Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
của VĐV nhóm A (n=13)

của VĐV nhóm A (n=13)

Tải bản đầy đủ - 0trang

123



Biểu đồ 3.10. Phục hồi tầm vận động

vặn trong, vặn ngoài khớp cổ chân nhóm A

Tầm vận động gấp khớp cổ

chân



Thời gian đánh giá

Khi bắt



Sau 1 tuần Sau 2 tuần



Khi kết



đầu

thúc

n

%

n

%

n

%

n

%

Vận động bình thường

0

0

0

0

3

30

9

90

< 65 – 45 độ

0

0

1

10

5

50

1

10

< 45 - 30 độ

0

0

3

30

1

10

0

0

< 30 – 10 độ

0

0

3

30

1

10

0

0

Số BN hạn chế gấp

10

100

3

30

0

0

0

0

Bảng 3.19: Phục hồi tầm vận động gấp lòng, gấp mu khớp cổ chân của

(tới đa = 65 độ)



VĐV nhóm B (n=10)

(Nguồn kết quả khảo sát)



124



Biểu đồ 3.11. Phục hồi tầm vận động

gấp lòng. gấp mu khớp cổ chân của VĐV nhóm B

Bảng 3.20: Phục hồi tầm vận động vặn trong, vặn ngoài khớp cổ chân của

VĐV nhóm B (n=10)

Tầm vận động vặn

khớp cổ chân

(tới đa = 55 độ)

Vận động bình thường

< 55 – 30 độ

< 30 – 10 độ

< 10 độ

Số BN hạn chế vặn



Thời gian đánh giá

Khi nhập

viện

n

%

0

0

0

0

0

0

0

0

10 100



Sau 1 tuần

n

0

4

4

2

2



%

0

40

40

20

20



Sau 2 tuần

n

3

4

2

1

0



%

30

40

20

10

0



Khi ra viện

n

9

1

0

0

0



(Nguồn kết quả khảo sát)



%

90

10

0

0

0



125



Biểu đồ 3.12. Phục hồi biên độ vận động duỗi khớp cổ chân nhóm B

3.3.8. Đánh giá kết quả theo các triệu chứng lâm sàng.

Kết thúc quá trình điều trị, hầu hết các triệu chứng lâm sàng của chấn

thương khớp cổ chân của VĐV đã hết. Còn rất ít VĐV chưa thật sự hồi phục

hồn tồn. ví dụ: khớp cổ chân còn khơng vững ở 2 bệnh nhân. Đau rất ít khi

vận động ở 2 bệnh nhân và có hạn chế vận động đôi chút ở 5 VĐV (xem bảng

3.21.). Kết quả này cũng trùng hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả

ở trong và ngoài nước [3], [23], [25], [30], [55], [59], [86]. Y văn gần đây

củng cố phương pháp phục hồi dựa trên chức năng như là phương pháp điều

trị chấn thương khớp cổ chân được ưa chuộng thay cho phương pháp nẹp bất



126

động vì nó cho phép sớm trở lại làm việc và hoạt động thể chất mà không

kèm tỉ lệ cao các triệu chứng muộn (mất vững cổ chân, đau, đơ hay yếu cơ).

Ngay sau chấn thương là giai đoạn cấp, nguyên tắc RICE (nghỉ ngơi,

chườm đá, băng ép và kê cao) được áp dụng. Mục tiêu là để giảm xuất huyết,

sưng, viêm và đau. Bắt đầu giai đoạn bất động tùy vào độ nghiêm trọng của

chấn thương. Một số tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự bất động

cổ chân ở vị thế trung tính hơn là ở vị thế gập mặt lòng vì dây chằng sên mác

trước bị kéo dãn ra khi gập mặt lòng. Đối với bong gân độ 1 và 2, dùng nẹp

cổ chân để bất động. Đối với bong gân độ 3, một cái giày nẹp ống tạo cho

nhiều độ vững và bảo vệ nhiều hơn và cho phép chịu sức sớm ít đau hơn. Tiếp

tục bất động nhiều ngày ở bong gân vừa và đến 3 tuần đối với bong gân nặng

độ 3. Khi độ 3 đỡ hơn, thì thay giày nẹp ống bằng nẹp cổ chân. Ở giai đoạn

bán cấp, mục tiêu bao gồm tiếp tục giảm sưng, viêm, đau và bắt đầu cử động,

tập mạnh cơ và kiểm sốt chịu sức thích hợp. Đây là giai đoạn collagen tăng

sinh, và quá nhiều stress đặt lên dây chằng ở thời điểm này sẽ làm mô yếu hơn.

