Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.2: Sự xê dịch quá mức theo hướng trước sau của xương chày trên xương sên trong test ngăn kéo trước cho thấy bệnh nhân có một chấn thương dây chằng sên gót trước.

Hình 3.2: Sự xê dịch quá mức theo hướng trước sau của xương chày trên xương sên trong test ngăn kéo trước cho thấy bệnh nhân có một chấn thương dây chằng sên gót trước.

Tải bản đầy đủ - 0trang

63



Hình 3.3: Test nghiêng xương sên (test ép lật trong) lượng giá sự tồn vẹn

của dây chằng gót mác. Test này có lẽ được thực hiện bằng một giá đỡ hoặc

bàn tay bằng chì có bán ngồi thị trường khi thực hiện chụp x quang. Lật

trong bàn chân trong khi một tay cố định xương chày, tay kia giữ khớp dưới

sên.

Lúc quan sát, tìm chỗ sưng ở mắt cá trong và mắt cá ngoài. So sánh các

điểm mốc với những điểm tương ứng ở chân đối diện. Nếu có sự biến dạng có

nghĩa là bị sưng hay chảy máu tại chỗ và giúp cho việc xác định vùng tổn

thương. Ngoài ra, da đổi màu chứng tỏ chảy máu ở trong tổ chức. Đổi màu ít

nghĩa là tổn thương một phần dây chằng, còn mất màu nhiều thường là có gẫy

xương hay tổn thương dây chằng lan rộng hơn.

Sờ trên vùng đau nhức sẽ giúp khu trú cấu trúc bị tổn thương. So sánh

các cử động thụ động của cổ chân bị thương với cổ chân bên lành. Nếu có

tiếng lạo sạo thường là có gẫy xương. Một thao tác có ích là "dấu hiệu kéo về

phía trước". Tiến hành thao tác này như sau: bàn chân bị thương đặt ở tư thế

gấp về phía gan chân, một tay cố định xương chầy, tay kia đặt ở sau gót, và bàn

chân kéo ra phía trước. So sánh với bên lành, nếu chuyển động ra trước thái

quá, điều đó nói lên dây chằng mác sên trước bị đứt.



64

Chụp X-quang không cần thiết đối với đa số các tổn thương cổ chân. Chỉ

định chụp X-quang cho các trường hợp sau đây : (a) Ngay sau khi bị thương,

bệnh nhân không thể mang nổi trọng lượng của mình; (b) Cổ chân thấy sưng

to và đổi màu ngay sau khi bị thương tích; (c) Đau dữ dội khi vận động hay sờ

nắn vào cổ chân và các vùng mà bạn cho rằng bị chấn động nhiều nhất sau khi

bị thương tích; (d) Có tiếng lạo sạo khi sờ nắn hay vận động cổ chân; (e) Những

trường hợp có thể gây kiện cáo, chẳng hạn tai nạn do xe cộ, bị thương ở nơi

công cộng,…

3.1.2. Phương pháp điều trị, phục hồi chấn thương khớp cổ chân.

Điều trị tổn thương cổ chân bao gồm hai giai đoạn. (a) Chǎm sóc cấp

tính nhằm làm dịu đau và giảm sưng, (b) Phục hồi chức nǎng.

Chǎm sóc cấp tính

Việc điều trị thường lệ tập trung vào bǎng ép, chườm đá lạnh, nâng

chân cao, chống đau, sử dụng dây đeo, nẹp kim loại, hướng dẫn cách dùng

nạng. Tuỳ mức độ tốn thương mà thay đổi việc sử dụng cách điều trị nào trong

số trên.

