Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo giá so sánh 2010)

Theo giá so sánh 2010)

Tải bản đầy đủ - 0trang

83

1,15 tỷ đô la, so với năm 2010 gấp 2,9 lần. Hạ tầng các khu du lịch được đầu

tư nâng cấp, văn hóa du lịch được nâng lên, mơi trường du lịch được cải

thiện, lượng khách và doanh thu du lịch tăng cao. Dịch vụ vận tải ngày càng

đa dạng, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân. Dịch vụ bưu

chính- viễn thơng phát triển mạnh, là một trong những tỉnh có mật độ điện

thoại cao ước đạt 79,02 máy/100 dân. Dịch vụ ngân hàng phát triển theo

hướng hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu người dân.

Cơ cấu vùng kinh tế chuyển dịch rõ nét tạo đà hình thành các vùng kinh

tế động lực, khu kinh tế, các KCN và các vùng sản xuất nơng nghiệp hàng hóa

chun canh phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương. Phân bố

doanh nghiệp ngày càng hợp lý, từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối

giữa các vùng, miền; tỷ trọng doanh nghiệp vùng đồng bằng chiếm 60%,

vùng biển chiếm 26%, vùng miền núi chiếm 14%.

Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, năm 2015 tỷ lệ lao động làm

việc trong ngành nông, lâm, thủy sản giảm 11,2%, ngành công nghiệp- xây

dựng tăng 8,4%, dịch vụ tăng 2,8% so với năm 2010.[23].

Chương trình phát triển Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp,

công nghệ cao đạt kết quả quan trọng. Kết cấu hạ tầng đầu tư theo hướng

đồng bộ, hiện đại. Khu kinh tế Nghi Sơn đã được điều chỉnh quy hoạch mở

rộng, khu công nghiệp Lam Sơn- Sao vàng được quy hoạch và triển khai bước

đầu. Trong 5 năm, đã có 115 dự án (9 dự án FDI) với tổng vốn đăng ký

39.777 tỷ đồng và 2.453,34 triệu đô la; điều chỉnh tăng vốn đầu tư 26 dự án

(08 dự án FDI) với số vốn tăng thêm 18.225 tỷ đồng và 3.122 triệu đô la; tổng

giá trị sản xuất của các doanh nghiệp ước đạt 67.700 lao động (Chưa tính

khoảng 35.000 lao động xây dựng dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn). Một số dự án

trọng điểm, có tác động lan tỏa lớn được đẩy nhanh tiến độ, đặc biệt dự án lọc

hóa dầu Nghi Sơn. Năng lực bốc xếp hàng hóa qua cảng Nghi Sơn năm 2015

ước đạt 10 triệu tấn gấp 2,5 lần năm 2010.



84

Chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đạt

kết quả tích cực, các chỉ tiêu chủ yếu của chương trình như: Tốc độ tăng

trưởng ngành nơng, lâm, thủy sản; sản lượng lương thực; tỷ lệ dân số nông

thôn được dùng nước hợp vệ sinh...vượt kế hoạch; nhiều mô hình sản xuất có

giá trị thu nhập cao được nhân ra diện rộng. Việc tái cơ cấu ngành nông

nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh

theo Nghị quyết số 16- NQ/TU của Tỉnh ủy được tập trung chỉ đạo. Xây dựng

nông thôn mới đạt kết quả tích cực; bộ mặt nơng thơn có nhiều khởi sắc; một

số địa phương có cách làm sáng tạo, phù hợp điều kiện thực tế, được nhân dân

đồng tình, ủng hộ. Đến cuối năm 2016 đã có 180 xã và 335 thơn, bản (trong

đó có 203 bản miền núi) và một huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

