Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

9

Định nghĩa này đã khái quát tương đối đầy đủ các ngành nghề của kinh

tế biển. Tuy nhiên, các học giả chưa đề cập đến một số ngành nghề khác như

chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, cảng biển,…

Xu Zhibin chia thành “ba cấp độ của nền kinh tế biển” [109]. Ông tin

rằng bản chất của các tài sản gắn liền với kinh tế biển không chỉ khác nhau từ

các điểm phân giới cắm mốc đất nền kinh tế biển, mà còn để xác định kinh tế

biển chủ yếu dựa vào nội dung phù hợp với mức độ hoạt động kinh tế liên

quan đến biển. Kinh tế biển có thể được chia thành ba cấp độ sau đây: (i) kinh

tế biển theo nghĩa hẹp, đề cập đến sự phát triển và sử dụng các nguồn tài

nguyên biển, nước biển và khơng gian biển và sự hình thành của nền kinh tế,

(ii) kinh tế biển theo nghĩa rộng, đề cập đến việc cung cấp các điều kiện kinh

tế cho các hoạt động phát triển hàng hải, bao gồm cả kinh tế biển và thu hẹp

giao diện của ngành công nghiệp, cũng như sản xuất thiết bị chung đất và

biển, vv; ; (iii) kinh tế trên đảo, cũng như hệ thống đất ven biển cơng nghiệp,

trong đó có nền kinh tế đảo và nền kinh tế ven biển.

Charles S. Colgan tin rằng “kinh tế biển là những hoạt động có nguồn

gốc từ biển. Cụ thể gồm hoạt động liên quan đến biển như khai thác biển, hải

sản và ngành vận tải biển” [112].

Một định nghĩa tương tự được Park, đề xuất sau khi tiến hành một

nghiên cứu rộng về các định nghĩa và nhận thức khác nhau trên thế giới về

kinh tế biển. Theo họ, “Kinh tế biển là các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển

và cả các hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ liên quan đến biển” [113].

Nói cách khác, kinh tế biển có thể được định nghĩa là các hoạt động kinh tế

trực tiếp hoặc gián tiếp diễn ra trên biển, khai thác đại dương để tạo ra hàng

hoá và dịch vụ.

Theo quan điểm của OECD, bất cứ một định nghĩa nào về kinh tế biển

được coi là đầy đủ cũng cần phải bao gồm các nguồn dự trữ tài nguyên thiên

nhiên khơng thể định lượng và các hàng hóa và dịch vụ phi thị trường của hệ

sinh thái biển (Hình 1.1).



10



Hình 1.1. Khái niệm về kinh tế biển

Nguồn: OECD, The Ocean Economy in 2030

Richard Bunroughs trong cơng trình Coastal Grovermance - Quản trị

vùng ven biển,[106] đã chỉ ra những thách thức đối với vùng ven biển trong

quá trình phát triển kinh tế xã hội, những hoạt động sản xuất không gắn liền

với kinh tế ven biển cũng được phân tích, chỉ ra các yếu tố liên quan đến việc

quản lý đối với sự phát triển của kinh tế ven biển như khai thác dầu, đánh cá,

quản lý nước thải…nghiên cứu này cũng đề cập đến q trình quản lý thực thi

chính sách và áp dụng đối với việc phát triển kinh tế biển.

William H.Arery trong cơng trình “Năng lượng có thể thay mới từ Đại

dương” (Renewwable Energy From the Ocean) ) [117] đã nghiên cứu các

hoạt động công nghệ thông tin trên biển, khẳng định việc sử dụng năng lượng

tái tạo đang phát triển và mở rộng ứng dụng trên toàn cầu.

Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Nghiên cứu và quản lý vùng ven biển

Việt Nam” tháng 12/1992, Giáo sư Joe Baler của Viện Khoa học biển Autralia



11

đã dẫn ra mộ số định nghĩa về dải ven biển như sau: Đầu tiên ông cho rằng:

“Dài ven biển là độ dài đường bờ biển của đất nước” (The lineal of the

country’s coastlene) [114] . Nhưng cũng theo ông, định nghĩa này chưa thật

thỏa đáng vì nó khơng thể hiện được sự tương tác giữa biển và lục địa cũng

như những biến đổi diễn ra do mối tương tác đó. Vì vậy, ông đưa ra định

nghĩa khác: “vùng ven biển là dải đất rộng khoảng 3 km dọc đường bờ biển”.

