Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hội Truyền giáo Phúc âm liên hiệp

Hội Truyền giáo Phúc âm liên hiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của luận án

Đối với lịch sử phát triển của một tôn giáo, hoạt động truyền giáo là cơ sở

quyết định việc tơn giáo đó có tạo được chỗ đứng vững chắc tại một miền đất

mới hay không. Truyền giáo là phương pháp bảo vệ sự sinh tồn vững mạnh của

một tôn giáo. Đặc biệt đối với đạo Tin Lành, hoạt động truyền giáo luôn được

đặt lên hàng đầu vì đó là nhiệm vụ, trách nhiệm và sứ mệnh vinh quang (theo lời

Chúa) của từng cá nhân tín đồ. Sứ mệnh truyền giáo được đề cao bởi mệnh lệnh

của Chúa Giêsu ghi trong Kinh Thánh: “Nhưng khi Thánh-Linh giáng trên các

ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền năng, rồi làm chứng nhân cho ta tại Giêru-sa-lem, cả Giu-đê, Sa-ma-ri, và cho đến cùng trái đất” (Công vụ các sứ đồ

1:8); “Hãy đi khắp thế gian, giảng tin lành cho mọi người” (Mac 16:15); và “Hãy

đi khiến muôn dân trở nên môn-đồ ta, làm báp-têm cho họ nhơn danh Cha, Con,

và Thánh-Linh” (Ma-thi-ơ 28: 19-20)[57]. Do vậy, tìm hiểu về hoạt động truyền

giáo của đạo Tin Lành là tìm hiểu về tồn bộ những hoạt động chủ yếu của tôn

giáo này. Trong bối cảnh đạo Tin Lành đang phát triển đột biến tại Việt Nam hiện

nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu về truyền giáo của đạo Tin Lành mang ý nghĩa

khoa học và thực tiễn sâu sắc.

Đạo Tin Lành là một tôn giáo lớn trên thế giới, đứng hàng thứ 3 về số

lượng tín đồ và phạm vi hoạt động chỉ sau Islam giáo và Công giáo. Đạo Tin

Lành có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống chính trị - xã hội, trong tâm lí, lối

sống, phong tục tập quán của nhiều nước. Đặc biệt đạo Tin Lành là tôn giáo hoạt

động khá năng động, nghi lễ, lối sống đạo nhẹ nhàng đơn giản, đề cao vai trò cá

nhân, tinh thần dân chủ nên nó khơng chỉ phù hợp với tâm lí, lối sống của xã hội

cơng nghiệp mà còn thích ứng với các cộng đồng dân tộc thiểu số. Vì vậy, mặc

dù ra đời muộn hơn so với các tôn giáo lớn khác nhưng đạo Tin Lành đã phát

triển rất nhanh chóng trên phạm vi tồn thế giới, đặc biệt ở những nước cơng

nghiệp phát triển.

Ở Việt Nam đạo Tin Lành bắt đầu du nhập và phát triển từ đầu thế kỉ XX.

Thời kì đầu do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu là do bị

chính quyền thực dân Pháp ngăn cấm nên đạo Tin Lành phát triển chậm. Chỉ đến

7



thời kì đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam (1954 – 1975), đạo Tin Lành mới có

mơi trường thuận lợi để phát triển mạnh mẽ ở các khu vực tại miền Nam. Sau

ngày miền Nam hồn tồn giải phóng, Việt Nam thống nhất, do nhiều nguyên

nhân khách quan và chủ quan, đạo Tin Lành ở miền Nam bị hạn chế. Thời gian

gần đây, đạo Tin Lành đã phát triển trở lại với tốc độ nhanh đột biến, đặc biệt

trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Hiện nay có những địa phương số

người theo đạo Tin Lành tăng gấp vài ba lần, thậm chí có nơi tăng gấp cả chục

lần so với năm 1975. Việc đạo Tin Lành phát triển nhanh đột biến trong thời gian

qua đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cần phải giải quyết, thu hút sự quan

tâm của các nhà nghiên cứu, các cấp, các ngành có liên quan.