3.1.2. Tiềm năng và kết quả trong quản lý kinh tế biển cuả tỉnh

Thanh Hoá

3.1.2.1. Tiềm năng và kết quả khai thác về tài nguyên thuỷ sản

Nằm ở vị trí địa lý có điều kiện và thế mạnh để phát triển tồn diện

kinh tế biển, trong đó khai thác và ni trồng thủy sản là một thế mạnh có thể

đột phá. Với chủ trương phát triển kinh tế biển, đảo với tốc độ tăng trưởng

bình quân giai đoạn 2016- 2020 đạt 14-15% /năm.Vùng biển Thanh Hóa chịu

ảnh hưởng của các dòng hải lưu nóng và lạnh chảy theo hướng Đơng BắcTây Nam. Đồng thời có các sơng lớn như sơng Mã, sơng Chu chảy ra biển

hàng năm cung cấp nhiều tỷ mét khối phù sa, từ đó hình thành nên những bãi

cá, tơm quần tụ có trữ lượng lớn so với các vùng biển khác ở phía Bắc và

Trung Bộ. Với đầy đủ chủng loại, thành phần các loại cá có trong vịnh Bắc

Bộ và xác định có hơn 120 lồi, thuộc 82 giống, 58 họ, gần 53 loài cá nổi, 69

loài cá đáy, tơm biển 12 lồi. Tổng trữ lượng khoảng 140-165 nghìn tấn, khả

năng khai thác 60-70 nghìn tấn, trong đó cá nổi chiếm 60% và cá đáy chiếm

40% . Ngồi ra, còn có các loại đặc thủy sản khác như ốc hương, tôm hùm, cá

song, cá mú trú ngụ xung quanh đảo hòn mê [62; 63; 64].



85

Tỉnh có vùng biển với các ngư trường khai thác chính gồm: Bãi cá nổi

ngang Hòn Nẹ đến ngang cửa Lạch Ghép; bãi cá đáy Hòn Nẹ đến Lạch Hới;

Các bãi tơm Hòn Nẹ- Lạch Ghép và bãi tôm Lạch Bạng- Lạch Quèn.

Cùng với lượng hải sản trên biển, diện tích ni trồng thủy sản ven biển

đối với nước mặn và nước lợ có khoảng 7.700 ha ni chủ yếu là tơm thẻ

chân trắng, tôm sú, ngao...Tỉnh giành quỹ đất cho nuôi trồng thủy sản: 15.667

ha phục vụ cho mục tiêu kế hoạch phát triển ngành thủy sản, mục tiêu này

đúng bằng với chỉ tiêu quốc gia phân bổ theo CV1927/ TTg- KTN.

Về năng lực khai thác hải sản: Tổng phương tiện khai thác thủy sản

năm 2010 là 8.713 chiếc, năm 2015 giảm xuống còn 7.488 chiếc. Số lượng

tàu cá đánh bắt xa bờ tăng từ 636 (năm 2010) tàu lên 1.051 tàu năm 2015

(tăng 415 tàu). Tỉnh đã có chính sách giảm tàu đánh bắt gần bờ, tăng tàu đánh

bắt xa bờ đến đầu năm 2018, số tàu đánh bắt xa bờ loại từ 90CV trở lên đã lên

tới 1.801 chiếc chiếm 24,2% trong tổng số tàu. Năng lực khai thác thủy sản

tăng nhanh, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả đánh bắt và phát triển các

ngành nghề chế biến.

Bảng 3.1 : Số lượng tàu thuyền và sản lượng khai thác

STT



Nội dung

1 Tổng số tàu,



1

2

2



thuyền

Loại dưới 20CV

Loại 20<50CV

Loại 50- <90CV

Loại 90-<400CV

Loại >400CV

S.lượng

khai thác



Đ.vị



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



tính

Chiếc



2010

8.611



2012

7.293



2014

7.294



2015

7.414



2016

7.325



2017

7.445



Chiếc

Chiếc

Chiếc

Chiếc

Chiếc

Tấn



6.740

601

510

731

29

74.047



5.422

431

424

942

74

80.13



4.674

401

413

1.206

130

87.27



4.647

429

412

1.291

295

94.36



4.185

429

412

1.349

295

100,2



4.185

410

394

1.394

407

107,1



8



3



8



58



40



Nguồn : [68]