Bǎng ép và nâng cao chân sẽ hạn chế việc rỉ máu và dịch ngoài tế bào xung

quanh vết thương. Với cách giảm sưng, các biện pháp này giúp vết thương

mau lành hơn. Thường thường bǎng chun dãn được dùng để bǎng ép, chẳng

hạn khǎn chồng hình con bài "át", áp lực tổng cộng lên cổ chân tuỳ thuộc vào

độ kéo và số vòng cuốn xung quanh cổ chân. Nếu ép không đúng và quá mạnh

lên cổ chân thì phù có thể xuất hiện ở cạnh chỗ bǎng bó. Nâng cao chân bị

thương sẽ thúc đẩy việc trở về của máu tĩnh mạch vì giảm áp lực tĩnh mạch ở

ngọn chi dưới, do đó sẽ làm giảm phù. Khi ngồi, bệnh nhân phải ở tư thế cổ

chân được nâng lên tới mức xương chậu. Một phương pháp có hiệu quả là kết

hợp chườm lạnh và ép, bằng cách nhúng một hoặc vài bǎng hình con "át",



65

trong nước đá rồi áp ngay vào cổ chân sau khi bị chấn thương. Bǎng buộc vào

cổ chân sau khi cuốn một hai vòng rồi đặt vào trong bǎng một ít đá. Sau khi lấy

đá lạnh ra, có thể tiếp tục bǎng khơ.

Lựa chọn nạng thích hợp và hướng dẫn cách sử dụng đúng có tầm quan

trọng đặc biệt đối với việc điều trị và phục hồi chức nǎng. Nạng chỉ giúp bệnh

nhân di chuyển an toàn trong thời kỳ dưỡng bệnh nếu nó được sử dụng đúng.

Nếu nạng quá ngắn đối với bệnh nhân thì sẽ khơng có tác dụng mang trọng

lượng cơ thể. Đơi nạng q dài ǎn khít vào hố nách sẽ làm cǎng nách và có thể

gây ra tổn thương thần kinh-cơ. Việc điều chỉnh cho thích hợp cần được thực

hiện bởi nhân viên có kinh nghiệm.

Vì đi lại sớm là yếu tố then chết để hồi phục nhanh và hoàn toàn sau khi

bị tổn thương cổ chân, đeo cổ chân sao cho vẫn gập về phí mu chân và cả về

phía gan bàn chân, nhưng hạn chế xoay vào trong hay ra ngồi thì rất tốt. Dây

đeo ép bơm hơi rất hữu dụng vì nó đủ chắc để giữ lực phía bên và giữa, trong

khi vẫn có thể thích nghi về giải phẫu học khớp cổ chân và giảm phù nề. ở

những bệnh nhân có tổn thương độ I và II, đi lại thường có thể bắt đầu ngay từ

khi có thể đứng được mà khơng thấy đau. Ngồi ra, vì dây đeo có thể tháo ra

một cách nhanh chóng nên đắp đá lạnh hay nóng cũng rất dễ dàng.

Một điều quan trọng về điều trị nhưng thường khơng chú ý là phải chǎm

sóc liên tục và đầy đủ. Sau khi đánh giá sơ bộ, bệnh nhân cần được thǎm khám

lại vào 48 giờ sau và một đến hai tuần sau khi bị thương.

Việc đánh giá lại tổn thương là phải khẳng định chắc chắn rằng bong gân

đang lành và bệnh nhân đang chấp hành những điều cǎn dặn.

Phục hồi chức nǎng

Việc chuyển từ giai đoạn cố định sang giai đoạn phục hồi chức nǎng là

một quá trình từ từ. Ngay khi thấy khơng còn đau lúc nghỉ, có thế bắt đầu tập



66

vận động dần và thường được tập tǎng dần lên với xoa lạnh hay nóng. Dần dần

bệnh nhân tiến lên đi bộ hay chạy. Khi dây chằng đang lành, giữ trương lực cơ

tốt sẽ hỗ trợ thêm cổ chân. Như vậy, phục hồi chức nǎng nhằm giữ trương lực

cơ bằng cách sử dụng những luyện tập đặc biệt.

Cũng như việc điều trị cấp tính, những luyện tập phục hồi chức nǎng

phụ thuộc vào mức độ tổn thương. Với tổn thương độ I, phục hồi bắt đầu

trong lần đến khám đầu tiên. Bệnh nhân thực hiện đi nạng và được hướng dẫn

lự giữ trọng lượng cơ thể một phần. Điều này giúp duy trì sức mạnh của các cơ

gấp và cơ duỗi. Sau 48 giờ, bệnh nhân được hướng dẫn vận động nhiều hình

thức và tập luyện đẳng trường (isometric exercises).

