Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 1 MỞ ĐẦU

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

2

Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis(L) O.Kuntze, được phát hiện từ

rất sớm, vào khoảng 2700 trước công nguyên. Đầu tiên chè được sử dụng như một

dược liệu sau nhanh chóng trở thành một loại đồ uống phổ biến, mang tính văn hóa,

cổ truyền của nhiều dân tộc đặc biệt ở Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và nhiều

nước khác trên thế giới [8].

Từ lâu, tác dụng của việc uống chè đối với sức khỏe con người đã được làm

rõ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chè có tác dụng tốt với bệnh ung thư, bệnh tim

mạch, bệnh cao huyết áp, bệnh đường ruột, bệnh về răng và làm chậm q trình lão

hóa, tăng tuổi thọ [4]. Bên cạnh đó, polyphenol chè còn được sử dụng có hiệu quả

trong cơng nghiệp thực phẩm để thay thế có chất chống oxi hóa tổng hợp như BHA,

BHT dễ gây tác dụng phụ có hại [14], [15].

Theo worldatlas 2016, Việt Nam hiện nay đứng thứ 6 trên thế giới về sản

lượng chè được sản xuất hàng năm, trong đó phục vụ được cơng việc cho hơn 3

triệu lao động, đóng góp lớn vào q trình phát triển nơng thơn và giảm bớt đói

nghèo. Về xuất khẩu, Việt Nam nằm trong top 10 về xuất khẩu sản phẩm chè trên

thế giới, tuy nhiên vùng nguyên liệu chỉ đáp ứng 50% nhu cầu và đây cũng một trong

những nguyên nhân mà giá chè xuất khẩu của nước ta chỉ bằng một nửa giá chè bình

quân trên thế giới [16].

Thái Nguyên là tỉnh có diện tích trồng chè lớn, đứng thứ 2 cả nước sau Lâm

Đồng với diện tích hơn 18600ha [2]. Thái Nguyên được biết đến với nhiều sản

phẩm chè đạt chất lượng cao như chè Tân Cương, chè La Bằng... tuy nhiên chè ở

Việt Nam nói chung và chè Thái Nguyên nói riêng vẫn chưa tận dụng được hết

những lợi thế của mình. Các sản phẩm chế biến từ chè của nước ta thường chỉ được

thu hái từ búp chè đạt chất lượng cao, trong đó phần búp già, lá già, búp mù xòe và

búp kém chất lượng chiếm tỷ lệ đáng kể chưa được tận dụng hiệu quả để đưa vào

sản xuất mà chỉ được bán dưới dạng tươi với giá thành thấp phụ vụ nhu cầu uống



3



nước chè tươi của một số người dân [5, 7]. Với mong muốn góp phần phát triển sản

phẩm chè ngày càng đa dạng, tận dụng được nguồn nguyên liệu phế phụ phẩm tạo

ra sản phẩm tiện lợi, dễ sử dụng, phù hợp với mọi hộ gia đình, đặc biệt phù hợp với

nhịp sống công nghiệp hiện đại nên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

hồn thiện quy trình chế biến bột trà xanh hòa tan từ lá chè già quy mơ phòng thí

nghiệm”.

1.2.Mục tiêu và u cầu

1.2.1. Mục tiêu

Xây dựng quy trình cơng nghệ sản xuất trà xanh hòa tan từ lá chè già tiện ích

trong sử dụng, cơ bản mang hương vị sản phẩm truyền thống, góp phần đa dạng hóa

sản phẩm từ đó gia tăng giá trị và vị thế của cây chè.

1.2.2. Yêu cầu

- Xác định được nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn cơ đặc dịch chè

- Xác định nhiệt độ, thời gian sấy thích hợp nhất cho giai đoạn sấy khô tạo

bột chè

- Xây dựng quy trình cơng nghệ sản xuất bột chè xanh hòa tan từ lá chè già

quy mơ phòng thí nghiệm.

- Tính toán sơ bộ giá thành sản phẩm



4



5

PHẦN 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu về cây chè

1.1.1. Nguồn gốc của cây chè

Cây chè, tên khoa học là Camellia Sinensis (L) O.Kuntze.