Về sản lượng khai thác: Sản lượng khai thác tăng 74.047 tấn năm 2010

lên 77.491 tấn năm 2011(tăng 102%). Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn

2010-2015 đạt 12,07%/ năm. Đến năm 2016 đã tăng lên 100.258 tấn, năm



86

2017: 107.140 tấn (Bảng 3.1). Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 20102017 đạt gần 14%/ năm. Đã có bước chuyển dịch theo hướng khai thác vươn

khơi, đánh bắt các lồi cá có giá trị xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, giảm

dần khai thác ven bờ, thể hiện rõ ở số lượng tàu có cơng suất từ 400CV trở lên

tăng từ 29 chiếc năm 2010 lên 107 chiếc năm 2013 và năm 2015 là 256 chiếc.

Số lượng tàu thuyền khai thác đánh bắt gần bờ và xa bờ cho đến hết tháng

12/2017 đã được đăng ký trong tồn tỉnh là 7.447 tàu với cơng suất lên đến

600.236CV, với lực lượng lao động 27.856 người. Tàu có cơng suất từ 90 CV

trở lên ngày càng phát triển là 1.801 chiếc, trong đó tàu có cơng suất từ

400CV trở lên 407 chiếc. Sản lượng khai thác đã tăng lên 106,400 tấn.

Nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ: Diện tích ni nước mặn, nước

lợ ổn định trong giai đoạn 2010-2016 là 10.442 ha, sản lượng tăng nhanh,

tăng từ 81.370 tấn năm 2010 lên 120.764 tấn năm 2016, tốc độ tăng bình qn

đạt 14,8%/ năm. Trong cơ cấu Nơng- Lâm- Thủy sản của tỉnh, mặc dù chưa

tăng nhanh như du lịch, nhưng ngành thủy sản đang từng bước ổn định và

đang tăng dần từ 14,42 % năm 2010 lên 18,09% năm 2016 ( Hình 3.2)

Năm 2010



Năm 2016



87



Hình 3.2: Thủy sản tăng dần trong cơ cấu Nông- Lâm nghiệp- Thủy sản

Nguồn: [47].

Chế biến thủy sản: Giai đoạn 2010- 2015, giá trị gia tăng sản phẩm chế

biến bình quân đạt 13,5%/ năm. Tính đến hết tháng 12/2015, tồn tỉnh có 81

doanh nghiệp chế biến, kinh doanh thủy sản với tổng vốn đầu tư khoảng

1.111,8 tỷ đồng, tổng công suất khoảng 279.870 tấn sản phẩm thủy sản/ năm

(trong đó có 11 doanh nghiệp chế biến nước mắn và dạng mắn; 9 doanh

nghiệp chế biến bột cá; 25 doanh nghiệp chế biến đông lạnh; 36 doanh nghiệp

chế biến hàng khô, cá hấp, sản phẩm thủy sản khác) và gần 1.000 cơ sở sản

xuất tham gia chế biến thủy sản.

Hậu cần- dịch vụ nghề cá: Các cơng trình cảng cá, các khu chợ, bến

bãi, khu neo đậu thuyền, hệ thống báo hiệu bảo đảm an toàn hàng hải,...đã

được đầu tư xây dựng. Các cảng cá như: Lạch Bạng, Hòa Lộc, các âu trú bão

Lạch Hới, Lạch Bạng; âu trú bão Lạch Trường, các bến cá Hoằng Phụ, Hải

Châu, các khu nuôi trồng thủy sản Nga Thủy, Nga Tân, Hoằng Châu, Quảng

Chính, Quảng Khe, Xuân Lộc.

