Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Các đặc điểm dịch tễ và đặc điểm bệnh hen của dân số nghiên cứu

2 Các đặc điểm dịch tễ và đặc điểm bệnh hen của dân số nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

100



ở trẻ em các số tương ứng là >35 ppb, 20-35 ppb và < 20 ppb [81]. Ngoài ra,

đối tượng bệnh nhân đến khám tại BV.ĐHYD Tp.HCM chủ yếu là người lớn

nên số lượng trẻ em không nhiều. Hơn nữa, những người bình thường so sánh

và đối tượng hen đã ngưng được điều trị gồm toàn người lớn nên đây cũng

chính là các lý do để chúng tơi chọn đối tượng nghiên cứu chỉ gồm toàn người

trưởng thành trong nghiên cứu này.

Nữ giới chiếm đa số trong nghiên cứu này và điều này phu hợp với đặc

điểm dịch tễ bệnh hen thường xuất hiện ở nữ giới nhiều hơn ở lứa tuổi trưởng

thành như thống kê chung trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt Nam, một nghiên

cứu dịch tễ với 14.246 người dân ≥ 16 tuổi cho thấy tỷ lệ ở nam giới cao

hơn nữ giới (4,6% so với 3,6%) [16]. Trong số 20 người đã ngưng điều trị mà

hen vẫn được kiểm sốt tốt thì 75% là nữ giới, tuy nhiên số liệu nhóm đối

tượng này rất ít nên khó đưa đến bất cứ một kết luận nào về phân bố giới

tính trong nhóm nghiên cứu nhỏ này.

Về cân nặng, chiều cao và BMI thì khơng có sự khác biệt giữa nhóm

bệnh nhân đang điều trị và nhóm đã ngưng điều trị.

Đa số bệnh nhân có trình độ từ trung học cơ sở trở lên và chỉ có 13,3%

có trình độ thấp nhất là tiểu học. Đa số bệnh nhân cư ngụ ở các tỉnh xung

quanh thành phố Hồ Chí Minh và chỉ có 23,3% bệnh nhân là người dân địa

phương (thành phố Hồ Chí Minh).

Đa phần phụ nữ làm cơng việc nội trợ còn đa phần nam giới giữ cơng

việc bn bán và nhân viên văn phòng.

4.2.2 Các đăc điểm chung về bệnh hen của dân số nghiên cứu

4.2.2.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh hen

Với tiêu chuẩn nhận vào là bệnh nhân hen đã được chẩn đoán ít nhất 6

tháng và đã đang trong quá trình điều trị nên khả năng chẩn đoán sai hầu như



101



đã được loại trừ. Theo một hướng dẫn quốc gia của Anh quốc thì chẩn đốn

hen sẽ trở nên chắc chắn hơn khi bệnh nhân được cho điều trị và theo dõi sau

6-8 tuần [185] nên thời gian ít nhất 6 tháng theo dõi sau khi được chẩn đốn

hen giúp chúng tơi loại trừ được những trường hợp nhầm lẫn với bệnh hen.

Trong nghiên cứu này, số lượng bệnh nhân có điểm số kiểm sốt hen ACT

kém (≤15 điểm) rất ít và chúng tơi đã rà sốt lại hồ sơ bệnh án tại bệnh viện

(phòng khám và quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, BV.ĐHYD

Tp.HCM vừa lưu trữ bệnh án điện tư vừa lưu trữ bệnh án giấy nên việc kiểm

tra tương đối thuận tiện) và không nghi nhận các ca bị chẩn đốn nhầm là hen.

Trong q trình nghiên cứu, nhiều bệnh nhân có tiền sư mắc hen được

tuyển chọn vào nghiên cứu nhưng qua theo dõi hồ lưu trữ thấy bệnh nhân bị

tắc nghẽn đường hô hấp cố định nghĩ đến ACO (Asthma COPD overlap-hen

và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chồng lắp) nên bị loại ra khỏi nghiên cứu.

Có 5 bệnh nhân như vậy được loại ra khỏi nghiên cứu này.

Về tiền sư gia đình, khoảng 30% bệnh nhân có tiền căn có người trong

gia đình mắc bệnh hen và 15% bệnh nhân có người thân mắc các bệnh dị ứng

khác không phải hen. Số liệu này tương tự như một nghiên cứu khác cũng

được thực hiện tại cung một nơi là phòng khám và quản lý hen và bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính, BV.ĐHYD Tp.HCM của sinh viên Huỳnh Thị Hoài

Thương với tỷ lệ bệnh nhân có gia đình có người bị hen là 34% [36].