Các tập luyện đẳng trường cũng có thể được bắt đầu. Bản thân khớp cổ

chân không di chuyển trong quá trình tập luyện, nhưng lực tác động qua bàn

chân y như có thể di chuyển cổ chân theo hướng đặc biệt đó.

Với những tổn thương độ II, không chấp nhận việc mang trọng lượng cơ

thể trong khoảng 48 giờ hay cho đến khi đứng khơng còn thấy đau nữa. Vào

lúc đó, khuyến khích mang trọng lượng một phần với nạng. Cũng như với tổn

thương độ I, nếu thấy khó chịu hay sưng thì dừng lại các luyện tập đẳng

trương. Một khi đau và sưng giảm xuống, thường trong ít ngày, luyện tập đẳng

trường có thể bắt đầu như đối với tốn thương độ I.

Xử trí các tổn thương cổ chân độ III phải thực hiện theo ý kiến các

chun gia chỉnh hình thích hợp.

Trong q trình nghiên cứu trên 44 hồ sơ bệnh án có chẩn đốn chấn

thương khớp cổ chân đơn thuần hay kết hợp, luận án tổng hợp được những

phương pháp, phác đồ chủ yếu sau đã sử dụng để điều trị, phục hồi chấn

thương khớp cổ chân cho vận động viên và người tập thể thao.

Bước 1. Thăm khám, chẩn đoán và phân loại chấn thương khớp cổ chân.



67

Bước 2. Tùy theo chẩn đoán, bệnh nhân nhập viện được chia làm 2

nhóm: điều trị ngoại khoa và điều trị nội khoa, vật lý trị liệu phục hồi chức

năng. Trong số các bệnh án luận án tiếp cận được, phần lớn là điều trị bảo tồn,

nên phác đồ sử dụng chỉ dùng cho các trường hợp bị chấn thương độ I và độ

II, cùng với một số chấn thương kết hợp không quá phức tạp.

Bước 3. Phương pháp, phác đồ điều trị cho bệnh nhân không phẫu

thuật.

a) Các bài tập Isometric.

Bài tập với khớp xương bất động (isometric exercise, ISME): tạo ra sức

căng cơ nhưng không thấy cử động tại khớp xương (no visible joint

movement).

Các bài tập Isometric có ưu điểm đặc biệt vì có thể áp dụng ngay cho

vận động viên chấn thương hệ cơ - xương - khớp trong những ngày đầu tiên,

ngay cả khi vận động viên cần phẫu thuật hoặc mang dụng cụ bất động khớp.

Việc tính tốn đưa ra cường độ bài tập phù hợp và đúng cách với từng bệnh

nhân cụ thể là một trong những điểm mới của công tác phục hồi sau chấn

thương thể thao [20].

b) Các bài tập Isokinetic.

Việc áp dụng các bài tập Isokinetic đòi hỏi thiết bị đặc biệt, hiện đại.

Bài tập phục hồi chức năng (PHCN) cơ lực quanh vùng khớp cổ chân

sau chấn thương có bất động khớp và teo cơ trên trung bình trên hệ thống

Isokinetic-Biodex

Ngun tắc chung:

- Khơng có một bài tập cụ thể chung cho các bệnh nhân, việc áp dụng

bài tập đối với từng bệnh nhân cần căn cứ theo tình trạng bệnh nhân tại thời

điểm thăm khám hiện tại.



68

- Việc theo dõi các dấu hiệu đáp ứng với lượng vận động trong khi tập

luyện có tính quyết định tới việc xây dựng các phác đồ tập luyện PHCN cho

bệnh nhân.

- Việc dùng các thuốc kháng viêm-giảm đau cần hạn chế tới mức tối đa

trong thời gian tập luyện nhằm theo dõi chính xác ngưỡng cường độ vận

động của bệnh nhân [7], [20].

Chỉ định bài tập:

- PHCN cho các trường hợp có giảm trương lực cơ, teo cơ do các

nguyên nhân bất động khớp kéo dài, chấn thương các cấu trúc giải phẫu

khớp cổ chân điều trị bảo tồn hoặc chờ phẫu thuật, sau phẫu thuật nội soi

khớp

Chống Chỉ định:

Chống chỉ định tuyệt đối :

- Các bệnh lý của khớp hoặc quanh khớp có nhiễm trùng.