Cây chè được người Trung Quốc cổ phát hiện vào khoảng 2007 năm trước

công nguyên. Đầu tiên chè được sử dụng như một thứ dược liệu, nhờ những đặc

tính tốt, chè nhanh chóng trở thành một thức uống mang tính dân tộc tại Trung

Quốc và nhiều quốc gia trên thế giới [8]. Nhiều cơng trình khảo sát trước đây cho

rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam Trung Quốc, nơi có khí

hậu ẩm ướt và ấm. Cũng theo các tài liệu này vùng biên giới Tây Bắc nước ta nằm

trong vùng nguyên sản của giống chè tự nhiên trên thế giới [12].

Năm 1923 R.Bruce đã phát hiện những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam

thuộc Ấn Độ, từ đó những học giả người Anh cho rằng nguyên sản của cây chè là

Ấn Độ chứ không phải Trung Quốc. Trong tất cả các tài liệu hầu như khơng có sự

nhất qn về xuất xứ của cây chè. Tuy nhiên bản thân cây chè là một cây vùng cận

nhiệt đới và theo các tài liệu ngày nay, chè có nguồn gốc từ vùng Đơng Nam Trung

Quốc, vùng Assame của Ấn Độ và vùng núi Phía Bắc của Việt Nam [6].

Năm 1951, Đào Thừa Trân (Trung Quốc) đưa ra thuyết chiết trung được

nhiều học giả thế giới công nhận. Theo thuyết này, cái nôi tự nhiên cây chè là khu

vực gió mùa Đơng Nam Á, vì ở Lào, Mianma, Vân Nam và Bắc Việt Nam đều có

những cây chè hoang dại. Các điều kiện về đất đai, khí hậu, lượng mưa của cả khu

vực này đều rất phù hợp với sự sinh trưởng của cây chè, hợp thành một vườn chè

nguyên thủy. Hơn nữa các cây chè mọc hoang dại tìm thấy rất nhiều dọc hai bờ các

con sơng lớn như: Kim Sa Giang, Phú Long Giang, Salouen, Irravadi, Mê Koong,

Bramapoutro...Các con sông này đều bắt nguồn từ dãy núi ở cao nguyên Tây Tạng.

Cây chè di thực về phía đơng qua tỉnh Tứ Xun, bị ảnh hưởng của khí hậu nên

biến thành giống chè lá nhỏ, di thực về phía nam và tây nam Ấn Độ, Mianma,

Annam (Việt Nam) biến thành giống chè lá to [6].



Năm 1974, Vekoven (J.Werkhoven, Hà Lan) chuyên viên của tổ chức lương

thực thế giới FAO, đã tổng kết trong cuốn Công nghệ chè (Tập san Nông nghiệp 26,

Rooma, 1974): “cây chè được Line xếp loại và đặt tên là Thea sinensis (L) có nguồn

gốc ở vùng Đông Nam Trung Quốc gần nguồn sông Irrawadi (Minama)’’.

Theo các tài liệu hiện nay, chè có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Trung

Quốc, vùng Asame của Ấn Độ và vùng núi phía Bắc của Việt Nam. Chè được trồng

ở nhiều nơi trên thế giới, trải dài từ 270N (Naatan của Arhentina) cho đến 43oB

(Grudia-láng giềng nước nga), được trồng tập trung ở những nước nhiệt đới và cận

nhiệt đới [12].

1.1.2. Phân loại chè

Cây chè nằm trong hệ thống ngành hạt kín Angiospermae, thuộc lớp song

diệp Dicotyledonae, thuộc lồi Camellia (Thea) sinesis L. Nó có tên khoa học là

Camellia Sinensis (L) O.kuntze và cũng có nghĩa là: Thea sinesis L [12].Có rất

nhiều cơ sở để phân loại chè, theo Cohen Stuart (1919) chè được phân thành các

loại sau:

Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var. Assamica): đây là loại chè có thuộc

nhóm cây độc thân, thân gỗ cao tới 17m phân cành thưa, lá dài tới 20 - 30cm, mỏng

mềm có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục, có phiến lá gợn sóng, đầu lá dài. Tuy

nhiên chúng khơng chịu được rét, nếu trồng ở khí hậu thích hợp có năng suất, phẩm

chất tốt. Chè Ấn Độ có hàm lượng tanin cao, phù hợp sản xuất chè đen [12].

Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camelllia sinensis var. Bohea): Cây thân bụi phân

cành nhiều, lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5cm, rộng 1 1,2cm, có 6 - 7 đơi gân lá khơng rõ, răng cưa nhỏ không đều, búp nhỏ, hoa nhiều,

năng suất thấp, phẩm chất bình thường, có khả năng chịu rét tốt ở nhiệt độ -12oC

đến -15oC. Nó được phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật

Bản và một số vùng khác [6].

Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var. Mavrophylla): thân gỗ nhỏ cao

tới 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, lá to chiều dài trung bình 4 - 14cm,

chiều rộng 2 - 2,5cm, màu xanh nhạt, bóng, răng cưa sâu khơng đều, đầu lá nhọn,



trung bình có 8 đơi gân, năng suất cao, phẩm chất tốt có khả năng thích nghi với

điều kiện khí hậu khắc nhiệt như nhiệt độ thấp, hạn hán...hàm lượng tanin khơng

cao thích hợp sản xuất chè xanh [6].

Chè Shan (Camellia sinensis var. Shan): Chè thuộc nhóm gây thân gỗ,cao từ

6 - 10m, lá to và dài 15-18cm màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày, tơm

chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết, nên còn gọi là chè tuyết. Có

khoảng 10 đơi gân lá, có khả năng thích nghi trong điều kiện ẩm, ở địa hình cao, đạt

năng suất cao, phẩm chất tốt [6].

1.1.3. Đặc điểm một số giống chè ở Việt Nam

Chè trung du: Chiếm khoảng 60% tổng sản lượng chè trong cả nước, thực

chất là giống chè Camellia sinensis var. Mavrophylla lá nhỏ của Trung Quốc được

du nhập vào Việt Nam từ lâu đời và được trồng tại các tỉnh trung du miền núi phía

Bắc. Chè thuộc thân gỗ nhỡ, lá to mỏng, thịt lá dai, búp lá chủ yếu là màu xanh, một

số có thể xanh vàng hoặc hơi tím, mầm bật sớm, sinh trưởng khoẻ, thế cây đứng.

Năng suất chè 4 - 6 tuổi đạt 1000kg chè khô/ha, chống chịu sâu bệnh khá, chống

hạn tốt. Giống chè này thích hợp làm chè xanh và chè đen nhưng chất lượng không

cao [6].

Chè PH1: Giống chè này được chọn tạo từ giống chè Assamica (Nanipus) tại

trại chè Phú Hộ (Phú Thọ). Giống chè này có đặc điểm thân gỗ, phân cành thấp, số

cành cấp I nhiều, to khỏe, lá màu xanh đậm, hình bầu dục, lá to trung bình 35 - 40

cm2. Năng suất trung bình 15 - 17 tấn/ha. Sản phẩm chế biến từ giống này có chất

lượng trung bình do hương kém và trong thành phần của chè có hàm lượng cấu tử

EGCG (EpiGallo Catechin Gallate) cao nên để lại dư vị đắng cho sản phẩm [3].

Chè Shan: Chiếm khoảng 27% diện tích trồng chè cả nước, thực chất giống

chè này là chè Camellia sinensis var. Shan. Chúng là loại cây độc thân, lá to, tơm

chè có nhiều lơng, trắng và mịn như tuyết, thích nghi với khí hậu lạnh, được trồng

chủ yếu ở vùng núi cao các tỉnh miền núi trung du phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai,

Sơn La và ở miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng). Năng suất búp thường đạt 6 - 7

tấn/ha. Chè có hàm lượng tanin cao, chất lượng sản phẩm tốt, thích hợp cho chế

biến chè xanh và chè đen, nhưng chủ yếu là chè xanh có chất lượng tốt hơn. Với cây



chè này được trồng ở độ cao 700 - 800m thì có thể cung cấp những nguyên liệu cho

chế biến chè đặc sản [6].