Về tiền sư bản thân có bệnh dị ứng, 25% bệnh nhân ghi nhận có cơ địa dị

ứng trong đó viêm mũi dị ứng là bệnh hay gặp nhất với tỷ lệ 35%. Tuy nhiên

số bệnh nhân hiện đang dung thuốc để điều trị viêm mũi dị ứng (corticoid

dạng xịt mũi và kháng histamin) tương đối thấp (15%) nên mặc du có rất

nhiều (60%) bệnh nhân được bác sĩ kê toa montelukast - montelukast là một

thuốc hay được cho kèm với ICS trong điều trị hen nhưng cũng là một loại

thuốc hiệu quả trong điều trị bệnh hen kèm viêm mũi dị ứng - nhưng không

thể suy luận rằng bệnh



102



nhân được cho chỉ định vừa ICS vừa montelukast là có cả 2 bệnh hen và viêm

mũi dị ứng đi kèm. Các tình trạng dị ứng khác được ghi nhận là thời tiết

(lạnh), nhiễm siêu vi hơ hấp, thức ăn, khói thuốc lá, chất nặng mui, lông thú

và bụi với tỷ lệ ít dần từ 40% đến 2% (Bảng 3.3).

Về thời gian mắc bệnh hen, khoảng 5% mới biết bệnh hen 6 tháng còn

15% biết hen từ lúc nhỏ. Thời gian bị bệnh hen trung bình đến thời điểm

nghiên cứu của dân số nghiên cứu là 10 năm trong đó lâu nhất là 73 năm.

Thời gian mắc bệnh hen trung bình trong một nghiên cứu tương tự ở Thổ

Nhĩ Kỳ năm 2014 là 11,5 năm cũng gần tương đương như nghiên cứu này

[93].

Khơng có sự khác biệt đáng kể về triệu chứng lâm sàng, dấu hiệu bất

thường qua thăm khám và mức độ kiểm sốt hen của những bệnh nhân có hen

từ nhỏ so với mới mắc hay giữa những người bị hen trên 10 năm so với mới

mắc ít hơn 10 năm.

Nghiên cứu này thu nhận bệnh nhân đã được chẩn đốn hen ít nhất 6

tháng trước và đang được điều trị, do vậy các triệu chứng xuất hiện cũng

không nhiều và phần lớn bệnh nhân khơng có dấu hiệu bất thường qua thăm

khám lâm sàng (Bảng 3.4). Điều này được phản ánh phần nào qua số lượng

thuốc và tỷ lệ bệnh nhân dung thuốc như mô tả ở Bảng 3.5 cũng như mức

kiểm soát hen trong lần khám đầu tiên trong nghiên cứu chỉ có 13,3% bệnh

nhân có hen khơng kiểm sốt (Biểu đồ 3.4).

Mặc du phần lớn bệnh nhân hen trong nhóm nghiên cứu đều có hen được

kiểm sốt tốt hay kiểm sốt một phần theo tiêu chí của GINA 2017 nhưng

nồng độ FeNO trung bình của nhóm bệnh hen đang điều trị tương đối cao là

30,6 ppb chứng tỏ tình trạng viêm trong đường thở vẫn còn cao cho du hen đã

được kiểm soát (điểm số kiểm sốt hen ACT trung bình trong nghiên cứu này

là 20,2 điểm cũng tương đối cao chứng tỏ phần lớn bệnh nhân hen có kiểm

sốt tốt). Mức FeNO này cũng tương tự như một nghiên cứu mới thực hiện

năm 2016 của



103



Bilun Gemicioglu và cs ở 416 bệnh hen đang được điều trị ghi nhận mức

FeNO trung bình là 31,8 ppb [93] và điểm số kiểm sốt hen ACT trung

bình trong nghiên cứu đó là 19 điểm. Ơ nghiên cứu hiện tại, ngay cả ở

nhóm người đã ngưng điều trị thì nồng độ FeNO của họ (20,3ppb) cũng cao

hơn mức FeNO của người bình thường (15,7 ppb). Kết quả này cũng phu

hợp với các bằng chứng khác cho thấy là chúng ta khơng thể khống chế hết

tình trạng viêm của đường thở cho du bằng các biện pháp tối ưu nhất hay

ngay cả khi hen lui bệnh (tức khơng có triệu chứng hen và khơng điều trị gì

cả trong một thời gian dài) thì mức độ viêm (đo bằng tình trạng tăng đáp ứng

đường thở) cũng cao hơn ở người bình thường [114], [274].