Tuy định nghĩa này đã đề cập đến sự tương tác biển – lục địa thông qua tác

động của thủy triều, song vẫn còn những hạn chế, nhất là khi nghiên cứu

những vấn đề liên quan đến sử dụng đất đai, thổ nhưỡng và các vấn đề về

kinh tế - xã hội của dải ven biển. Sau cùng ông đưa ra định nghĩa: “vùng ven

biển là vùng đất – biển kéo dài từ giới hạn phía trên của lưu vực các sơng,

suối chảy vào biển tới giới hạn ảnh hưởng của lục địa”. Tuy nhiên, nếu định

nghĩa này thì vùng ven biển nước ta có phạm vi rất rộng và hầu như bao trùm

tồn bộ lãnh thổ của Việt Nam. Khi đó việc xác định nội dung nghiên cứu,

trọng điểm nghiên cứu và quy hoạch phát triển vùng ven biển ở nước ta sẽ

gặp nhiều khó khăn, khơng cụ thể và khơng sát với thực tế.

1.1.2. Những nghiên cứu về quản lý nhà nước về kinh tế biển

Dương Kim Thâm, Lương Hải Tân, Hồng Minh Lỗ trong cơng

trình“Chiến lược khai thác biển của Trung Quốc” [62] đã đề cập khá toàn

diện đến các nội dung của quản lý kinh tế biển ở Trung Quốc như: Khai thác

hải sản, phát triển kinh tế hàng hải, phát triển du lịch biển,.. Các tác giả khơng

chỉ phân tích hiện trạng của các ngành này trong hiện tại, mà còn đưa ra các

dự báo về trữ lượng hải sản, vạch ra chiến lược phát triển của những ngành

này trong tương lai, cũng như đưa ra một số khuyến nghị chính sách phát kinh

tế biển. Các tác giả chú ý đặc biệt đến ngành thủy sản, đã khảo sát trữ lượng

đánh bắt hải sản của Trung Quốc và kiến nghị Nhà nước Trung Quốc phải có

các chính sách quản lý thích hợp để phát triển một cách đồng bộ ngành thủy

sản từ đánh bắt, nuôi trồng tới chế biến và xuất khẩu thủy sản.



12

David K.Y.Chu trong công trình “Friyian: Tỉnh ven biểu trong quá

trình chuyển đổi và biến đổi” (Fiyian: A coastal Province in Transition an

Transformation) )[113] đã khái quát quá trình quản lý phát triển kinh tế biển

ở Fiyian trên các khía cạnh nơng nghiệp, phát triển kinh doanh và thu hút vốn

đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài vào phát triển khu vực này. Các chiến

lược chính sách được thực thi đối với việc phát triển kinh tế ven biển ở khu

vực này đã được các tác giả phân tích về phương diện thực tiễn của Fiyian.

“The Asian experiencein developing the marintime sector: Some case

studies and lessons for Malaysia - Kinh nghiệm quản lý, phát triển kinh tế biển

của một số nước Châu Á và bài học cho Malaysia” của Nazery Khalid, Armi

Suzana Zamil và Farida Farid [113] đã nêu bật vai trò và tầm quan trọng của

ngành khai thác tài nguyên biển, đặc biệt là khai thác dầu khí. Một trong các vấn

đề quan trọng mà cơng trình nghiên cứu trên đã chỉ ra là khai thác khoáng sản là

ngành rất dễ gây ơ nhiễm mơi trường. Do đó, Nhà nước phải có chính sách về

quản lý khai thác nguồn tài ngun biển để sao cho hoạt động khai thác vừa có

hiệu quả lại không ảnh hưởng tới vấn đề ô nhiễm mơi trường.

Các nhà kinh tế Trung Quốc đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về các

khu kinh tế ven biển. Các tác giả này coi các khu kinh tế ven biển như là cực

tăng trưởng tạo động lực cho sự phát triển các ngành kinh tế khác trong nội

địa. Theo họ, vai trò của các khu kinh tế ven biển như là “cửa sổ” để mở cửa

ra với bên ngoài thông qua thu hút FDI và đẩy mạnh xuất khẩu, “cực tăng

trưởng” để lôi kéo các vùng khác trong cả nước phát triển, “phòng thí

nghiệm” của cải cách thể chế trong cả nước. Các tác giả này đã chỉ ra chiến

lược chính sách quản lý để phát triển khu kinh tế ven biển thông qua một số

bước như: (1) Xây dựng các đặc khu kinh tế; (2) Tăng cường mở cửa thành

phố cảng ven biển; (3) xây dựng khu kinh tế tự do ven biển.

