Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.3:Khối lượng hàng hóa vận chuyển trên địa bàn.

Hình 3.3:Khối lượng hàng hóa vận chuyển trên địa bàn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

89

tiềm năng lớn: Cảng biển Nghi Sơn gồm 3 bến cảng: bến cảng tổng hợp địa

phương, bến cảng Nhiệt điện Nghi Sơn và bến cảng xi măng Nghi Sơn. Hệ

thống cảng biển của tỉnh đưa vào sử dụng với 12 cầu cảng trong đó cảng biển

Lệ Mơn có 4 cầu cảng, cảng biển Nghi Sơn có 8 cầu cảng. Vốn đầu tư cho

cảng biển ngày một nâng cao.

Dự kiến, từ nay đến năm 2020, cảng Nghi Sơn sẽ được đầu tư mở rộng

lên 30 bến, lượng hàng hóa thơng qua cảng ước đạt 15 đến 20 triệu tấn/năm.

Hiện tại, tỉnh Thanh Hóa đã cấp phép đầu tư cho 15 bến, trong đó có 3 bến đã

đưa vào khai thác. Lãnh đạo tỉnh và đơn vị khai thác cảng nước sâu Nghi Sơn

hy vọng, với việc đón con tàu vận tải lớn nhất từ trước đến nay cập cảng an

toàn ngay đầu năm 2018 sẽ thúc đẩy lưu lượng tàu thuyền vào cảng này trong

thời gian tới ngày cảng tấp nập hơn.

Hàng hóa xếp dỡ qua cảng chủ yếu qua cảng Nghi Sơn với lượng hàng hóa

xếp dỡ chiếm trên 85% tổng lượng hàng hóa. Năm 2011, hàng hóa xếp dỡ qua

cảng tăng 44,67% so với năm 2010. Tuy nhiên, năm 2012, do những khó khăn

trong ngành vận tải biển nên lượng hàng hóa xếp dỡ tụt xuống còn 2.338 nghìn

tấn (giảm 12,1% so với năm 2011). Năm 2015, với sự tham gia của một số

doanh nghiệp vận tải biển nước ngồi, lượng hàng hóa xếp dỡ qua cảng tăng lên

4.582 nghìn tấn ( tăng 59,45%) so với năm 2012. Đây là tín hiệu tốt cho ngành

vận tải biển trong nước cũng như trên thế giới. Đến 5/2018, cảng nước sâu Nghi

Sơn đã đón được tầu có trọng tải hơn 100.000 tấn ra vào cảng. Phát triển hệ

thống cảng biển đồng bộ giữa cảng, tuyến luồng và các dịch vụ hàng hải, kết hợp

với giao thông đường bộ và đường thủy tạo thành mạng lưới giao thơng liên

hồn phục vụ đắc lực phát triển KT-XH, kinh tế biển đạt hiệu quả đầu tư cao.

Đến nay, hoàn thành cơ bản hệ thống cảng biển trong Vùng đi kèm với phát triển

các dịch vụ cảng biển, kho bãi, hàng hải, thu hút đầu tư từng bước phát triển đội

tàu vận tải biển để mở rộng giao thương quốc tế và du lịch biển.

Cảng có tính chất điểm nhấn là cảng Nghi Sơn- Hòn Mê: Đây là bến

cảng tổng hợp, bến container, các bến chuyên dụng phục vụ KKT Nghi Sơn



90

(Bến suất nhà máy lọc hóa dầu, than nhiệt điện, xi măng, cơng nghiệp đóng

tàu, xuất, nhập xăng dầu...), cảng này được Chính phủ xác định là cảng loại 1

trong hệ thống cảng biển Việt nam. (Phụ lục 4). Tuy nhiên, quan khảo sát có

đến 37% trả lời là thực hiện vốn đầu tư còn chậm so với tiến độ (Phụ lục 1).