3.1.2.2. Tiềm năng và kết quả kinh tế hàng hải, cảng biển



88

Vùng biển của tỉnh có nhiều tuyến đường biển quan trọng. Mạng lưới

giao thơng đường biển cũng có những điều kiện khá thuận lợi. Tồn tỉnh có

102 km bờ biển với 5 cửa lạch nối liền Thanh Hóa với hầu hết các cảng biển

của các tỉnh ven biển Việt nam. Khối lượng hàng hóa vận tài băng đường biển

ngày cảng tăng lên, nhưng so với đường bộ còn khiêm tốn (Hình 3.3). Dự

kiến đến năm 2025 hàng hóa vận tải trên biển ngang với khối lượng đường

bộ, mà giá thành vận tải lại rẻ hơn.

Đơn vị tính: Nghìn tấn



Hình 3.3:Khối lượng hàng hóa vận chuyển trên địa bàn.

Nguồn[47]

Hiện nay, đang hoàn thành và đã đưa vào khai thác sử dụng 2 cảng biển

lớn là cảng Lệ Môn và cảng nước sâu Nghi Sơn. Cảng biển Lệ Môn gồm 3

bến cảng: Bến cảng Lệ Môn, bến cảng xăng dầu Quảng Hưng và bến cảng

xăng dầu Hồng Sơn. Bên cạnh đó, bờ biển của tỉnh còn có 5 cửa lạch lớn, có

một số đảo gần bờ có thể xây dựng cảng biển và phát triển vận tải biển. Tại

đảo Mê hình thành cảng nước sâu trong tương lai, đảo Nghi Sơn xây dựng

cảng đón tàu trọng tải lớn. Cảng Nghi Sơn là cảng tổng hợp quốc gia, là đầu

mối khu vực loại 1, đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa, phục vụ KKT

Nghi Sơn, vùng kinh tế Bắc Trung Bộ và các khu vực phụ cận. Cảng có khả

năng tiếp nhận tàu có trọng tải lớn từ 30.000 - 50.000 tấn. Các cảng biển có



89

tiềm năng lớn: Cảng biển Nghi Sơn gồm 3 bến cảng: bến cảng tổng hợp địa

phương, bến cảng Nhiệt điện Nghi Sơn và bến cảng xi măng Nghi Sơn. Hệ

thống cảng biển của tỉnh đưa vào sử dụng với 12 cầu cảng trong đó cảng biển

Lệ Mơn có 4 cầu cảng, cảng biển Nghi Sơn có 8 cầu cảng. Vốn đầu tư cho

cảng biển ngày một nâng cao.

Dự kiến, từ nay đến năm 2020, cảng Nghi Sơn sẽ được đầu tư mở rộng

lên 30 bến, lượng hàng hóa thơng qua cảng ước đạt 15 đến 20 triệu tấn/năm.

Hiện tại, tỉnh Thanh Hóa đã cấp phép đầu tư cho 15 bến, trong đó có 3 bến đã

đưa vào khai thác. Lãnh đạo tỉnh và đơn vị khai thác cảng nước sâu Nghi Sơn

hy vọng, với việc đón con tàu vận tải lớn nhất từ trước đến nay cập cảng an

toàn ngay đầu năm 2018 sẽ thúc đẩy lưu lượng tàu thuyền vào cảng này trong

thời gian tới ngày cảng tấp nập hơn.