Trung Quốc là quốc gia láng giềng với Việt Nam và là nước có ảnh hưởng

sâu sắc đến văn hố, xã hội nước ta, có cùng thể chế chính trị là chế độ xã hội

chủ nghĩa. Hơn nữa Trung Quốc là một trong những con đường đạo Tin Lành đi

qua khi truyền giáo vào Việt Nam.

So với Việt Nam, đạo Tin Lành được du nhập vào Trung Quốc sớm hơn

khoảng một trăm năm. Mốc thời gian đánh dấu đạo Tin Lành du nhập vào Trung

Quốc là năm 1807. Giai đoạn đầu do triều đình nhà Thanh thực thi chính sách

đóng cửa tự thủ, cấm người nước ngoài truyền giáo cùng với sự khác biệt về lối

sống văn hóa nên đạo Tin Lành phát triển rất chậm. Sau hai cuộc chiến tranh nha

phiến năm 1840 và 1860 các hệ phái Tin Lành Phương Tây đã phái hàng ngàn

giáo sĩ đến Trung Quốc truyền giáo, xây dựng các cơ sở y tế, giáo dục, từ thiện

xã hội. Tuy nhiên, kết quả phát triển đạo cũng chưa được như mong muốn của

các giáo sĩ. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949,

Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện việc dẫn dắt các tôn giáo đi theo chủ nghĩa

xã hội, đạo Tin Lành đã dần đi vào ổn định và phát triển nhanh chóng. Điều đáng

chú ý là vào thời kì này đạo Tin Lành ở Trung Quốc phát triển theo mơ hình

riêng, đặc biệt chỉ có ở Trung Quốc, đó là sự hình thành Phong trào Tin Lành

Yêu nước Tam tự (tự trị, tự dưỡng, tự truyền). Nhưng điều này hiện nay đang đặt

Chính phủ Trung Quốc đứng trước thách thức khơng nhỏ, vì trên thực tế ngồi

bộ phận tín đồ đạo Tin Lành nằm trong Phong trào Tam Tự vẫn còn một bộ phận

Hội Thánh tư gia khơng đăng kí với chính quyền đang phát triển một cách rất

phức tạp và không kiểm sốt nổi.

8



Trong điều kiện hội nhập quốc tế, việc tìm hiểu, so sánh đạo Tin Lành ở

nước ta với đạo Tin Lành ở nước láng giềng Trung Quốc, nhất là trong giai đoạn

từ buổi đầu truyền giáo đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới cải cách mở cửa, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong truyền giáo

của đạo Tin Lành ở hai nước để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong việc ứng

xử với tôn giáo này là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lí luận và thực tiễn. Đây là

giai đoạn hai nước có những bối cảnh biến động chính trị khá giống nhau, cùng

từ chế độ nửa phong kiến nửa thuộc địa, trải qua cuộc đấu tranh giành độc lập và

xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề này vẫn còn

bỏ trống, chưa được quan tâm nghiên cứu. Từ lí do trên, tôi chọn đề tài: Hoạt

động truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung Quốc ( từ khởi đầu

đến đổi mới – cải cách mở cửa) làm đề tài luận án tiến sĩ Tôn giáo học.

2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1. Mục đích của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt

Nam và Trung Quốc chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình

truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai quốc gia này giai đoạn từ buổi đầu đến khi

hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới - cải cách mở cửa. Từ đó thấy

được hệ luận của việc truyền giáo đối với sự phát triển của đạo Tin Lành và mức

độ ảnh hưởng qua lại giữa đạo Tin Lành với xã hội bản địa nơi nó đến truyền

giáo.

2.2. Nhiệm vụ của luận án

Để thực hiện mục đích trên, luận án đặt ra nhiệm vụ:

- Tìm hiểu bối cảnh chính trị, văn hố, xã hội, tơn giáo ở mỗi nước khi đạo

Tin Lành bắt đầu du nhập.

- Trình bày quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam cũng như ở

Trung Quốc giai đoạn từ khi du nhập đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính

sách đổi mới - cải cách mở cửa.

- Tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong truyền giáo của đạo

Tin Lành ở hai nước.