Cùng với cảng biển, khu kinh tế Nghi Sơn (KKT) cũng là điểm nhấn đối

với kinh tế biển Thanh Hóa. Đến nay KKT Nghi Sơn đã thu hút được 175 dự

án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 110.000 tỷ đồng và 19 dự án

có vốn đầu tư nước ngồi với tổng vốn đầu tư 12,8 tỷ đơ la. Đã vadf đang xây

dựng chuỗi liên kết trong lĩnh vực công nghiêp- thương mại. Tỉnh quan tâm

trang bị cho doanh nghiệp những kiến thức về quản trị trong bối cảnh nền

kinh tế cạnh tranh. Theo kế hoạch các phân xưởng nhà máy lọc dầu Nghi Sơn

tháng 7/2018 đã chạy thử đạt 50% công suất, đến tháng 10/2018 chạy thử

100% công suất, đến cuối năm nhà máy chính thức vận hành thương mại.

Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 44/2016/TT-BGTV

(ngày 26/12/2016) công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận tỉnh Thanh

Hóa và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Thanh Hóa.

Theo đó, vùng nước cảng biển Thanh Hóa bao gồm: vùng nước cảng tại

khu vực Lệ Môn; vùng nước cảng biển tại khu vực Nghi Sơn [6].



Hình 3.4. Cảng Nghi Sơn - Ảnh: Internet

Do đó Cục Hàng hải Việt Nam cơng bố vùng đón trả hoa tiêu, vùng

kiểm dịch, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão cho tàu thuyền ra, vào

cảng biển và khu nước, vùng nước khác theo quy định. Cảng vụ Hàng hải

Thanh Hóa thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Hàng



91

hải Việt Nam và quy định có liên quan của pháp luật đối với hoạt động hàng

hải tại vùng nước cảng biển thuộc địa bàn của tỉnh.

Căn cứ vào tình hình thực tế của cảng biển nước sâu Nghi Sơn, nơi đưa

đón tàu thuyền có trọng tải lớn với nhiều loại hàng hóa khác nhau, quy định vị

trí cụ thể cho tàu thuyền đón trả hoa tiêu, kiểm dịch, neo đậu, chuyển tải và

tránh bão trong vùng nước theo quy định, bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh

hàng hải và bảo vệ mơi trường…

Từ đó, Tỉnh đã chủ động, xây dựng hệ thống cảng tổng hợp, cảng

chuyên dùng để có cơ sở hoàn chỉnh cụm cảng nước sâu Nghi Sơn theo quy

hoạch, đảm bảo công suất đạt 40- 44 triệu tấn/năm [26, tr.81,82]. Hiện KKT

Nghi Sơn đã thu hút được 175 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký

110.000 tỷ đồng và 19 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư

12,86 tỷ USD. Tỉnh còn chú trọng nâng cao năng lực khai thác cảng Lễ Môn,

xây dựng mới Cảng Quảng Châu. Xây dựng hệ thống Cảng bến thủy nội địa:

Hới, Hàm Rồng,...phục vụ vận chuyển hàng hóa và hành khách.

3.1.2.3. Tiềm năng và kết quả du lịch biển

Với đường bờ biển dài 102km, Thanh Hóa có nhiều bãi tắm đẹp như

Sầm Sơn (Thành phố Sầm Sơn), Hải Tiến (huyện Hoằng Hóa), Hải Hòa

(huyện Tĩnh Gia), trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến biển Sầm Sơn nằm cách

TP. Thanh Hóa 16 km về phía đông nam. Đây là một trong những khu du lịch

nghỉ mát nổi tiếng của Việt Nam, được người Pháp khai thác từ những năm

đầu thế kỷ 20. Chạy dài gần 6 km từ cửa Lạch Hới đến chân núi Trường Lệ,

Sầm Sơn có bãi cát thoai thoải, sóng mạnh, nước trong xanh và nồng độ muối

vừa phải, rất tốt cho sức khoẻ con người. Ngoài bãi tắm đẹp, thiên nhiên còn

ưu ái ban tặng cho Sầm Sơn nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo như hòn