Trung Quốc đã rất thành công trong việc áp dụng các mơ hình quản lý

để phát triển ở dải ven biển. Các đặc khu kinh tế ven biển như Thâm Quyến,



13

Chu Hải, Phúc Kiến, Sán Dầu…đã tạo được tốc độ tăng trưởng rất cao trong

thời gian dài và trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy các vùng khác trong

nước. Các mơ hình kinh tế du lịch, cảng biển, kinh tế làng nghề…được thực

hiện ở nhiều địa phương ven biển cũng tạo ra sự phát triển năng động và đóng

góp lớn cho nền kinh tế của địa phương (tỉnh Quảng Tây chỉ có hơn 500 km

bờ biển nhưng hàng năm biển đã đóng góp tới 37-38% GDP của tỉnh). Bài

học lớn của Trung Quốc là quản lý tốt để đầu tư có trọng điểm và lồng ghép

có hiệu quả vấn đề mơi trường sinh thái trong các quy hoạch phát triển vùng

ven biển.

Thái Lan cũng đã quản lý nhà nước về kinh tế biển, nên đã thu được

những kết quả quan trọng trong phát triển các khu cơng nghiệp, các mơ hình

kinh tế du lịch, cảng biển…ở ven biển phía Tây và mơ hình kinh tế du lịch,

các làng chài ở ven biển phía Đơng. Đặc biệt, Thái Lan đã rất thành công

trong việc nghiên cứu và áp dụng mơ hình sử dụng hợp lý tài nguyên môi

trường biển và ven biển trong phát triển tổng hợp khu vực cửa sơng ven biển

Pak Phanang.

Có thể nói, những bài học kinh nghiệm về quản lý để phát triển dải ven

biển nói chung và các mơ hình quản lý để phát triển KT-XH điển hình ven

biển nói riêng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là một số nước trong khu vực

đã mở ra những triển vọng lớn cho việc tổ chức nghiên cứu và áp dụng các

mô hình quản lý để phát triển phù hợp đối với ven biển Việt Nam.

“State of the U.S. Ocean and Coastal Economies: 2016 Update” của

các tác giả: Judith T. Kildow, Charles S. Colgan, Pat Johnston, Dr. Jason D.

Scorse và Maren Gardiner Farnum cho rằng, so với các quốc gia có biển khác

trên thế giới thì kinh tế biển, kinh tế ven biển của Mỹ đóng góp một giá trị

khơng tương xứng cao cho nền kinh tế nước này. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu

giai đoạn 2010-2014 để phân tích, đánh giá sự phát triển nền kinh tế biển,

kinh tế ven biển của Mỹ. Trong chương 2 nghiên cứu về nền kinh tế ven biển,



14

nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2010-2014, nền kinh tế Mỹ phục hồi từ

cuộc suy thoái nghiêm trọng của giai đoạn 2007-2009. Tăng trưởng GDP cả

nước trung bình 1,8%/năm, việc làm tăng trưởng trung bình 1,6%/năm. Nhờ có

mơ hình phát triển kinh tế phù hợp mà tốc độ tăng trưởng việc làm ở các khu

vực ven biển là rất lớn, tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng trưởng của dân số. Tuy nhiên,

đây chỉ là một đánh giá đơn thuần dựa trên số liệu thực tế, chưa có sự phân tích

sâu sắc tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự quản lý để phát triển kinh

tế biển, kinh tế ven biển của Mỹ giai đoạn 2010-2014.

“The estimation of the ocean economy and coastal economy in South

Korea - Dự báo kinh tế biển và kinh tế ven biển ở Hàn Quốc” của tác giả

Kwang Seo Park khẳng định rằng, Hàn Quốc có ngành cơng nghiệp biển,

cơng nghiệp tàu thủy hàng đầu thế giới, dịch vụ vận tải biển và dịch vụ cảng

biển cũng có khả năng cạnh tranh đẳng cấp thế giới. Tuy nhiên, tác giả cho

rằng, rất khó để biết được quy mơ và tình trạng của các ngành công nghiệp

đại dương trong nền kinh tế quốc gia Hàn Quốc vì nước này chưa có thống kê

riêng đối với kinh tế biển, kinh tế ven biển.