Giống chè 1A: Giống chè này được chọn tạo từ tập đồn chè Maripur (Ấn Độ),

có đặc điểm cây gỗ vừa, lá to (54cm2) mềm, màu xanh vàng, phiến lá hơi tròn gợn

sóng, ít lơng tơ, vị trí phân cành thấp, tán rộng, mật độ búp trên tán cao. Năng suất đạt

10,8 tấn/ha, cao hơn giống Trung Du. Búp chè 1 tôm + 2 lá hàm lượng tanin 34,8%,

chất hòa tan 45,0%, thích hợp sản xuất cả chế biến chè xanh và chè đen [5].

Giống chè TRI 777: Được coi là giống chè Shan Chồ Lồng (Mộc Châu). Đặc

điểm chính: Búp có lá thơ, dày, màu xanh thẫm, mấp hơn so với so với búp của

giống chè trung du. Năng xuất trung bình. Chất lượng sản phẩm tốt, thích hợp cho

sản xuất chè xanh và chè đen [5].

2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở trên thế giới và Việt Nam

2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới

Theo tài liệu thống kê của FAO 1971 và 1975, trên thế giới có khoảng 40

nước trồng chè, chè được tập trung trồng ở Châu Á, sau đó tới Châu Phi. Diện tích

trồng chè năm 1971 là 1.357.000 ha. Đến năm 2000 đã có hơn 100 nước thuộc 5

Châu lục trồng và xuất khẩu chè, sản lượng chè thế giới năm 2000 đạt hơn 2,8 triệu

tấn. Từ năm 2000 cho đến nay diện tích trồng và xuất khẩu chè khơng ngừng được

tăng lên, có thể thấy rõ qua bảng sau:

Bảng 2.1: Diện tích trồng chè phân theo khư vực năm 2000 - 2009(1000ha)

Năm



Tên

Châu

Lục



2000



2001



2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009



Châu Phi 224



228



243



241



245



255



256



262



270



276



Châu Mỹ 47



45



45



44



43



43



45



44



47



46



Châu Á



2105



2133



2183 2216 2314 2408 2444 2607 2600 2665



Châu Âu



2



2



2



2



1



1



1



1



1



1



Châu Úc



7



7



7



5



7



7



7



7



7



7



Thế giới



2384



2415



2479 2507 2611 2714 2753 2921 2925 2996

(Nguồn: FAO, 2011) [23]



Qua bảng cho thấy: Chè được trồng chủ yếu ở châu Á và Châu Phi, trong đó

Châu Á được trồng nhiều nhất với khoảng hơn 80% tổng diện tích, thứ hai là Châu

Phi với khoảng 9% diện tích, phần nhỏ còn lại là Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Úc.

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009 diện tích trồng chè trên thế giới giảm ở

các Châu như châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc, giảm nhiều nhất là Châu Âu với tốc độ

giảm diện tích trung bình là 1,53%/năm, Châu Úc giảm 0,62%/năm. Trong khi đó

diện tích trồng chè của Châu Á và Châu Phi tăng khá nhanh, Châu Á tăng bình qn

diện tích là 2,7%/năm và Châu Phi là 2,3%/năm.

Nhìn chung trong những thấp niên gần đây diện tích chè trên thế giới biến

động đáng kẻ từ 2.384 nghìn ha vào năm 2000 tăng lên 2.996 nghìn ha vào năm

2009. Trong giai đoạn 2000 - 2009, diện tích trồng chè trên thế giới tăng với tốc độ

trung bình là 2,3%.

Về sản lượng, theo thống kê chính thức trong giai đoạn tháng 1-9/2009, sản

lượng chè trên thế giới đạt 1275,5 triệu kg, giảm khoảng 89 triệu kg so với cùng kỳ

năm 2008. Trong đó sản lượng chè của Kenya, nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế

giới đã giảm 9% còn Sir Lanka nước sản xuất chè lớn thứ 4 thế giới đã sản xuất

263,8 triệu kg chè trong 11 tháng đầu năm 2009 cũng giảm 12% so với cùng kỳ

năm 2008 [21].

Về thị trường tiêu thụ, Năm 2008, tổng kim ngạch của 10 nước nhập khấu

chè lớn nhất trên thế giới đạt 2,18 tỉ đô la Mỹ, chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập

khẩu chè toàn thế giới. So với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhậu khẩu chè các

nước này tăng trung bình16,89%. Năm nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất

thế giới năm 2008 là Nga (510,6 triệu đô la), Anh (364 triệu đô la), Mỹ ( 318,5 triệu

đô la) và Đức (181,4 triệu đô la) [21].