- Chỉ ra được những hệ luận của truyền giáo đối với sự phát triển của đạo

Tin Lành.

9



3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động truyền giáo của đạo Tin

Lành tại hai nước Việt Nam và Trung Quốc, bao gồm những vấn đề như: chủ thể

truyền giáo, đối tượng truyền giáo, phương pháp truyền giáo và mức độ ảnh

hưởng qua lại giữa đạo Tin Lành và chính trị, xã hội của hai nước.

- Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào giai đoạn từ khi đạo Tin

Lành du nhập đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới - cải cách

mở cửa.

4. Cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu

4. 1. Cơ sở lí thuyết

Tơn giáo là một hiện tượng văn hóa - xã hội phức tạp, có thể nói nó là một

thể văn hóa thống nhất nhiều tầng diện. Tơn giáo vừa có tính cộng đồng vừa có

tính riêng tư cá nhân, vừa có tính dân tộc vừa có tính thế giới, vừa có cở sở xã

hội vừa có cơ sở tâm lí, vừa có tính duy lí vừa có tính duy tình, vừa có niềm tin

theo đuổi cái thiêng liêng cao cả lại vừa có sự suy tư đi tìm cái thực tại trong

cuộc sống nhân gian hiện thực. Tơn giáo có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển

và hưng suy của văn hóa tinh thần nhân loại. Xét từ góc độ bảo tồn văn hóa dân

tộc và hoằng dương giá trị văn hóa dân tộc, tơn giáo chính là yếu tố chuyển tải

linh hồn của dân tộc và là chất môi giới của giao lưu văn hóa.

Ngành tơn giáo học hiện nay sử dụng nhiều lí thuyết trong q trình

nghiên cứu tơn giáo. Trong luận án này tác giả chủ yếu sử dụng những lí thuyết

sau:

- Lí thuyết sử học tơn giáo: Sử học tôn giáo là xuất phát từ lịch sử phát

triển mà tôn giáo đã trải qua để nhận thức về bản thân tơn giáo. Nhiệm vụ của nó

là nghiên cứu sự thực lịch sử của các loại tôn giáo, vạch ra con đường phát triển

lịch sử của nó. Sử học tôn giáo là cơ sở cho các chuyên ngành khác của tơn giáo

học, có mối liên hệ mật thiết với sử học, khảo cổ học. Nó nghiên cứu tơn giáo

thơng qua mô tả lịch sử, khảo sát ngôn ngữ, thực tiễn khảo cổ. Tác giả sử dụng lí

thuyết này để chiếu rọi những sự kiện lịch sử đã diễn ra trên khía cạnh nó tác

động như thế nào đến vấn đề truyền giáo.