Trống Mái, đền Ðộc Cước, núi Cô Tiên... Để du lịch phát triển nhanh và bền

vững, tỉnh Thanh Hóa xác định du lịch biển, đảo sẽ trở thành sản phẩm du

lịch mũi nhọn của tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn 2030. Theo đó, tỉnh Thanh

Hóa phấn đấu mục tiêu đến năm 2025, sản phẩm du lịch mũi nhọn biển, đảo



92

sẽ được hình thành rõ nét, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ hiện

đại, chất lượng, hấp dẫn khách du lịch; đến năm 2030, sản phẩm du lịch mũi

nhọn trở thành sản phẩm có vị trí quan trọng trong vùng Bắc Trung bộ và cả

khu vực Bắc Bộ, thúc đẩy tối ưu các sản phẩm du lịch khác thành những mũi

nhọn mới [44]. Là tỉnh có lợi thế về du lịch, hiện nay tỉnh đang đưa vào khai

thác sử dụng 3 khu du lịch biển: Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa. Lượng khách

đến du lịch hàng năm chiếm tỷ lệ cao so với tổng lượng khách của cả tỉnh

(chiếm khoảng 66%). Năm 2011 thực hiện đón được 2.102 nghìn lượt khách.

Năm 2015 số lượng khách đến các khu du lịch biển là 4.767 nghìn lượt tăng

14,7 lần so với năm 2014. Đến năm 2017, số khách du lịch tăng vọt lên 6.500

nghìn lượt và số nghỉ dưỡng chiếm trên 80% tổng lượng khách và thu khoảng

85% doanh thu du lịch toàn tỉnh.

Bảng 3.2. Số lượt khách du lịch đến Thanh Hóa ngày càng tăng

Năm

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017



Khách trong nước



Khách quốc tế



Số ngày khách do các cơ



(Nghìnlượt người)

2.187,4

2.752.2

2.995,3

3.269,2

3.763,2

4.236,5

5.050,2

6.400,0



(Nghìn lượt người)

12,4

17,5

19,1

32,8

37,3

43,2

50,7

100,0



sở lưu trú phục vụ (Ngày)

3.390,4

3.526,4

4.763,7

5.320,8

6.171,4

7.056,5

8.437,2

10.102.0



Nguồn: [47].

Thực hiện kế hoạch phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn phù

hợp với quy hoạch phát triển KT-XH, theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có

trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu, đảm bảo chất

lượng, hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh, phù hợp

mục tiêu chuyển đổi mơ hình tăng trưởng theo chiều rộng, sang phát triển hài

hòa giữa chiều rộng và chiều sâu của chiến lược phát triển KT-XH của tỉnh,

với ba trọng điểm phát triển du lịch của tỉnh thì du lịch biển và vùng ven biển

chiếm hai trọng điểm:



93

Cụm thành phố Thanh Hóa - Sầm Sơn - Hải Tiến: với 3 khu điển hình là

du lịch sinh thái núi Trường Lệ thị xã Sầm Sơn với diện tích 471ha

(QĐ70/QĐUB ngày 10/11/2011 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt

quy hoạch chi tiết khu du lịch cao cấp Trường Lệ); Khu du lịch sinh thái

Quảng Cư 200 ha (QĐ1421/QĐUB ngày 4/5/2013 của UBND tỉnh Thanh

Hóa về việc phê duyệt chi tiết khu du lịch sinh thái Quảng Cư); Khu du lịch

sinh thái biển Hải Tiến với diện tích 400ha (QĐ số 1314/QĐ-CT ngày

21/4/2004 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng

Khu du lịch sinh thái biển Hải Tiến); Hoạt động du lịch tại trọng điểm này gắn

với du lịch nghỉ dưỡng biển (đa dạng hóa hình thức kinh doanh và sở hữu), du

lịch đơ thị (thành phố Thanh Hóa), du lịch tìm hiểu lịch sử - cách mạng ( Lam

Kinh, Ngọc Trạo..) du lịch tìm hiểu khảo cổ - lịch sử (Thành nhà Hồ..). Biển

Hòn Mê là vùng biển còn ẩn chứa nhiều bí mật, trong tương lai có thể nghiên

cứu phát triển du lịch sinh thái biển tại biển Hòn Mê. Trong cụm này, Thành

phố Sầm Sơn được xác định là Đô thị du lịch trọng điểm.