Như vậy, các học giả nước ngồi đã có những nghiên cứu có giá trị về

các khái niệm, quan điểm đối với kinh tế biển. Nhìn chung có thể khái qt

rằng mặc dù còn có những khác biệt về quan điểm luật pháp cũng như chính

sách đối với một số đối tượng thuộc về kinh tế biển nhưng các học giả thống

nhất với nhau ở điểm chung cho rằng, kinh tế biển là một phạm trù có vị trí

vai trò riêng, đủ để phân lập thành một lĩnh vực riêng để nghiên cứu, ra những

quy định pháp lý và có những biện pháp chính sách riêng. Nội hàm kinh tế

biển có thể quan niệm rộng hẹp khác nhau nhưng ít nhất nó bao gồm tất cả

những ngành sản xuất gắn với các đối tượng sản xuất ở vùng biển và ven

biển. Việc nhà nước có những biện pháp đối với những đối tượng thuộc về

kinh tế biển có thể coi là nội dung QLNN về kinh tế biển bao gồm chủ yếu là

khn khổ pháp luật và hệ thống chính sách. Hệ thống này đòi hỏi tính chuấn



15

mực chung vì nó liên quan đến các công ước quốc tế về biển, về kinh tế biển

và các ngành sản xuất, vận tải gắn với biển.

1.2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI



1.2.1. Những nghiên cứu về kinh tế biển

Ở Việt Nam, nghiên cứu về biển và kinh tế biển đã có khá nhiều cơng

trình nghiên cứu phục vụ cho nhu cầu luật pháp, chính sách và quản lý trong

những năm vừa qua.

Trước hết là về khái niệm “kinh tế biển”. Trong cuốn sách “Phát triển

kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam” của Đào Duy Quát và Phạm

Văn Linh đã đưa ra khái niệm kinh tế biển cũng có thể được hiểu theo nhiều khía

cạnh, trong đó có quan điểm cho rằng: “kinh tế biển là hoạt động kinh tế có ba

lợi ích kinh tế phục vụ con người rõ ràng nhất là vận tải đường biển, khai thác

nguồn tài nguyên phong phú của biển và du lịch, viễn thơng” [52].

Khi nói về khái niệm kinh tế biển, tác giả Huỳnh Văn Thanh trong

Giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế biển thành

phố Đà nẵng, Đề tài Khoa học cấp Thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư,

UBND Tỉnh Đà Nẵng cũng đã đưa ra quan điểm:

Kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế trên

biển với các hoạt động kinh tế trên đất liền, trong đó biển chủ yếu

đóng vai trò khai thác nguyên liệu, cho hoạt động vận tải, hoạt động

du lịch trên biển, còn hầu hết các hoạt động tổ chức sản xuất, chế

biển, hậu cần dịch vụ phục vụ khai thác biển lại nằm trên đất

liền[78].

Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật của những thập kỷ

gần đây làm cho con người có thể khai thác, sử dụng nhiều loại tài nguyên

thiên nhiên của biển và đại dương .

Theo Bùi Tất Thắng trong bài viết về “Chiến lược kinh tế biển: Cách

tiếp cận và những nội dung chính” [65] thì cho rằng khái niệm kinh tế biển



16

vẫn là khái niệm còn chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, trong

phân tích và thống kê kinh tế, việc quy ước nội dung kinh tế biển lại không

phải vấn đề gây nhiều tranh cãi về mặt học thuật. Về cơ bản, kinh tế biển là

khái niệm mang tính thực tiễn, nghĩa là người ta có thể không tranh cãi nhiều

về bản thân các ngành nghề thuộc kinh tế biển, mà phần phải bàn cãi nhiều

hơn lại thuộc về lĩnh vực liên quan và không phải diễn ra trên biển. Do tính

đặc thù của mơi trường biển, mọi hoạt động kinh tế biển đều liên quan mật

thiết và được quyết định từ trong đất liền, nên khơng thể nói về kinh tế biển

mà khơng tính tới những hoạt động kinh tế liên quan đến biển ở vùng duyên

hải- vùng ven biển. Vùng ven biển phải được coi như một khu vực gắn với

biển và kinh tế biển.