- Lí thuyết xã hội học tơn giáo: xã hội học tơn giáo hình thành vào đầu

thế kỉ XX. Học giả người Pháp Emile Durkheim (1858 - 1917) khi nghiên cứu

10



vấn đề tôn giáo xã hội nguyên thủy và học giả người Đức Max Weber (1864 –

1920) khi nghiên cứu vấn đề tôn giáo xã hội công nghiệp đã có những cống hiến

độc đáo, từ đó sáng lập nên hệ thống xã hội học tôn giáo. Xã hội học tơn giáo lí

giải tơn giáo là sự tồn tại khách quan của xã hội. Bộ môn này quan tâm đến tơn

giáo vì tơn giáo là một hiện tượng xã hội. Tôn giáo vừa chịu sự chế ước của sự

phát triển xã hội, vừa có liên quan nhất định với đồn thể xã hội. Xã hội học tơn

giáo nghiên cứu tác dụng và quan hệ tương hỗ của tôn giáo với xã hội, tìm hiểu ý

nghĩa tơn giáo của đồn thể xã hội con người, nhu cầu và bài xích của xã hội đối

với tôn giáo và sự phân bố tôn giáo trong các giai tầng xã hội, ý nghĩa của tơn

giáo truyền bá trong xã hội. Lí thuyết về xã hội học tơn giáo cho rằng tơn giáo

chính là nhân tố kết cấu của xã hội lồi người có nội dung hết sức hiện thực. Tôn

giáo là một loại hiện tượng xã hội, thần thánh chính là biểu trưng của thể thống

nhất xã hội. Biểu trưng tơn giáo chính là biểu hiện của sự đoàn kết hợp nhất

trong xã hội, cũng giống như biểu trưng của dân tộc, chính trị trong xã hội hiện

đại có ý nghĩa to lớn đối với sự sinh tồn của xã hội. Xã hội học tơn giáo khi lí

giải “tơn giáo” thường sử dụng khái niệm chức năng, tức là “thuyết chức năng”,

nhấn mạnh chức năng, tác dụng của tơn giáo trong đồn thể xã hội. Sử dụng lí

thuyết này tác giả chủ yếu quan tâm đến chức năng xã hội của đạo Tin Lành.

- Lí thuyết địa - tơn giáo: địa - tơn giáo ra đời ở nước Đức với các học giả

đại diện như Immanuel Kant (1724-1804), Alexander Von Humboldt (17691859) và Carl Ritter (1779-1859). Đây là bộ môn khoa học nghiên cứu mối quan

hệ tương hỗ giữa tôn giáo với không gian địa lí, nó nằm giữa tơn giáo học và địa

lí học nhân văn, chuyên nghiên cứu những vấn đề có tính hỗ trợ lẫn nhau giữa

tơn giáo và khu vực địa lí. Địa - tơn giáo là sự kết hợp nghiên cứu tơn giáo với

nghiên cứu vị trí địa lí và mối quan hệ qua lại của các khu vực khác nhau trên

trái đất. Những vấn đề bộ môn địa - tôn giáo nghiên cứu bao gồm: sự phân bố và

biến hóa của tơn giáo trong các thời kì lịch sử khác nhau trên các khu vực địa lí

thế giới; ý nghĩa tôn giáo chứa đựng trong cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân

văn; sự phản ảnh và khúc xạ diện mạo địa lí đặc thù trong tơn giáo; hướng khu

vực địa lí mà tơn giáo truyền bá; tình trạng di chuyển của các quần thể tơn giáo;

đặc điểm địa lí của các tơn giáo và thánh địa của các tôn giáo trên khắp thế giới.



11



Tôi sử dụng lí thuyết này để thấy được tính chất vùng miền ảnh hưởng như thế

nào đến sự phát triển của đạo Tin Lành tại Việt Nam và Trung Quốc.

- Lí thuyết văn hóa học tơn giáo: đại diện khai phá lí thuyết này là các

nhà khoa học như Max Weber, Malinowski, Christopher Dawson, Arnold Joseph

Toynbee và Ernst Cassier.

Lí thuyết này đứng chân trên văn hóa thế tục để giải thích, trình bày những

đặc tính, địa vị cơng năng, bản chất và ý nghĩa nhân văn của tín ngưỡng, tơn

giáo. Nhấn mạnh mối quan hệ giữa tơn giáo và văn hóa.

Tác giả áp dụng những lí thuyết này để tìm hiểu mối liên hệ giữa đạo Tin

Lành với văn hóa, xã hội, chính trị ở Việt Nam và Trung Quốc, từ đó tìm ra đặc

điểm truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước này.

- Lí thuyết tơn giáo học so sánh: Nhà khoa học Friedrich Max Muller

(1823 – 1900) được coi là người đầu tiên sáng lập ra lí thuyết này với câu nói nổi

tiếng: “Người chỉ hiểu một tơn giáo, kì thực khơng hiểu một tơn giáo nào cả”.

Tơn giáo học so sánh lấy lịch sử tôn giáo làm cở sở, sử dụng một cách

khơng có phê phán thành quả nghiên cứu của sử học tôn giáo, nhưng không phát

triển theo “chiều dọc” của nghiên cứu lịch sử tôn giáo, mà chỉ nhấn mạnh sự so

sánh theo “chiều ngang” giữa các tơn giáo.