Giai đoạn phục hồi chức năng tập trung vào việc cải thiện sức mạnh,

sức chịu đựng, thăng bằng và cảm thụ bản thể qua chịu sức. Trong suốt giai

đoạn sưng để lành thương này của dây chằng, khoảng 3 tuần sau chấn thương,

việc kéo dãn có kiểm sốt các cơ bắp và động tác của khớp đẩy mạnh thêm

khuynh hướng bình thường của các sợi collagen, song song với các đường đặt

áp lực. Bài tập lặp lại trong suốt giai đoạn này đã cho thấy là có làm gia tăng

sức mạnh cơ học và cấu trúc các dây chằng.

Bảng 3.21: Triệu chứng lâm sàng của VĐV khi xuất viện (n = 23)

Triệu chứng lâm sàng

Khớp cổ chân không vững

Đau

Hạn chế vận động

Sưng khớp

Dấu hiệu X - quang



Chấn thương khớp cổ chân ở VĐV (n=23)

Nhóm A (n=13)

Nhóm B (n=10)

Sớ lượng

%

Sớ lượng

%

1

7.7

1

10

1

7.7

1

10

3

23.1

2

20

0

0

0

0

(Nguồn kết quả khảo sát)



127

Tóm lại: Qua nghiên cứu đặc điểm chấn thương khớp cổ chân ở 23 bệnh

nhân điều trị tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam cho thấy: tất cả 23 bệnh nhân là

VĐV chuyên nghiệp thuộc 9 môn thể thao. Tỷ lệ bị chấn thương cao nhất ở độ

tuổi dưới và bằng 20 với 14 trường hợp chiếm 60.9% và lứa tuổi từ 21 đến 30

với 9 trường hợp chiếm 39.1%. Khơng có bệnh nhân nào trên 30 tuổi. Đây là

những dấu hiệu cảnh báo tình trạng trẻ hóa chấn thương khớp cổ chân ở VĐV.

Số bệnh nhân (BN) nam vẫn chiếm nhiều hơn với 12 trường hợp chiếm 52.2%

trường hợp so với nữ là 11 (47.8%) trường hợp. Vị trí chấn thương thể thao gặp

nhiều hơn ở cổ chân trái so với cổ chân phải, đối với cả nam và nữ. Cụ thể tỷ lệ

chấn thương cổ chân phải trên cổ chân trái ở nam là 6/8 và ở nữ là 4/5. Tỷ lệ

chấn thương cổ chân phải ở cả hai giới là 43.5% và cổ chân trái là 56.5%. Số

trường hợp bị tổn thương dây chằng khớp cổ chân đơn thuần chiếm một tỷ lệ

khá cao (13 trường hợp trên tổng số 23 ca. chiếm 56.5%) tham gia nghiên cứu.

Trong nhóm tổn thương phối hợp là 10/23 trường hợp chiếm 43.5%. Phần lớn

các chấn thương khớp cổ chân là chấn thương cấp tính ở cả hai đối tượng với tỷ

lệ là 82.6%. Về mức độ nặng, nhẹ và độ phức tạp của chấn thương cho thấy hầu

hết chấn thương cổ chân không quá nặng, tỷ lệ chấn thương độ I ở VĐV nhóm

tổn thương đơn thuần là 5/13 VĐV, tỷ lệ chấn thương độ 2 là 8/13. Đối với

nhóm VĐV có chấn thương phối hợp, tỷ lệ chấn thương độ I là 6/10; còn chấn

thương độ II là 4/10. Các dấu hiệu lâm sàng chủ yếu để nghĩ ngay đến việc

chẩn đoán tổn thương khớp cổ chân, bao gồm khớp cổ chân không vững, sưng,

đau, hạn chế tầm vận động của khớp và dấu hiệu X-quang.

Hiệu quả điều trị rất tốt thông qua kết quả lượng giá các chức năng sinh

hoạt, phục hồi tầm vận động khớp cổ chân và các dấu hiệu lâm sàng và cận

lâm sàng (X-quang).