Chống chỉ định tương đối :

- Sưng nề lớn và bất thường quanh vùng khớp hoặc sưng nề kéo dài

sau phẫu thuật nội soi khớp.

- Sẹo mổ không liền do các nguyên nhân khác ngoài nhiễm trùng [6].

c). Các bài tập phục hồi sau chấn thương khớp cổ chân cho vận động

viên.

Bài tập mức 1.

Sau phẫu thuật, VĐV tập luyện tích cực hay thụ động (có sự trợ giúp

của nhân viên lý liệu) biên độ vận động ở mức cho phép. Nhân viên lý liệu

cần thực hiện động tác vận động bàn chân, cổ chân và cẳng chân VĐV về các

hướng cơ bản. Chỉ vận động với biên độ ở giới hạn không ảnh hưởng đến sự

ổn định của vùng phẫu thuật.



69

Các bài tập tĩnh lực và tập luyện biên độ vận động có sự giúp đỡ của

nhân viên lý liệu sẽ được tiếp tục cho đến khi VĐV vẫn chưa tự thực hiện

được các bài tập ở mức 2.

Bài tập mức 2.

Khi VĐV đã thực hiện được các động tác vận động ở các khớp bị tổn

thương, thì có thể chuyển sang thực hiện được các bài tập ở mức 2. Lúc này

tập luyện biên độ vận động cũng như sức mạnh và độ mềm dẻo.

Các bài tập ở mức 2 này có thể thực hiện ở giai đoạn đầu của chương

trình hồi phục cho những VĐV bị chấn thương mức trung bình và nặng ở

vùng bàn chân, cổ chân và cẳng chân nhưng khơng đòi hỏi phẫu thuật. Trước

hết tập hồi phục biên độ vận động ở khớp, còn các bài tập tĩnh lực phòng

ngừa teo cơ.

Tập luyện các động tác sau đây 2 – 3 đợt trong một ngày.

Động tác 1. Tập biên độ vận động ở cổ chân. Ngồi hoặc nằm, gót chân

của chân bị tổn thương bng xuống. Dùng các ngón chân để vẽ các chữ cái

(cố gắng vẽ hết các chữ cái). 2 – 3 đợt/ngày.

Động tác 2. Tập biên độ vận động ở khớp cổ chân và các ngón chân khi

sử dụng các cơ gấp, cơ duỗi ngón chân ở cẳng chân và bàn chân.

Nằm ngửa, gập bàn chân lên trên, đồng thời duỗi các ngón chân; sau

đó duỗi bàn chân xuống dưới, đồng thời gấp các ngón chân. Lặp lại động tác

10 lần.

Động tác 3. Tập biên độ vận động ở khớp cổ chân sử dụng các cơ cẳng

chân.

Nằm ngửa, gập bàn chân lên trên, xoay bàn chân quanh cổ chân theo

chiều kim đồng hồ 10 lần, sau đó xoay theo chiều ngược lại 10 lần. Lặp lại 2 – 3

lượt.



70

Động tác 4. Tập biên độ vận động ở bàn chân sử dụng các động tác

quay sấp và quay ngửa ở khớp cổ chân.

Tư thế ngồi hoặc nằm ngửa, quay sáp bàn chân ở cổ chân của hai chan

sao cho gan bàn chân hướng vào nhau, sau đó quay ngửa ngược lại. Tập lặp lại

10 lần.

Động tác 5. Tập biên độ vận động ở ngón chân sử dụng các cơ co và

duỗi ngón chân ở cẳng chân và bàn chân.

Tư thế ngồi hoặc nằm ngửa, co gập và duỗi các ngón chân 10 lần. Lặp

lại động tác 2 – 3 lượt.

Động tác 6. Căng tĩnh lực cơ bụng chân và gân asin.

Tư thế đứng, hai tay chống ở mức ngang ngực, chân nọ sau chân kia,

bàn chân hướng về phía trước, hai gót chân ép chặt xuống sàn trong khi thực

hiện động tác. Trọng lượng cơ thể dồn về hai tay, chân trước hơi gấp ở khớp

gối và nhẹ nhàng duỗi chân phía sau. Ép bàn chân của chân sau xuống sàn

trong khoảng 6 – 10 giây, sau đó thả lỏng 2 giây. Đổi vị trí hai chân và làm lặp

lại.