2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam

Việt Nam bắt đầu sản xuất chè vào hơn 3000 năm trước đây. Khi Pháp chiếm

đóng Đơng Dương người Pháp bắt tay ngay vào phát triển chè. Năm 1890, cơng ty

thương mại Chaffanjon đã có đồn điền sản xuất chè đầu tiên trồng 60 ha, ở tỉnh

Cương

- Phú Thọ. Năm 1918, thành lập trạm nghiên cứu Phú Thọ, đặt tại Phú Hộ để chuyên



nghiên cứu phát triển cây chè. Năm 1954 ngành chè đã có sự phát triển mạnh mẽ.

Năm 1958, diện tích trồng chè là 30.000 ha và Việt Nam có hai nhà chế biến chè ở

Hà Nội và Phú Thọ với tổng công suất là 1.100 tấn/năm. Trong những năm gần đây

chè được coi là mặt hàng chiến lược, quy mô sản xuất ngày càng phát triển.

Bảng 2.2: Diện Tích, sản lượng chè tại Việt Nam 2000-2009

Năm



Tổng diện tích(ha)



Sản lượng( tấn khơ)



2000



87.700



63.700



2001



95.600



76.800



2002



108.000



89.440



2003



116.000



106.950



2004



120.000



119.050



2005



123.742



133.350



2006



125.574



142.500



2007



127.300



150.820



2008



129.600



158.000



2009



131.000



159.000

(Nguồn: Hiệp hội chè Việt nam)



Qua bảng 2.2: Cho thấy, trong giai đoạn 2000-2009 diện tích trồng và sản

lượng chè có xu hướng tăng dần theo các năm. Cụ thể là năm 2009 có diện tích

trồng chè là

131.000 tăng gấp 2 lần và sản lượng cũng tăng gần gấp 3 lần so với năm 2000.

Theo tổng cơng ty chè Việt Nam, đến nay Việt Nam có 35 tỉnh trồng chè với

diện tích khoảng 131 nghìn ha. Tuy nhiên diện tích tập trung ở 10 địa phương chủ

yếu thuộc miền núi, trung du phía Bắc, tỉnh Nghệ An và tỉnh Lâm Đồng. Số lượng

các doanh nghiệp sản xuất chè quy mô công nghiệp khoảng 700 doanh nghiệp, có

230 doanh nghiệp sản xuất trực tiếp ra nước ngồi. Số lượng lao động trong ngành

chè là 1,5 triệu người [2].

Về tình hình tiêu thụ, trong năm 2009, Việt Nam xuất khẩu chè sang 107

quốc gia. Tuy nhiên phần lớn thị trường xuất khẩu chè của Việt nam vẫn tập trung

vào một số quốc gia như: Pakistan, Nga, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Irap.



Bảng 2.3: Các thị trường xuất khẩu chè chủ yếu của Việt Nam (triệu USD)



Quốc gia

Pakistan

Nga

Đài Loan

Ấn Độ

Trung Quốc

Mỹ

Irap



Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Tỷ

Kim

Kim

Kim

Kim

trọng

trọng

trọng

trọng

ngạch

ngạch

ngạch

ngạch

(%)

(%)

(%)

(%)

29,5 26,7

31,8

23,8

38,2

25,9

46,0

25,5

10,2 9,3

11,9

8,9

16,4

11,1

27,4

15,2

19,1 17,3

19,7

14,8

21,5

14,6

24,5

13,6

8,2

7,4

1,5

1,1

3,4

2,3

9,6

5,3

7,6

6,9

17,5

13,1

6,7

4,6

7,2

4,0

1,6

1,4

2,5

1,8

3,1

2,1

5,8

3,2

4,5

4,1

0,2

0,1

0,9

0,6

5,6

3,1

(Nguồn: Cơ sở dữ diệu thương mại của liên hợp Quốc)[9].