Hàng hóa xếp dỡ qua cảng chủ yếu qua cảng Nghi Sơn với lượng hàng hóa

xếp dỡ chiếm trên 85% tổng lượng hàng hóa. Năm 2011, hàng hóa xếp dỡ qua

cảng tăng 44,67% so với năm 2010. Tuy nhiên, năm 2012, do những khó khăn

trong ngành vận tải biển nên lượng hàng hóa xếp dỡ tụt xuống còn 2.338 nghìn

tấn (giảm 12,1% so với năm 2011). Năm 2015, với sự tham gia của một số

doanh nghiệp vận tải biển nước ngồi, lượng hàng hóa xếp dỡ qua cảng tăng lên

4.582 nghìn tấn ( tăng 59,45%) so với năm 2012. Đây là tín hiệu tốt cho ngành

vận tải biển trong nước cũng như trên thế giới. Đến 5/2018, cảng nước sâu Nghi

Sơn đã đón được tầu có trọng tải hơn 100.000 tấn ra vào cảng. Phát triển hệ

thống cảng biển đồng bộ giữa cảng, tuyến luồng và các dịch vụ hàng hải, kết hợp

với giao thông đường bộ và đường thủy tạo thành mạng lưới giao thông liên

hoàn phục vụ đắc lực phát triển KT-XH, kinh tế biển đạt hiệu quả đầu tư cao.

Đến nay, hoàn thành cơ bản hệ thống cảng biển trong Vùng đi kèm với phát triển

các dịch vụ cảng biển, kho bãi, hàng hải, thu hút đầu tư từng bước phát triển đội

tàu vận tải biển để mở rộng giao thương quốc tế và du lịch biển.

Cảng có tính chất điểm nhấn là cảng Nghi Sơn- Hòn Mê: Đây là bến

cảng tổng hợp, bến container, các bến chuyên dụng phục vụ KKT Nghi Sơn



90

(Bến suất nhà máy lọc hóa dầu, than nhiệt điện, xi măng, cơng nghiệp đóng

tàu, xuất, nhập xăng dầu...), cảng này được Chính phủ xác định là cảng loại 1

trong hệ thống cảng biển Việt nam. (Phụ lục 4). Tuy nhiên, quan khảo sát có

đến 37% trả lời là thực hiện vốn đầu tư còn chậm so với tiến độ (Phụ lục 1).

Cùng với cảng biển, khu kinh tế Nghi Sơn (KKT) cũng là điểm nhấn đối

với kinh tế biển Thanh Hóa. Đến nay KKT Nghi Sơn đã thu hút được 175 dự

án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 110.000 tỷ đồng và 19 dự án

có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 12,8 tỷ đô la. Đã vadf đang xây

dựng chuỗi liên kết trong lĩnh vực công nghiêp- thương mại. Tỉnh quan tâm

trang bị cho doanh nghiệp những kiến thức về quản trị trong bối cảnh nền

kinh tế cạnh tranh. Theo kế hoạch các phân xưởng nhà máy lọc dầu Nghi Sơn

tháng 7/2018 đã chạy thử đạt 50% công suất, đến tháng 10/2018 chạy thử

100% công suất, đến cuối năm nhà máy chính thức vận hành thương mại.

Bộ Giao thơng vận tải đã ban hành Thông tư số 44/2016/TT-BGTV

(ngày 26/12/2016) công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận tỉnh Thanh

Hóa và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Thanh Hóa.

Theo đó, vùng nước cảng biển Thanh Hóa bao gồm: vùng nước cảng tại

khu vực Lệ Môn; vùng nước cảng biển tại khu vực Nghi Sơn [6].



Hình 3.4. Cảng Nghi Sơn - Ảnh: Internet

Do đó Cục Hàng hải Việt Nam cơng bố vùng đón trả hoa tiêu, vùng

kiểm dịch, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão cho tàu thuyền ra, vào

cảng biển và khu nước, vùng nước khác theo quy định. Cảng vụ Hàng hải

Thanh Hóa thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Hàng



91

hải Việt Nam và quy định có liên quan của pháp luật đối với hoạt động hàng

hải tại vùng nước cảng biển thuộc địa bàn của tỉnh.