Trong báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam

(IOC), Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các Chương trình điều tra nghiên cứu

biển của Việt Nam giai đoạn 1977-2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển

như sau: Vùng ven biển Việt Nam chạy dài trên 3260 km bờ biển của đất

nước, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼

dân số cả nước Vùng ven biển phải được coi như một khu vực gắn với biển và

kinh tế biển.

Như vậy, các học giả Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu và có kết

quả khẳng định về những khái niệm cơ bản về kinh tế biển. Các nghiên cứu

này có kế thừa rõ rệt các nghiên cứu quốc tế và do vậy khơng có sự khác biệt

với các kết quả nghiên cứu quốc tế. Luật Biển Việt Nam đã được ban hành

năm 2012 đánh dấu thành tự nghiên cứu về luật pháp và chính sách đối với

kinh tế biển. Các phạm trù như biển, vùng biển, vùng ven biển, kinh tế biển,

các ngành kinh tế biển đã được làm rõ và đưa vào ngơn ngữ thể chế luật pháp

và chính sách. Đồng thời, các biện pháp QLNN về biển và kinh tế biển cũng

đã được chính thức thừa nhận.



17

Kỷ yếu Hội thảo: Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển thủy sản Việt

Nam, do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế, Trung tâm phát triển Cộng

đồng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…phối hợp tổ chức. 22 bài

tham luận tại Hội thảo cho thấy, khai thác tiềm năng biển, sử dụng các nguồn

lực biển ở nước ta trong thời gia qua đã được coi trọng nên đã đem lại lợi ích

tích cực cho cơng cuộc phát triển kinh tế. Các ngành khai thác đem lại hiệu quả

cao như: dầu khí, thủy sản, du lịch, cảng biển… đã đóng góp đáng kể vào tăng

trương của kinh tế biển và ngày càng khẳng định vị thế quan trọng, chủ lực trong

nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, hiệu quả thu được trong phát triển kinh tế nhờ

lợi thế kinh tế biển chưa đúng tiềm năng kinh tế vốn có của nó. Chính vì vậy cần

phải xây dựng tầm nhìn chiến lược đối với việc phát triển thủy sản và kinh tế

biển ở Việt Nam trong giai đoạn tới. Các giải pháp phát triển kinh tế biển và phát

triển thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn tới nên hướng tới mục tiêu huy động

tối đa nguồn lực trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên của vùng biển.

Hội nghị Xúc tiến đầu tư kinh tế biển Việt Nam với mục tiêu góp phần

nhận diện rõ các tiềm năng và triển vọng của tài nguyên biển và kinh tế biển

của Việt Nam; tìm kiếm giải pháp và đóng góp ý kiến cho việc hoạch định

chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam. Hội nghị cũng chú trọng vào

việc xúc tiến các hoạt động quản lý, đầu tư, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư

trong và ngoài nước gặp gỡ trao đổi và tìm kiếm cơ hội đầu tư.

Diễn đàn Kinh tế Biển Việt Nam với chủ đề “Động lực và thách thức

cho sự phát triển của khu kinh tế ven biển Việt Nam” [13] tổ chức tại Thành

phố Nha Trang. Tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường

Nguyễn Văn Đức khẳng định: “Chúng ta cũng chưa có được nguồn nhân lực

mạnh và một hạ tầng kỹ thuật cần thiết, nhất là các thiết bị công nghệ hiện đại

khảo sát nghiên cứu để phục vụ cho sự phát triển kinh tế biển. Bên cạnh đó,

cuộc sống của phần lớn cư dân ven biển, những người trực tiếp tham gia vào

việc khai thác tài nguyên biển còn gặp nhiều khó khăn, chịu nhiều rủi ro từ



18

thiên tai, có nhiều bấp bênh”. Hội thảo cho rằng để phát triển kinh tế biển

trong giai đoạn tới một trong các giải pháp là tập trung nguồn lực xây dựng

các tuyến giao thông ven biển nối liền các khu kinh tế làm cơ sở tạo mối liên

kết, tương hỗ lẫn nhau giữa các khu kinh tế ven biển, làm tiền đề hình thành

trục động lực phát triển ven biển.