Qua bảng trên cho thấy Pakistan là quốc gia nhập khẩu chè lớn nhất của Việt

Nam (chiếm 25,5% kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam vào năm 2009), tiếp đến

Nga là nước thứ hai. Những năm gần đây chè xuất khẩu vào thị trường Nga liên tục

tăng nhanh, từ năm 2006 chỉ chiếm 9,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng

đến năm 2009 đã tăng lên 15,2%. Ấn Độ và Trung Quốc cũng là 2 thị trường quan

trọng của chè Việt Nam, nhưng số lượng và kim ngạch xuất khẩu chè sang 2 thị

trường này không ổn định.

Trong 6 tháng đầu năm 2017 cả nước xuất khẩu 63.123 tấn chè các loại, thu

về 97,45 triệu USD (tăng 14,4% về lượng và tăng 10,44% về trị giá so với cùng kỳ

năm 2016), trong đó riêng tháng 6/2017 xuất khẩu 12.810 tấn, trị giá 21,43 triệu

USD (tăng 9,3% về lượng và tăng 6,7% về trị giá so với tháng trước đó). Giá chè

xuất khẩu bình qn 6 tháng đầu năm ở mức 1.544 USD/tấn (giảm 3,5% so với

cùng kỳ năm ngối) [22].

Pakistan ln ln dẫn đầu thị trường về tiêu thụ chè của Việt Nam, chiếm

19% trong tổng khối lượng chè xuất khẩu của cả nước và chiếm 25% trong tổng

kim ngạch (đạt 12.088 tấn, tương đương 24,48 triệu USD). Đài Loan đứng thứ 2 về

thị trường tiêu thụ chè của Việt Nam, chiếm trên 12% trong tổng khối lượng và tổng

kim ngạch (đạt 7.613 tấn, tương đương trên 12,19 triệu USD). Sau đó là thị trường

Nga đạt 8.582 tấn, trị giá 11,53 triệu USD (chiếm 13,6% trong tổng lượng và chiếm

11,8% trong tổng giá trị xuất khẩu chè của cả nước) [22].



Nổi bật nhất trong xuất khẩu chè của Việt Nam 6 tháng đầu 2017 là xuất

khẩu sang thị trường Ấn Độ tăng trưởng vượt bậc so với 6 tháng đầu năm 2016

(tăng gần 16 lần cả về lượng và kim ngạch), đạt 1.382 tấn, tương đương 1,67 triệu

USD. Bên cạnh đó, xuất khẩu chè sang Thổ Nhĩ kỳ cũng tăng mạnh 204% về lượng

và tăng 346% về trị giá so với cùng kỳ (đạt 325 tấn, trị giá 741.015 USD). Ngược

lại, xuất khẩu chè sang thị trường Philipines và Cô Oét sụt giảm mạnh so với cùng

kỳ. Cụ thể, xuất sang Philippines giảm 89% về lượng và giảm 96% về kim ngạch,

xuất sang Cô Oét giảm 63% về lượng và giảm 35% về kim ngạch [22].

Bảng 2.4: Thị trường xuất khẩu chè 6 tháng đầu năm 2017

Thị trường

xuất khẩu



6T/2017



+/-(%) 6T/2017 so với cùng kỳ



Lượng (tấn)



Trị giá (USD)



Lượng



Trị giá



Tổng số



63.123



97.451.381



+14,41



+10,44



Pakistan



12.088



24.482.448



-17,49



-17,66



Đài Loan



7.613



12.194.886



+15,70



+15,80



Nga



8.582



11.534.327



+9,24



+5,48



Trung Quốc



5.091



6.501.693



+64,49



-23,12



Indonesia



4.908



4.178.723



-38,96



-42,66



Hoa Kỳ



2.939



3.421.660



+5,83



+4,59



Tiểu VQ Arập

2.079

TN



2.955.357



+135,18



+113,68



Arập xê út



824



1.991.132



+3,91



+6,05



Ấn Độ



1.382



1.671.571



+1488,51



+1475,23



Malaysia



1.669



1.221.212



-33,98



-30,22



Ba Lan



547



949.471



+12,32



+34,91



Ucraina



498



758.196



+30,71



+29,96



Thổ Nhĩ Kỳ



325



741.015



+203,74



+345,51



Đức



180



489.731



-46,75



-17,09



Philippines



48



49.693



-89,47



-95,86



Cô Oét



15



40.388



-63,41



-34,81



(Agroinfo, 2010)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×