Tác giả áp dụng lí thuyết này để triển khai nghiên cứu về đạo Tin Lành ở

hai nước Việt Nam và Trung Quốc, tìm ra nét đặc thù, hiểu được sự tương đồng

và khác biệt trong quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước trên.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu của ngành tơn giáo

học, đó là phương pháp nghiên cứu lịch sử tơn giáo. Từ góc độ phát triển lịch sử

mà tôn giáo đã từng trải qua để nghiên cứu tôn giáo. Kết hợp với việc sử dụng

phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích văn bản lưu trữ và

phương pháp thống kê so sánh. Những phương pháp này cho tác giả nắm bắt

được thời gian du nhập, nhìn rõ được lịch sử truyền giáo và sự phát triển của đạo

Tin Lành tại Việt Nam và Trung Quốc; Phương pháp nghiên cứu khu vực được

sử dụng nhằm nhấn mạnh tính địa phương, tính đặc thù của khu vực nghiên cứu;

Phương pháp nghiên cứu so sánh giữa các tôn giáo. Phương pháp này chú ý sự

đa dạng về hình thức, chủng loại và sự khác nhau về khơng gian khu vực địa lí

12



của tơn giáo. Nó xuất phát từ so sánh các tơn giáo khác nhau để tìm bản chất và

ý nghĩa chung của tơn giáo, quy nạp các hình thức và đặc trưng điển hình của tơn

giáo. Phương pháp này được tác giả áp dụng để tìm ra điểm tương đồng và khác

biệt trong đặc điểm truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước Việt Nam và Trung

Quốc.

Dựa trên các cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu trên, tác giả sẽ

tiến hành so sánh hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành hai nước và hệ luận

của nó thơng qua ba chiều kích gồm: mơi trường chính trị, phương diện xã hội và

một phần chiều kích về văn hóa.

5. Đóng góp về mặt khoa học của luận án

- Đây là công trình khoa học đầu tiên phục dựng lại bức tranh tồn cảnh về

q trình truyền giáo và phát triển đạo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung

Quốc giai đoạn từ khi du nhập đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi

mới - cải cách mở cửa.

- Trên cơ sở làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong hoạt động truyền

giáo của đạo Tin Lành ở hai nước, luận án rút ra bài học kinh nghiệm giúp cho

các nhà quản lí tơn giáo có cái nhìn lịch sử cụ thể để thực hiện một cách có hiệu

quả cơng tác quản lí nhà nước đối với đạo Tin Lành ở Việt Nam trong điều kiện

đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế.

6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạt

động thực tiễn trong quá trình hoạch định chính sách tơn giáo và quản lí nhà

nước về tơn giáo nói chung và đối với đạo Tin Lành nói riêng.

- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

và giảng dạy về đạo Tin Lành tại các viện nghiên cứu, các học viện và các

trường đại học có bộ mơn tơn giáo học.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần lời cam đoan, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu

tham khảo, danh mục các cơng trình của tác giả có liên quan đến luận án đã công

bố, luận án gồm 4 chương với 19 tiết:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu



13



Chương 2: Hoạt động truyền giáo và quan hệ của đạo Tin Lành với đời

sống chính trị - xã hội ở Việt Nam từ khi du nhập đến khi đất nước bước vào thời

kì đổi mới (1911 - 1986)

Chương 3: Hoạt động truyền giáo và quan hệ của đạo Tin Lành với đời

sống chính trị - xã hội ở Trung Quốc từ khi du nhập đến khi đất nước bước vào

thời kì cải cách mở cửa (1807 -1979)

Chương 4: Những điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình truyền

giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung Quốc



14



Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Những cơng trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử truyền giáo

của đạo Tin Lành ở Việt Nam

Đạo Tin Lành là một tôn giáo lớn trên thế giới và có ảnh hưởng khơng nhỏ

tới đời sống văn hóa, xã hội của con người. Nghiên cứu về lịch sử truyền giáo

nói riêng và đạo Tin Lành nói chung đã được một số tác giả trong và ngồi nước

nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, ở Việt Nam, so với các tôn

giáo khác như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và Công giáo, đạo Tin Lành du

nhập muộn hơn rất nhiều, cho đến nay mới có lịch sử hơn 100 năm. Những cơng

trình nghiên cứu một cách tồn diện và có hệ thống về lịch sử truyền giáo của

đạo Tin Lành hiện nay còn rất khiêm tốn.