Cụm Nghi Sơn - Bến En: Hoạt động du lịch tập trung đáp ứng nhu cầu

nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động của các doanh nhân, chuyên gia, người lao động ở

khu Kinh tế Nghi Sơn. Phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng rừng ở Vườn

Quốc gia Bến En cũng là một định hướng quan trọng của trọng điểm này.

Số lượng điểm vui chơi, giải trí ngày một được xây dựng và hồn thiện.

Năm 2010 có một điểm vui chơi giải trí ở Sầm Sơn, đến nay hạ tầng các khu

du lịch biển tiếp tục được đầu tư nâng cấp, đã hoàn thành trên 35 km đường

tại các khu điểm du lịch ven biển, vùng biển Hải Tiến đã có điểm vui chơi,

nhảy dù, Hải Hòa 1 điểm vui chơi, giải trí. Khu đô thị sinh thái hai bên bờ

sông Đơ (thành phố Sầm Sơn), khu du lịch sinh thái đảo Nghi Sơn, khu du

lịch biển Hải Ninh, đặc biệt tại Sầm Sơn, dự án “sân golf và khu nghỉ dưỡng

quốc tế FLC SamsonGolfLinks“ với diện tích 459 ha, tổng mức đù tư gần

5.500 tỷ đồng đã được khởi công và đưa vào sử dụng. Dự án được đánh giá là



94

một quần thể khép kín sân golf-resort-khách sạn lớn nhất dải đất miềm Trung.

Tuy nhiên, hạ tầng cơ sở chưa đồng bộ, cơ sở vất chất còn lạc hậu. Kết cấu hạ

tầng du lịch gồm nhà nghỉ, khách sạn, vui chơi còn chắp vá như bờ biển Hải

Hòa. Số cơ sở mới xây dựng mang tính tự phát và chủ yếu tập trung ở những

địa bàn thuận lợi, mặt bằng đã có sẵn.

Để du lịch phát triển nhanh và bền vững, tỉnh Thanh Hóa xác định du lịch

biển, đảo sẽ trở thành sản phẩm du lịch mũi nhọn của tỉnh đến năm 2025, tầm

nhìn 2030. Theo đó, tỉnh Thanh Hóa phấn đấu mục tiêu đến năm 2025, sản phẩm

du lịch mũi nhọn biển, đảo sẽ được hình thành rõ nét, có hệ thống cơ sở vật chất

kỹ thuật và dịch vụ hiện đại, chất lượng, hấp dẫn khách du lịch; đến năm 2030,

sản phẩm du lịch mũi nhọn trở thành sản phẩm có vị trí quan trọng trong vùng

Bắc Trung Bộ và cả khu vực Bắc Bộ, thúc đẩy tối ưu các sản phẩm du lịch khác

thành những mũi nhọn mới. Thanh Hóa cũng đề ra mục tiêu cụ thể đối với loại

hình du lịch biển là đến năm 2020 [44] đón được 8,4 triệu lượt khách (trong đó

khách quốc tế là 248.000 lượt), phục vụ 17,5 triệu ngày khách, tổng thu ước đạt

16.500 tỷ đồng; đến năm 2030 đón 22 triệu lượt khách (khách quốc tế là 1,2 triệu

lượt), phục vụ 51,6 triệu ngày khách, tổng thu ước đạt 88.500 tỷ đồng.