Căn cứ vào tình hình thực tế của cảng biển nước sâu Nghi Sơn, nơi đưa

đón tàu thuyền có trọng tải lớn với nhiều loại hàng hóa khác nhau, quy định vị

trí cụ thể cho tàu thuyền đón trả hoa tiêu, kiểm dịch, neo đậu, chuyển tải và

tránh bão trong vùng nước theo quy định, bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh

hàng hải và bảo vệ mơi trường…

Từ đó, Tỉnh đã chủ động, xây dựng hệ thống cảng tổng hợp, cảng

chuyên dùng để có cơ sở hồn chỉnh cụm cảng nước sâu Nghi Sơn theo quy

hoạch, đảm bảo công suất đạt 40- 44 triệu tấn/năm [26, tr.81,82]. Hiện KKT

Nghi Sơn đã thu hút được 175 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký

110.000 tỷ đồng và 19 dự án có vốn đầu tư nước ngồi với tổng vốn đầu tư

12,86 tỷ USD. Tỉnh còn chú trọng nâng cao năng lực khai thác cảng Lễ Môn,

xây dựng mới Cảng Quảng Châu. Xây dựng hệ thống Cảng bến thủy nội địa:

Hới, Hàm Rồng,...phục vụ vận chuyển hàng hóa và hành khách.

3.1.2.3. Tiềm năng và kết quả du lịch biển

Với đường bờ biển dài 102km, Thanh Hóa có nhiều bãi tắm đẹp như

Sầm Sơn (Thành phố Sầm Sơn), Hải Tiến (huyện Hoằng Hóa), Hải Hòa

(huyện Tĩnh Gia), trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến biển Sầm Sơn nằm cách

TP. Thanh Hóa 16 km về phía đơng nam. Đây là một trong những khu du lịch

nghỉ mát nổi tiếng của Việt Nam, được người Pháp khai thác từ những năm

đầu thế kỷ 20. Chạy dài gần 6 km từ cửa Lạch Hới đến chân núi Trường Lệ,

Sầm Sơn có bãi cát thoai thoải, sóng mạnh, nước trong xanh và nồng độ muối

vừa phải, rất tốt cho sức khoẻ con người. Ngoài bãi tắm đẹp, thiên nhiên còn

ưu ái ban tặng cho Sầm Sơn nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo như hòn

Trống Mái, đền Ðộc Cước, núi Cô Tiên... Để du lịch phát triển nhanh và bền

vững, tỉnh Thanh Hóa xác định du lịch biển, đảo sẽ trở thành sản phẩm du

lịch mũi nhọn của tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn 2030. Theo đó, tỉnh Thanh

Hóa phấn đấu mục tiêu đến năm 2025, sản phẩm du lịch mũi nhọn biển, đảo



92

sẽ được hình thành rõ nét, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ hiện

đại, chất lượng, hấp dẫn khách du lịch; đến năm 2030, sản phẩm du lịch mũi

nhọn trở thành sản phẩm có vị trí quan trọng trong vùng Bắc Trung bộ và cả

khu vực Bắc Bộ, thúc đẩy tối ưu các sản phẩm du lịch khác thành những mũi

nhọn mới [44]. Là tỉnh có lợi thế về du lịch, hiện nay tỉnh đang đưa vào khai

thác sử dụng 3 khu du lịch biển: Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa. Lượng khách

đến du lịch hàng năm chiếm tỷ lệ cao so với tổng lượng khách của cả tỉnh

(chiếm khoảng 66%). Năm 2011 thực hiện đón được 2.102 nghìn lượt khách.

Năm 2015 số lượng khách đến các khu du lịch biển là 4.767 nghìn lượt tăng

14,7 lần so với năm 2014. Đến năm 2017, số khách du lịch tăng vọt lên 6.500

nghìn lượt và số nghỉ dưỡng chiếm trên 80% tổng lượng khách và thu khoảng

85% doanh thu du lịch toàn tỉnh.