Về phía giới chức Tin Lành có các tác giả tiêu biểu như: Lê Hồng phu,

Đỗ Hữu Nghiêm, Jean Baubérot. Ngồi ra, còn có một số tác phẩm là hồi kí của

các mục sư, giáo sĩ truyền giáo đạo Tin Lành tại Việt Nam như mục sư Lê Văn

Thái, Đoàn Văn Miêng, I. R. stebbins, Phạm Văn Năm, v.v…

Những tác phẩm liên quan đến lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành nói

chung gồm có:

Tác phẩm “Lịch sử truyền giáo” của tác giả Lê Hoàng Phu (bản in romeo

khơng có năm xuất bản, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Tơn giáo) đã trình bày một

cách khá đầy đủ những sự kiện quan trọng trong công cuộc truyền giáo của đạo

Tin Lành suốt hai mươi thế kỷ kể từ khi chưa tách ra khỏi Công giáo và trình bày

một cách khái quát sự tăng trưởng của các Hội Thánh Tin Lành khắp thế giới.

Tác phẩm “Lịch sử đạo Tin Lành” của tác giả Jean Baubérot (Trần Sa

dịch, Nxb Thế giới, 2006) trình bày một cách khái quát quá trình ra đời và phát

triển của đạo Tin Lành. Theo ơng, đạo Tin Lành được hình thành từ các cuộc cải

cách tôn giáo ở Châu Âu thế kỉ XVI với 3 đặc trưng cơ bản: “chỉ có Chúa Trời”,

“chỉ có Kinh Thánh”, “Chỉ có ân điển”. Những điều khẳng định mang tính thần

học nền tảng này của cuộc cải cách tôn giáo là những nhân tố thuyết giáo căn

bản luôn luôn thường trực trong suốt lịch sử của đạo Tin Lành. Tác giả cũng



15



trình bày rõ tính đa dạng của đạo Tin Lành, những phong trào nhằm truyền bá và

phát triển đạo Tin Lành ra khắp thế giới.

Trong luận án tiến sĩ “Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (19111965)” (Trung tâm nghiên cứu Phúc Âm Sài Gòn, 1968 và được Nhà xuất bản

Tôn giáo cấp giấy phép xuất bản năm 2010) mục sư Lê Hoàng Phu đã khái quát

lịch sử du nhập và phát triển của đạo Tin Lành Việt Nam đến năm 1965. Trong

tác phẩm này tác giả đề cập đầy đủ và khá chi tiết về các sự kiện, giai đoạn lịch

sử của đạo Tin Lành ở Việt Nam, bao gồm từ sự khởi đầu của Hội Thánh qua cố

gắng của Hội Truyền giáo Phúc âm liên hiệp với sự thiết lập các hội thánh địa

phương đầu tiên, sự tổ chức chính thức của “Hội Thánh bản xứ” đến cuộc đấu

tranh sinh tồn, những thăng trầm trong quá trình truyền giáo và những kết quả

mà Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đạt được. Tuy nhiên, tác giả chỉ giới hạn đối

tượng nghiên cứu là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, còn các hội thánh, hệ phái

Tin Lành khác không được đề cập tới và thời gian cũng chỉ giới hạn đến năm

1965.