Cuốn sách “Vấn đề phát triển các khu kinh tế mở hiện đại vùng ven

biển Việt Nam” của Nguyễn Quang Thái, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà

Nội [74] đã chỉ ra những thành công trong việc phát triển các khu kinh tế đặc

biệt nói chung, các khu kinh tế mở hiện đại ven biển nói riêng. Tác giả cho

rằng, để tiếp tục triển khai mạnh mẽ hơn nữa việc phát triển các khu kinh tế

mở hiện đại ven biển cần quan tâm tới hai vấn đề then chốt đó là 1) Cần đầu

tư tập trung hơn, hiện đại hơn để phát huy các lợi thế ven biển; 2) Có cơ chế

quản lý mở vùng ven biển để thích ứng với tình hình mới.

Cuốn sách “Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam”

của Đào Huy Quát và Phạm Văn Linh [52], đã tập trung nghiên cứu các vấn

đề về quản lý, điều tra, khai thác tài nguyên biển đảo, phát triển kinh tế hàng

hải, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam.

Nguyễn Bá Diến với nghiên cứu: “Chính sách, pháp luật biển của Việt

Nam và chiến lược phát triển bền vững” được thực hiện trong khuôn khổ Dự

án “các nguyên tắc trong thực tiễn quản lý biển và đới bờ”,[14] giữa Đại học

Quốc gia Hà Nội, trường đại học Dalhousie (Canada) và Trường Đại học

Visâys (Philipin) dưới sự tài trợ của cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Canada.

Nội dung của nghiên cứu trình bày tổng quan về: chính sách, pháp luật về biển

và nguyên tắc phát triển bền vững; phân tích thực trạng và đề xuất một số kiến

nghị, giải pháp hồn thiện chính sách quản lý biển của Việt Nam trong giai

đoạn hiện nay; giới thiệu về một số hoạt động hợp tác quốc tế trong khai thác,

quản lý biển giữa Việt Nam và các nước trong khu vực; nghiên cứu cung cấp

những kiến thức, thơng tin cơ bản, tồn diện, hệ thống về biển của Việt Nam,



19

về chiến lược quản lý để phát triển bền vững trong lĩnh vực biển, tổng quan về

chính sách, thực trạng, yêu cầu và một số giảip pháp hoàn thiện hệ thống pháp

luật hiện hành về quản lý biển và hàng hải Việt Nam.

1.2.2. Những nghiên cứu về quản lý nhà nước về kinh tế biển

Đề tài cấp Nhà nước, “Chiến lược phát triển kinh tế biển Đông của một

số nước Đông Á - Tác động và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” của tác giả

Chu Đức Dũng [15]. Trong đề tài này, tác giả đã trình bày một cách tồn diện

những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về quản lý để phát triển kinh tế biển.

Tác giả đã nêu lên một số quan điểm khá mới mẻ về kinh tế biển như: quản lý

tổng hợp biển, phát triển trung tâm kinh tế biển; phát triển kinh tế biển trong

mối quan hệ chặt chẽ với biến đổi khí hậu, mơi trường và phát triển bền vững.

Tác giả đã nghiên cứu kỹ lưỡng và sâu sắc kinh nghiệm phát triển kinh tế biển

của một số nước Đơng Á, điển hình là Trung Quốc và các nước Đông Nam Á,

rút ra một số vấn đề chung có tính qui luật và có những gợi ý chính sách cụ

thể đối với quản lý để phát triển kinh tế biển của Việt Nam.

Ban Tuyên giáo Trung ương đã xuất bản tài liệu: “Chiến lược biển Việt

Nam: Từ quan điểm tới thực tiễn” [5], trong đó đã làm nổi bật được tiềm năng

biển đảo Việt Nam cũng như các vấn đề thực tiễn của kinh tế biển Việt Nam,

đặc biệt là việc gắn kết giữa phát triển kinh tế biển và an ninh biển đảo. Vấn

đề bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam cũng được đề cập đến ở đây.

Luận án tiến sỹ kinh tế của Lại Lâm Anh về chủ đề: Quản lý kinh tế

biển: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào Việt Nam,[2] Viện Hàn lâm Khoa

học Xã hội. Luận án đã hệ thống hoá các vấn đề về quản lý kinh tế biển. Từ

các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh tế biển được rút ra từ thực tiễn

phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, kết hợp với

nghiên cứu thực tiễn Việt Nam, đề tài đề cập đến quan điểm, tư duy, chiến

lược phát triển kinh tế biển đúng đắn: phù hợp với thực tiễn phát triển của đất

nước, phù hợp với xu thế tồn cấu hóa và hội nhập quốc tế, đề tài đưa ra một



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×