Bảng 3.2. Số lượt khách du lịch đến Thanh Hóa ngày càng tăng

Năm

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017



Khách trong nước



Khách quốc tế



Số ngày khách do các cơ



(Nghìnlượt người)

2.187,4

2.752.2

2.995,3

3.269,2

3.763,2

4.236,5

5.050,2

6.400,0



(Nghìn lượt người)

12,4

17,5

19,1

32,8

37,3

43,2

50,7

100,0



sở lưu trú phục vụ (Ngày)

3.390,4

3.526,4

4.763,7

5.320,8

6.171,4

7.056,5

8.437,2

10.102.0



Nguồn: [47].

Thực hiện kế hoạch phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn phù

hợp với quy hoạch phát triển KT-XH, theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có

trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu, đảm bảo chất

lượng, hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh, phù hợp

mục tiêu chuyển đổi mơ hình tăng trưởng theo chiều rộng, sang phát triển hài

hòa giữa chiều rộng và chiều sâu của chiến lược phát triển KT-XH của tỉnh,

với ba trọng điểm phát triển du lịch của tỉnh thì du lịch biển và vùng ven biển

chiếm hai trọng điểm:



93

Cụm thành phố Thanh Hóa - Sầm Sơn - Hải Tiến: với 3 khu điển hình là

du lịch sinh thái núi Trường Lệ thị xã Sầm Sơn với diện tích 471ha

(QĐ70/QĐUB ngày 10/11/2011 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt

quy hoạch chi tiết khu du lịch cao cấp Trường Lệ); Khu du lịch sinh thái

Quảng Cư 200 ha (QĐ1421/QĐUB ngày 4/5/2013 của UBND tỉnh Thanh

Hóa về việc phê duyệt chi tiết khu du lịch sinh thái Quảng Cư); Khu du lịch

sinh thái biển Hải Tiến với diện tích 400ha (QĐ số 1314/QĐ-CT ngày

21/4/2004 của UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng

Khu du lịch sinh thái biển Hải Tiến); Hoạt động du lịch tại trọng điểm này gắn

với du lịch nghỉ dưỡng biển (đa dạng hóa hình thức kinh doanh và sở hữu), du

lịch đô thị (thành phố Thanh Hóa), du lịch tìm hiểu lịch sử - cách mạng ( Lam

Kinh, Ngọc Trạo..) du lịch tìm hiểu khảo cổ - lịch sử (Thành nhà Hồ..). Biển

Hòn Mê là vùng biển còn ẩn chứa nhiều bí mật, trong tương lai có thể nghiên

cứu phát triển du lịch sinh thái biển tại biển Hòn Mê. Trong cụm này, Thành

phố Sầm Sơn được xác định là Đô thị du lịch trọng điểm.

Cụm Nghi Sơn - Bến En: Hoạt động du lịch tập trung đáp ứng nhu cầu

nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động của các doanh nhân, chuyên gia, người lao động ở

khu Kinh tế Nghi Sơn. Phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng rừng ở Vườn

Quốc gia Bến En cũng là một định hướng quan trọng của trọng điểm này.

Số lượng điểm vui chơi, giải trí ngày một được xây dựng và hồn thiện.

Năm 2010 có một điểm vui chơi giải trí ở Sầm Sơn, đến nay hạ tầng các khu

du lịch biển tiếp tục được đầu tư nâng cấp, đã hoàn thành trên 35 km đường

tại các khu điểm du lịch ven biển, vùng biển Hải Tiến đã có điểm vui chơi,

nhảy dù, Hải Hòa 1 điểm vui chơi, giải trí. Khu đơ thị sinh thái hai bên bờ

sông Đơ (thành phố Sầm Sơn), khu du lịch sinh thái đảo Nghi Sơn, khu du

lịch biển Hải Ninh, đặc biệt tại Sầm Sơn, dự án “sân golf và khu nghỉ dưỡng

quốc tế FLC SamsonGolfLinks“ với diện tích 459 ha, tổng mức đù tư gần

5.500 tỷ đồng đã được khởi công và đưa vào sử dụng. Dự án được đánh giá là



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo giá so sánh 2010)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×