Động tác 7. Tăng cường sức mạnh của cổ chân, sử dụng các cơ gấp và

duỗi bàn chân ở cẳng chân.

Tư thế đứng, ngón chân duỗi thẳng về phía trước, từ từ nhấc hai gót

càng cao càng tốt, sau đó hạ xuống. Cùng thực hiện động tác như thế, nhưng

ngón chân quặp vào nhau, sau đó ngón chân xòe ra xa nhau.

Bài tập mức 3.

Khi VĐV đã có thể tự thực hiện được các động tác của bài tập ở mức 2

khơng còn khó khăn hay khơng đau, thì chuyển sang bài tập mức 3. Các động

tác của bài tập mức 3 được sử dụng để bắt đầu hồi phục sau những chấn

thương vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân.



71

Ngoài tập các động tác động lực nhằm phát triển lực của các cơ ở cẳng

chân, cổ chân và bàn chân, cần tập các bài tập phát triển sức dẻo dai của các

cơ và khớp ở các vùng này.

Động tác 1. Phát triển sức mạnh và căng dãn các cơ bụng chân, gân

asin và các cơ mặt trước cẳng chân; phát triển biên độ vận động ở khớp cổ

chân (gấp và duỗi bàn chân).

Đứng trên bậc cầu thang bằng phần trước hai bàn chân, hai tay duỗi

thẳng ra trước. Nâng hai gót chân, nâng càng cao càng tốt, sau đó hạ xuống

mức thấp hơn so với lúc xuất phát. Cũng động tác như thế nhưng ngón chân

quặp vào nhau, sau đó ngón chân xòe ra. Lặp lại động tác 10 lần, 2 đợt

tập/ngày.

Động tác 2. Củng cố biên độ vận động của khớp cổ chân.

Gấp đôi tấm khăn và đặt xuống bàn. Đặt mũi bàn chân lên tấm khăn

còn gót tỳ mạnh xuống sàn. Đẩy tấm khăn về phía trước với sự vận động của

bàn chân, các gót chân khơng nhấc khỏi sàn, mũi bàn chân sau đẩy gót bàn

chân trước. Tập lặp lại động tác 5 - 10 lần.

Động tác 3. Tập cảm giác cơ khớp (cảm thụ bản thể) ở cổ chân và bàn

chân. Tập bài tập bập bênh trên tấm gỗ, dưới tấm gỗ có vật cứng tròn – bi sắt

tròn, hay hình trụ.

Động tác 4. Tập sức mạnh ngón chân và biên độ vận động.

Ngồi trên ghế đặt tấm khăn trước mặt. Khơng chuyển động gót chân,

dùng ngón chân kéo tấm khăn về phía người. Tập lặp lại động tác 5 - 10 lần. Tập

tăng tải trọng bằng cách đặt quyển sách hay vật có trọng lượng tương đương

trên tấm khăn.

Khi lực và biên độ chuyển động ở khớp cổ chân hồi phục được 95% so

với chân bình thường. VĐV có thể trở lại tập luyện môn thể thao.



72

Trước khi trở lại tập luyện môn thể thao, VĐV phải thực hiện được các

công việc sinh hoạt trong ngày mà không cảm thấy khó khăn hay cảm giác

đau.

d) Một số lý liệu pháp được sử dụng trong quá trình điều trị và hồi phục.

Tại Khoa vật lý và trị liệu, phục hồi chức năng, các bác sĩ và kỹ thuật

viên thường sử dụng siêu âm, sóng ngắn, từ trường và một số phương pháp

khác cho kết quả rất tốt.