Tác giả Đỗ Hữu Nghiêm, trong luận văn thạc sĩ tại trường Đại học Văn

khoa Sài Gòn năm 1968 với nhan đề “Phương pháp truyền giáo của Tin Lành

giáo tại Việt Nam” đã phân tích khá sâu sắc hệ thống những phương pháp truyền

giáo mà các nhà truyền giáo áp dụng trong quá trình truyền giáo và phát triển

đạo Tin Lành ở Việt Nam. Qua hệ thống những phương pháp này người ta có thể

thấy những chuyển biến của các phương pháp theo thời gian và biến cố lịch sử,

đồng thời tác giả cũng trình bày những khó khăn về chính trị, luật pháp, văn hóa

truyền thống mà các nhà truyền giáo gặp phải trong quá trình truyền giáo. Tuy

nhiên, tác giả chỉ giới hạn thời gian nghiên cứu từ khi đạo Tin Lành du nhập vào

Việt Nam đến thời điểm tác giả làm luận văn năm 1968, trong đó, giai đoạn từ

sau khi hiệp định Genève được kí kết năm 1954 tác giả chỉ khảo cứu trên lãnh

thổ miền Nam Việt Nam. Các phương pháp truyền giáo mà tác giả Đỗ Hữu

Nghiêm thống kê bao gồm: phương pháp truyền giáo trực tiếp tại một địa điểm

cố định hoặc lưu động và phương pháp truyền giáo gián tiếp qua văn hóa, giáo

dục, y tế, hoạt động từ thiện xã hội.



16



Những tác phẩm là hồi kí của các mục sư, giáo sĩ truyền giáo Tin Lành

cũng là mảng tài liệu phong phú giúp chúng ta hình dung được những hoạt động

của đạo Tin Lành trong quá trình du nhập và phát triển tại Việt Nam.

Mục sư Lê Văn Thái, một nhân chứng có mặt trong Hội Thánh Tin Lành

Việt Nam từ những ngày đầu tiên, người được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng

trong Hội Thánh, trong cuốn hồi kí “Bốn mươi sáu năm trong chức vụ” (Cơ

quan xuất bản Tin Lành, 1971) của mình đã ghi chép lại rất chi tiết từ q trình

ơng tiếp xúc, tin nhận đạo Tin Lành cho đến khi trở thành một mục sư và tham

gia hoạt động truyền giáo. Cùng với hoạt động truyền giáo của tác giả là những

dấu ấn của các giai đoạn hình thành và phát triển của đạo Tin Lành ở Việt Nam

từ khi du nhập đến năm 1968, khi ông nghỉ hưu.

Cuốn “41 năm hầu việc Chúa với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam” của giáo

sĩ I. R. Stebbins là tư liệu lịch sử quan trọng. Đây là hồi kí của một trong những

vị giáo sĩ tiên phong đem đạo Tin Lành đến truyền bá tại Việt Nam. Trong cuốn

hồi kí này giáo sĩ Stebbins đã ghi lại những tháng năm đầu tiên gây dựng Hội

Thánh Tin Lành Việt Nam, những khó khăn, thách thức Hội Thánh đã trải qua

trong thời gian gần nửa thế kỉ ông sinh sống và truyền giáo tại Việt Nam.

Cuốn hồi kí “Dâng chọn cuộc đời” của mục sư Phạm Văn Năm và cuốn

tự truyện “Ân điển diệu kì” của mục sư Đồn Văn Miêng là những câu chuyện,

những trải nghiệm và những kinh nghiệm của các tác giả trong những năm làm

mục sư tại Việt Nam trước năm 1975. Các tác giả này đã đưa ra một bức tranh

toàn cảnh về hoạt động truyền giáo và niềm tin của họ với đạo Tin Lành trong

bối cảnh Việt Nam đương thời.

Nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam còn một

mảng tài liệu là những tạp chí do Hội Thánh Tin Lành phát hành, bao gồm:

“Thánh Kinh báo” với nội dung chủ yếu là tìm hiểu Kinh Thánh, hướng dẫn

sinh hoạt tơn giáo của tín đồ và bày tỏ lập trường chính thức của Hội Thánh Tin

Lành Việt Nam đối với những lĩnh vực thuộc xã hội trần thế; Nguyệt san “Hừng

đông” (năm 1965 đổi tên là “Rạng đông”) với chủ trương giới thiệu tín ngưỡng

đạo Tin Lành cho các độc giả ngồi đạo, tuy nhiên nội dung và kỹ thuật trình bày

thiên về hình thức dùng những đề tài có màu sắc thuần túy tôn giáo và Kinh

Thánh; “Bộ hồ sơ đăng ký hoạt động tôn giáo của các hệ phái Tin Lành tại Việt

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hội Truyền giáo Phúc âm liên hiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×