dưới đây là nhóm 3 cách phân

loại tài nguyên thiên nhiên khác phổ biến. Trong mỗi nhóm cách lại có các kiểu

phân loại khác nhau.

- Phân loại tài nguyên thiên nhiên với mục đích quản lí:

+ Theo các thuộc tính tự nhiên của chúng thì tài nguyên thiên nhiên được phân

biệt thành tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên thực vật, tài nguyên động vật,

tài ngun khống sản, tài ngun khí hậu.

+ Theo tính chất khai thác, tài nguyên thiên nhiên được phân biệt thành tài

nguyên khai thác tiêu hao (extractive) và không tiêu hao (non-extractive).

+ Theo tính chất sử dụng, tài nguyên thiên nhiên được phân biệt thành tài

nguyên khai thác và tài nguyên dự trữ.

+ Theo bản chất tồn tại, tài nguyên thiên nhiên được phân biệt thành thài

nguyên tái tạo (renewable) và tài nguyên không tái tạo (non-renewable)

- Phân loại tài nguyên thiên nhiên với mục đích đánh giá kinh tế tài nguyên

Đối với khoáng sản, đánh giá kinh tế tài ngun khơng phức tạp dưới dạng

hàng hóa dựa vào các chỉ tiêu công nghiệp của quặng, quy mô mỏ và điều kiện khai

thác…, giá trị của một hệ sinh thái (rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn) hay tài

nguyên địa hệ chứa đựng cả tài nguyên sinh vật và phi sinh vật (trừ khoáng sản)

được đánh giá dưới dạng hàng hóa và dịch vụ.

Giá trị kinh tế tài nguyên của một hệ được coi là giá trị kinh tế tồn phần gồm

hai nhóm: giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng. Giá trị sử dụng gồm hai kiểu: giá

trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp.

- Phân loại tài nguyên với mục đích kiểm kê, đánh giá tiềm năng.

+ Tài nguyên sinh vật: Đa dạng sinh học (đa dạng hệ sinh thái, nguồn gen và

nguồn gốc khu hệ) và tiềm năng nguồn lợi khu hệ (tổng nguồn lợi sinh vật có giá trị

cho phép con người khai thác phù hợp với khả năng tái tạo và duy trì tính bền vững



34

của tài nguyên).

+ Tài nguyên phi sinh vật: khoáng sản (kim loại, phi kim loại, vật liệu xây

dựng, đá quý, nước khoáng…), tài nguyên nước (nước ngầm, nước trên mặt), tiềm

năng phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng,…

Trong 3 nhóm cách phân loại tài ngun trên thì nhóm cách phân loại tài

nguyên với mục đích quản lí là phổ biến hơn cả. Trong nhóm cách đó, kiểu phân

loại tài nguyên thường được sử dụng nhất lại là kiểu phân loại theo tính chất khai

thác, tức là theo tính có thể bị hao kiệt (tiêu hao-extractive) của tài nguyên thiên

nhiên trong q trình sử dụng.

1.2.1.3. Vai trò của tài ngun thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quan trọng của môi trường đối với hoạt

động kinh tế. Khi lồi người mới bắt đầu được hình thành thì sự tiến hóa của giới tự

nhiên đã chuẩn bị sẵn sàng những nguồn tài nguyên cần thiết để xã hội loài người

sinh thành, phát triển. Sự thay đổi phương thức sản xuất cũng chính là sự thay đổi

trong cách thức tác động vào tự nhiên, như vậy tài nguyên thiên nhiên chính là đối

tượng ban đầu của q trình sản xuất, hay có thể nói tài nguyên thiên nhiên là cơ sở

tự nhiên của quá trình sản xuất [54].

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vô cùng quý giá và không thể thiếu

đối với sự phát triển của xã hội lồi người. Thực chất của q trình sản xuất là quá

trình khai thác và sử dụng các loại tài nguyên. Trong thời kỳ xa xưa khi con người

còn tồn tại trong nền kinh tế tự nhiên, con người chỉ biết sử dụng những sản phẩm

có sẵn trọng tự nhiên, chủ yếu là các động vật hoang dại trên cạn và dưới nước để

làm nguồn thức ăn. Dần dần khi con người biết làm nơng nghiệp, thì đất và nước trở

thành nguồn tài nguyên quan trọng. Sự ra đời của các ngành công nghiệp dẫn đến

việc khai thác mạnh mẽ các tài ngun khống sản.