Để đánh giá mức độ hồi phục của bệnh nhân trong thời gian điều trị

tại Bệnh viên, Bệnh viện thể thao Việt Nam sử dụng Bảng lượng giá chức

năng sinh hoạt của người bệnh. Trong bảng lượng giá đó bao gồm 12 chỉ tiêu,

tiêu chí phản ảnh chức năng sinh hoạt cơ bản của người bệnh: ăn uống, chải

tóc, đánh răng, tắm, mặc quần áo, đi vệ sinh, nằm ngửa – sấp, nằm ngửa –

ngồi, đứng – ngồi, từ sàn đứng lên, khả năng di chuyển và dụng cụ trợ giúp;

ví 5 mức đánh giá như sau: 1 điểm: Phụ thuộc; 2 điểm: Trợ giúp trung bình; 3

điểm: Trợ giúp tối thiểu; 4 điểm: Chỉ giám sát và 5 điểm: Độc lập. Như vậy

tổng điểm tối đa là 60. Khi bệnh nhân ra viện thì điểm đánh giá dao động từ

55 đến 60.

Thời gian điều trị trung bình của vận động viên là 17 ngày.

Thời gian điều trị trung bình của người tập thể thao là 21 ngày.

Tóm lại, qua nghiên cứu hồi cứu trên 44 bệnh án của bệnh nhân là vận

động viên và người tập thể thao có chẩn đốn là chấn thương khớp cổ chân,

nhận thấy số lượng VĐV là 14 người và số người tập thể thao là 30 người. Về

giới tính, tính chung cả hai đối tượng thì tỷ lệ về giới tính như sau: nam chiếm

56,8% và nữ chiếm 43,2%. Qua đó có thể nhận thấy sự khác biệt về giới tính

chỉ mang tính ngẫu nhiên, tỷ lệ giữa bệnh nhân nam và nữ có sự khác biệt

khơng đáng kể. Về lứa tuổi, đối với bệnh nhân là vận động viên, một sự khác



73

biệt khá rõ là với xu hướng trẻ hơn rất nhiều so với người bệnh tham gia tập

luyện thể thao, cụ thể tuổi của bệnh nhân – VĐV dao động từ 15 đến 32 tuổi,

trong khi đó, tuổi của những bệnh nhân tham gia tập luyện thể thao dao động

từ 19 đến 55. Đây là sự khác biệt rất đáng quan tâm. Về vị trí chấn thương

khớp cổ chân khơng có sự khác biệt giữa chân phải và chân trái với tỷ lệ chia

đều là 50% ở đối tượng VĐV, còn ở đối tượng là người tập thể thao, thì tỷ lệ

chấn thương cổ chân phải là 56,7% cao hơn so với cổ chân trái là 43,3%.

Phần lớn các chấn thương khớp cổ chân là chấn thương cấp tính ở cả

hai đối tượng với tỷ lệ là 79,5%, tuy nhiên tỷ lệ này ở VĐV vẫn cao hơn là

92,8% so với 73,3% ở người tập thể thao. Về mức độ nặng, nhẹ và độ phức tạp

của chấn thương, cho thấy hầu hết chấn thương thể thao không quá nặng, tỷ

lệ chấn thương độ I ở VĐV là 42,8%, và ở người tập thể thao là 36,7%; còn

chấn thương độ II, các tỷ lệ tương ứng là 57,2% và 43,3%. Còn chấn thương

kết hợp, phức tạp ở cả hai đối tượng chiếm tỷ lệ ít hơn, tương ứng là 21,4% và

30%. Tại Bệnh viện thể thao Việt Nam đã sử dụng một số phác đồ điều trị,

phục hồi tương đối tốt, có ứng dụng các phương tiện hiện đại để điều trị, phục

hồi cho vận động viên sau chấn thương khớp cổ chân. Tuy nhiên, việc lựa chọn

và sử dụng các bài tập điều trị và phục hồi chưa phong phú, chưa có các phác

đồ cụ thể, phù hợp để có thể nâng cao hiệu quả điều trị và rút ngắn thời gian

nằm viện của các bệnh nhân là VĐV và người tập thể thao.

3.2. Lựa chọn và xây dựng phác đồ các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục

hồi chức năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV.

3.2.1. Lựa chọn các bài tập điều trị, phục hồi, kết hợp với vật lý trị

liệu cho các vận động viên/người tập thể thao sau chấn thương khớp cổ

chân.

Quy trình chọn lựa các các bài tập điều trị, phục hồi, kết hợp với vật lý



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.2: Sự xê dịch quá mức theo hướng trước sau của xương chày trên xương sên trong test ngăn kéo trước cho thấy bệnh nhân có một chấn thương dây chằng sên gót trước.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×