128

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

1. Qua kết quả nghiên cứu thực trạng trên 44 bệnh án của bệnh nhân là

VĐV và người tập thể thao có cho thấy vị trí chấn thương khớp cổ chân

khơng có sự khác biệt giữa chân phải và chân trái với tỷ lệ chia đều là 50% ở

đối tượng VĐV. Đối với đối tượng là người tập thể thao thì tỷ lệ chấn thương

cổ chân phải là 56.7% cao hơn so với cổ chân trái là 43.3%. Chấn thương cấp

tính ở cả hai đối tượng với tỷ lệ là 79.5%, tuy nhiên tỷ lệ này ở VĐV vẫn cao

hơn là 92.8% so với 73.3% ở người tập thể thao. Tỷ lệ chấn thương độ I ở

VĐV là 42.8% và ở người tập thể thao là 36.7%; còn chấn thương độ II các tỷ

lệ tương ứng là 57.2% và 43.3%.

Tại Bệnh viện thể thao Việt Nam đã sử dụng một số phác đồ điều trị.

phục hồi tương đối tốt. Tuy nhiên, việc lựa chọn và sử dụng các bài tập điều

trị và phục hồi chưa phong phú, chưa có các phác đồ cụ thể, phù hợp để có thể

nâng cao hiệu quả điều trị.

2. Thông qua 04 bước lựa chọn, đảm bảo tính logic, khoa học luận án

đã chọn được 34 nội dung các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi chức

năng vận động sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV cụ thể bao gồm hai

nhóm:

- Nhóm bài tập vận động bao gồm: Bài tập mức 1 (1 bài tập); Bài tập

mức 2 (3 bài tập); Bài tập mức 3 (26 bài tập) và kết hợp các bài tập sức mạnh,

độ mềm dẻo của các cơ vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân; Sử dụng bài tập

Isokinetic; Luyện tập công năng thời kỳ sớm 1 - 2 tuần sau chấn thương; Sử

dụng bài tập Isometric; Luyện tập cơng năng thời kỳ giữa điều trị chấn

thương.

- Nhóm vật lý trị liệu bao gồm: Điều trị bằng siêu âm; Điều trị bằng

sóng ngắn; điều trị bằng từ trường; sử dụng nguyên tắc RICE ngay sau chấn

thương (giai đoạn cấp).



129

Nghiên cứu đã xây dựng phác đồ điều trị. hồi phục rất cụ thể cho VĐV

sau chấn thương khớp cổ chân cho từng giai đoạn: cấp tính. bán cấp và hồi

phục với trình tự và phương pháp phục hồi theo các bài tập đã mã hóa từ E01

đến E24.

3. Kết quả nghiên cứu đặc điểm chấn thương khớp cổ chân ở 23 bệnh

nhân điều trị tại Bệnh viện Thể thao Việt Nam cho thấy: tất cả 23 bệnh nhân là

VĐV chuyên nghiệp thuộc 9 môn thể thao. Tỷ lệ bị chấn thương cao nhất ở độ

tuổi dưới và bằng 20 với 14 trường hợp. chiếm 60.9% và lứa tuổi từ 21 đến 30

với 9 trường hợp chiếm 39.1%. Đây là những dấu hiệu cảnh báo tình trạng trẻ

hóa chấn thương khớp cổ chân ở VĐV. Vị trí chấn thương thể thao gặp nhiều

hơn ở cổ chân trái so với cổ chân phải. Số trường hợp bị tổn thương dây chằng

khớp cổ chân đơn thuần chiếm một tỷ lệ khá cao (13 trường hợp trên tổng số 23

ca, chiếm 56.5%), nhóm tổn thương phối hợp là 10/23 trường hợp chiếm

43.5%. Phần lớn các chấn thương khớp cổ chân là chấn thương cấp tính với tỷ

lệ là 82.6%. Sau khi ứng dụng tổ hợp các bài tập kết hợp vật lý trị liệu phục hồi

chức năng sau chấn thương khớp cổ chân cho VĐV cho thấy phác đồ điều trị

được lựa chọn đã chứng tỏ hiệu quả điều trị rất tốt thông qua kết quả lượng giá

các chức năng sinh hoạt, phục hồi tầm vận động khớp cổ chân và các dấu hiệu

lâm sàng và cận lâm sàng (X-quang)

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả điều trị rất tốt, số ngày

điều trị (nằm viện) của nhóm VĐV là 12,7 ngày, người tập thể thao là 19,7

ngày. So với số liệu trước thực nghiệm VĐV là 17 ngày, người tập là 21 ngày.

Các số liệu trên chứng minh tính hiệu quả của các bài tập và phác đồ điều trị

mà luận án đã lựa chọn

KIẾN NGHỊ

Để nâng cao hiệu quả điều trị chấn thương khớp cổ chân cho VĐV thì

việc phát hiện sớm. điều trị kịp thời ở các cơ sở chun khoa có trình độ cao



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

của VĐV nhóm A (n=13)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×