3.1.2.4. Tiềm năng về dân số và nguồn lực

Vùng biển Thanh Hóa là địa bàn tập trung dân cư của tỉnh, diện tích

chiếm 11,1% diện tích tồn tỉnh nhưng dân số chiếm 31,62% dân số toàn tỉnh,

mật độ dân cư trong vùng cao gấp 2,85 lần so với mật độ dân cư chung của

tỉnh. Dân cư hầu hết sinh sống ở nông thôn, làm nghề nông, nghề thủy sản.

Là một trong những vùng có tháp dân số trẻ, lao động trong độ tuổi dồi

dào. Đội ngũ lao động có nhiều kinh nghiệm. Đây là lợi thế về cung cấp lao

động cho các ngành sản xuất cơng nghiệp và dịch vụ.

Thanh Hóa hiện nay có khoảng 3.512.721 người, là tỉnh có số dân đông thứ

ba trong cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội). Số người trong độ

tuổi lao động là 2.209,500 người chiếm 63,2% dân số trong toàn tỉnh.



95

Bảng 3.3. Dân số và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động

Đơn vị tính: Nghìn người,%

Năm



2010



2011



2014



2015



2016



Tổng số



3.421,8



3.437,8



3.496,1



3.512,1



3.528,3



2.116,4



2.152,0



2.209,5



2.238,3



2.241,2



61,85%



62,60%



63,2%



63,73%



63,52%



Dân số từ 15 tuổi

trở lên

-Tỷ lệ dân số trong

độ tuổi lao động



Nguồn; [47]

Cơ cấu dân số tương đối trẻ, sức khỏe tốt. Là nguồn lực quan trọng đẩy

mạnh công cuộc phát triển KT-XH của tỉnh trong 10-15 năm tới. Vùng biển

Thanh Hóa là địa bàn tập trung dân cư, diện tích chiếm 11,1%, nhưng dân số

chiếm 31,62% số dân toàn tỉnh, mật độ dân cư cao gấp 2,85 lần so với mật độ

dân cư chung của tỉnh. Dân cư hầu hết sinh sống ở nông thôn, làm nghề nông,

nghề thủy sản. Nhưng với truyền thống hiếu học, nên trình độ học vấn của

người dân ngày một nâng cao.

Nguồn nhân lực của tỉnh Thanh Hóa khá dồi dào[47]. Dân số trong độ

tuổi lao động năm 2016 là: 2.241,2 người chiếm 63,52% tổng dân số; số lao

động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 1.994,6 người chiếm

89% lao động trong độ tuổi, trong đó phần lớn là lao động nông lâm nghiệp,

chiếm tới 66,9% tổng số lao động xã hội; lao động công nghiệp và xây dựng

chiếm 16,0% và lao động khu vực dịch vụ là 17%. Cơ cấu dân số tương đối

trẻ, sức khỏe tốt. Trình độ học vấn của người dân ngày càng được nâng cao.

3.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH

THANH HỐ



3.2.1. Phân tích thực trạng tun truyền chủ trương của Đảng,

pháp luật của Nhà nước và cụ thể hóa các quan điểm của Đảng và Nhà

nước và ban hành văn bản pháp quy về kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa



96

Tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng kế hoạch về cơng tác tuyên truyền đối với

Luật Biển Việt Nam và Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 do Hội

nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X thơng qua về Chiến

lược biển Việt Nam đến năm 2020 là đưa Việt Nam “trở thành quốc gia mạnh

về biển, làm giàu từ biển”.