1.2.1.4. Quản lí tài ngun thiên nhiên

Trong q trình phát triển kinh tế con người có thể tác động quá mức tới tài

nguyên thiên nhiên, làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái và cạn kiệt,

ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bèn vững KT-XH của các thế hệ tương

lai. Vì vậy, quản lý tài nguyên thiên nhiên là việc làm hết sức có ý nghĩa, cụ thể là

quản lý các nguồn lực tự nhiên như đất, nước, thực vật, động vật, khoáng sản.

Quản lý tài nguyên thiên nhiên hoạch định ra các kế hoạch, đưa ra cụ thể các

phương hướng chiến lược với các biện pháp quy hoạch phù hợp nhất, cùng với đó là

các chế tài nghiêm khắc giúp cho cơng việc quản lí, khai thác, sử dụng và tái tạo tài

nguyên thiên nhiên được diễn ra một cách hợp lý, đúng đắn nhằm đưa về lợi ích tối ưu



35

cho quốc gia và toàn cầu, đồng thời phải hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm đến môi

trường trong việc sử dụng tài nguyên.

Quản lý tài nguyên thiên nhiên còn tập trung đặc biệt vào sự hiểu biết các tài

nguyên mang tính khoa học và kỹ thuật, sinh thái học và khả năng hỗ trợ sự sống

của các tài nguyên đó. Mỗi loại tài ngun, lại có hình thức và giải pháp quản lý

khác nhau:

1.2.1.5. Đặc điểm của tài nguyên đất và rừng

a. Đặc điểm tài nguyên đất

- Đất vùng là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế

Nếu như các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng sẽ bị hỏng hóc

hoặc hao mòn thì đối với tài nguyên đất vùng lại ngược lại. Tài nguyên đất vùng

nếu có biện pháp sử dụng khoa học, hợp lý sẽ lại càng tốt hơn. Đặc điểm này có

được là do đất vùng có độ phì nhiêu. Tùy theo mục đích khác nhau, người ta chia độ

phì nhiêu thành các loại khác nhau. Như vậy, nét đặc biệt của loại tư liệu sản xuất

này chính là sự khác biệt so với các tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng.

Từ đặc điểm này cho thấy trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cần phải quản

lý đất vùng một cách chặt chẽ, theo quy định của Luật đất vùng; đất vùng phải được

phân loại một cách chính xác; sản xuất nơng nghiệp phải bố trí một cách hợp lý;

tăng năng suất đất vùng, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất bằng cách thực hiện chế độ

canh tác thích hợp [16].

- Diện tích đất là có hạn

Diện tích đất là có hạn do giới hạn của từng nơng trại, từng hộ nông dân, từng

vùng và phạm vi lãnh thổ của từng quốc gia. Khả năng có hạn của hoạt động khai

hoang, khả năng tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể cũng là biểu hiện sự giới hạn

về diện tích đất nơng nghiệp. Do nhu cầu ngày càng cao về đất vùng của q trình

đơ thị hóa, cơng nghiệp hóa, nhu cầu đất ở khi dân số ngày một gia tăng đã làm cho

quỹ đất nông nghiệp vốn đã có hạn thì ngày càng trở nên khan hiếm. Đặc điểm này

ảnh hưởng lớn đến khả năng duy trì và mở rộng quy mơ sản xuất nơng nghiệp.

Diện tích đất vùng là có hạn khơng có nghĩa là mức cung về đất vùng trên thị

trường là cố định. Mặc dù quỹ đất vùng là có hạn nhưng đường cung về đất vùng

trên thị trường vẫn là một đường dốc lên thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa giá

đất và lượng cung về đất [16].

- Vị trí đất vùng là cố định

Đối với đất vùng việc di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác là khơng thể



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×