Các hình thức tuyên truyền khá đa dạng như tổ chức hội nghị, mở lớp

tập huấn, xây dựng các chương trình phổ biến pháp luật trên đài truyền hình

và đài phát thanh của tỉnh. Các báo địa phương cũng tích cực đưa tin về phát

triển kinh tế biển, nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của kinh tế biến đối

với Tỉnh. Để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, các tổ chức có nhiệm vụ dân

vận đã phát hành đến các tổ chức, người dân tài liệu về Luật Biển, Chiến lược

biển Việt Nam đến năm 2020, chủ trường phát triển các lĩnh vực kinh tế biển

Tỉnh có nhiều tiềm năng, có thế mạnh để nâng cao nhận thức của nhân dân,

nhất là các nhà đầu tư, hướng họ tham gia, ủng hộ phát triển kinh tế biển, có

kỹ năng lựa chọn các hình thức tổ chức và địa bàn đầu tư có hiệu quả, nhất là

đàu tư vào Khu kinh tế Nghi Sơn.

Để cụ thể hóa chủ trương hình thành các khu kinh tế ven biển theo tinh

thần Hội nghị TW 4 (khoá VIII) của BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam với

nội dung “Nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu kinh tế, khu mậu

dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện”, năm 2007, được sự

đồng ý của Chính phủ, tỉnh Thanh Hóa đã thành lập Khu Kinh tế Nghi Sơn.

Đây là khu kinh tế ven biển đầu tiên của cả nước, và Tỉnh đã được Thủ tướng

ra quyết định số 1364/2007/QĐ-TTg, ngày 10/10/2007 về việc ban hành quy

chế hoạt động của Khu kinh tế Nghi Sơn. Quy chế này đã quy định rõ nguyên

tắc hoạt động của Khu Kinh tế Nghi Sơn.

Chính quyền tỉnh Thanh Hóa thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Kế

hoạch của Nhà nước về quản lý kinh tế biển. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đề

ra nhiệm vụ đột phá nhằm phát triển nuôi tôm chân trắng thâm canh trên diện

tích 170 ha, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.



97

Với chủ trương, nâng mức đóng góp của kinh tế biển, đảo trong cơ cấu

kinh tế của toàn tỉnh. Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đưa ra

chương trình phát triển KT- XH vùng biển:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 12,5%/năm. Sản xuất công

nghiệp tăng trưởng khá, giá trị sản xuất ước tăng 14,2%. Hạ tầng

giao thông, điện, thông tin liên lạc, hậu cần nghề cá, các cơ sở

lưu trú du lịch tại Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa được đầu tư nâng

cấp; mơi trường du lịch, văn hóa du lịch chuyển biến tiến bộ, du

khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng ngày càng tăng; giá trị hàng

hóa và dịch vụ xuất khẩu năm 2015 ước đạt 521,6 triệu USD,

vượt mục tiêu [22].

Quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020,

định hướng đến năm 2030. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

872/QĐ- TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH

tỉnh Thanh hóa.

Kế hoạch số 56/KH-UBND về thực hiện Chương trình phát triển KT

XH vùng biển đến năm 2015 của BCH Đảng bộ tỉnh với mục tiêu nhằm cụ

thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong chương trình phát

triên KT- XH vùng biển Thanh Hóa đến năm 2015; phân cơng cụ thể nhiệm

vụ, xác định rõ thời gian hoàn thành và trách nhiệm của từng ngành, từng cấp,

từng cơ quan, trên từng lĩnh vực trong việc tổ chức thực hiện, với nội dung:

Rà soát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy hoạch; đầu tư xây dựng kết

cấu hạ tầng vùng biển; đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh; tăng cường

ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng các hoạt động văn

hóa-xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường, khai thác và sử

dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu;

nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường tiềm lực củng cố

quốc phòng, an ninh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH.



98

Quyết định số 2482/ QĐ-UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng ven biển thanh Hóa giai đoạn

đến năm 2020 với nội dung chủ yếu:

Khai thác tốt tiềm năng và lợi thế của vùng, phát huy nội lực kết

hợp với các nguồn lực bên ngồi; huy động sử dụng có hiệu quả

mọi nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm tạo đột phá về kinh tế biển

phát triển nhanh, bền vững hài hòa với phát triển văn hóa- xã hội;

xây dựng vùng ven biển thành vùng động lực, đầu tầu kinh tế của cả

tỉnh và khu vực ven biển Nam Vịnh Bắc Bộ [91].

Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thu hút đầu tư phát

triển nhanh các ngành kinh tế có lợi thế như cảng và dịch vụ hàng hải, cơng

nghiệp hóa dầu và sản phẩm từ dầu, cơng nghiệp điện, đóng và sửa chữa tàu

biển, du lịch biển, đảo, thủy sản và hậu cần nghề cá, phát triển nơng nghiệp

theo hướng sản xuất hàng hóa an tồn và bền vững…

Phát triển kinh tế biển gắn với tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi

trường. Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, giảm nghèo, xây dựng nông thôn

mới, cải thiện đời sống dân cư vùng biển; tăng cường năng lực ứng phó với

biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Phát triển Vùng ven biển đặt trong mối

quan hệ liên vùng với khu vực ven biển Vịnh Bắc Bộ. Kết hợp phát triển kinh

tế với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, lợi ích quốc gia

trên biển.

Quyết định số 355/QĐ-UBND tỉnh phê duyệt dự tốn kinh phí Chương

trình quan trắc tổng hợp mơi trường biển tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 20162020[97], quyết định này căn cứ vào quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày

17/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quản lý tổng

hợp đới bờ Việt nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Thông tư của

Bộ TNMT Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường nước biển (bao gồm cá

trầm tích đáy và sinh vật biển).



99

3.2.2. Phân tích thực trạng xây dựng và giám sát thực hiện quy

hoạch, kế hoạch về kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa

Tỉnh chủ động xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch về kinh tế

biển trên một số lĩnh vực.

Về du lịch biển tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động các nguồn lực đưa

du lịch Thanh Hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2020; đến năm

2025 thành một ngành cơng nghiệp “khơng khói”, đóng góp quan trọng vào

phát triển KT-XH của tỉnh và trở thành một trong những trọng điểm du lịch

của cả nước. Cụ thể là Tỉnh đã rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể

phát triển du lịch Thanh Hóa và qui hoạch phát triển các khu, điểm du lịch:

Sầm Sơn; Hải Yến; Động Từ Thức; Hải Hòa…; Ưu tiên và tạo điều kiện cho

các nhà đầu tư được lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500. Ưu tiên nguồn lực đầu

tư xây dựng Thành phố Sầm Sơn trở thành đô thị du lịch quốc gia. Tăng

cường hợp tác, liên kết với các tỉnh, thành phố, các cơng ty du lịch để hình

thành các tour du lịch. Từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan

trọng đóng góp tỷ trọng cao trong kinh tế dịch vụ của tỉnh.

Để nâng cao chất lượng và tính khả thi của các quy hoạch phát triển du

lịch, Tỉnh đã mời chun gia nước ngồi có năng lực, kinh nghiệm tham gia

tư vấn điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và các khu, điểm du

lịch quốc gia, chú trọng hoạt động phản biện xã hội về quy hoạch phát triển

du lịch tỉnh Thanh Hóa, đảm bảo tính hài hòa về lợi ích giữa nhà đầu tư - nhà

nước - người dân. Khảo sát 600 cán bộ, người dân 6 địa phương ven biển, thì

có 232/600= 38,6% cho rằng quản lý phát triển du lịch là hướng đúng.

Ủy ban nhân dân tỉnh chủ động quản lý và phát triển các loại hình du lịch,

phân nhóm xây dựng quy hoạch về du lịch như: Nhóm di tích Cách mạng,

nhóm lịch sử văn hố, nhóm danh lam thắng cảnh, Nhóm sinh thái bảo tồn

thiên nhiên, nhóm di tích khảo cổ. Tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng biển,

vùng bờ, quy định chức năng sử dụng biển, vùng bờ chuyển hóa thành việc xây



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.3:Khối lượng hàng hóa vận chuyển trên địa bàn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×