Trong nghiên cứu này, mức độ kiểm soát hen tốt của bệnh nhân theo tiêu

chuẩn GINA và ACT lần lượt là 55% và 62% (xem Biểu đồ 3.4 và Biểu đồ

3.5). Tỷ lệ này cũng tương tự như các nghiên cứu khác được thực hiện trước

đây cũng tại BV.ĐHYD Tp.HCM như của tác giả Lê Văn Nhi năm 2010 là

68% (theo ACT) [25], của Thái Thị Thuy Linh năm 2011 đối với bệnh nhân

hen đã được điều trị 3 tháng là 55% (theo GINA) [22] của Nguyễn Như

Vinh năm 2012 là 55% (theo ACT) và 64% (theo GINA) [188] hay của

Huỳnh Anh Kiệt năm 2013 là 53% (theo ACT) [21]. Tại Tiền Giang, Nguyễn

Thanh Hải và cs cho thấy có 59,7% bệnh nhân hen được kiểm sốt theo

GINA [14]. Tại Hà Nội, một nghiên cứu với cỡ mẫu tương đối nhỏ (n=30)

bệnh nhân tham gia câu lạc bộ bệnh nhân hô hấp của Bui Thị Hương cũng

ghi nhận kết quả tương đương với kết quả của chúng tôi là 57% (theo ACT)

[20]. Tuy nhiên, tỷ lệ kiểm soát hen ở các khảo sát khác tại Việt Nam thường

rất thấp. Một nghiên cứu điều tra ngẫu nhiên ở Việt Nam trên 14.246 người

dân từ 16 tuổi trở lên tại 7 vung miền sinh thái trên cả nước: trong số 485

bệnh nhân hen được khảo sát các thông tin về vấn đề điều trị và kiểm sốt

hen, chỉ có 39,7% bệnh nhân đạt được kiểm soát hen khi đánh giá bằng bộ

câu hỏi ACT [16] hay nghiên cứu của Nguyễn Văn



104



Thọ tại các quận huyện ở thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy tỷ lệ kiểm soát

hen theo GINA tăng từ 1% trước khi can thiệp bằng điều trị theo GINA lên

37% sau 1 năm can thiệp [259]. Sở dĩ tỷ lệ kiểm soát hen tại BV.ĐHYD

Tp.HCM cao hơn các báo cáo khác là vì đối tượng đến khám tại BV.ĐHYD

Tp.HCM là những người tương đối có điều kiện kinh tế nên đủ sức theo

đuổi trong thời gian điều trị lâu dài với thuốc xịt/hít tương đối mắc tiền.

Những đối tượng đến khám tại BV.ĐHYD Tp.HCM đa phần không sư dụng

bảo hiểm y tế và có đủ điều kiện kinh tế nên được thầy thuốc tư vấn hỗ trợ

lựa chọn các biện pháp điều trị tối ưu (như thuốc tốt và có thể mắc tiền, được

theo dõi hơ hấp định kỳ thường xuyên hơn và có thể được tư vấn với thời gian

nhiều hơn những nơi khác). Các bác sĩ tham gia khám chữa bệnh tại phòng

khám và quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, BV.ĐHYD Tp.HCM

cũng là các giảng viên tham gia các khoá giảng dạy về quản lý hen và COPD

ngoại trú cho nhân viên y tế ở các tỉnh phía Nam nên việc thực hành của họ

cũng tương đối chuẩn hơn những nơi khác đặc biệt là tuyến dưới. Tỷ lệ kiểm

soát hen theo các nghiên cứu khác tại nhiều nước trên thế giới và nhiều nơi

khác tại Việt Nam thường rất thấp [20]. Ngay tại châu Âu, một nghiên cứu

năm 2014 với 8000 bệnh nhân hen nhận thấy tỷ lệ hen khơng kiểm sốt là

45% [211]. Một nghiên cứu cung năm ghi nhận tỷ lệ hen kiểm soát tốt tại

châu Á chỉ là 7,6% [102].

4.2.2.2 Đặc điểm hô hấp ký của dân số nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được đo hô hấp ký với tiêu

chuẩn của hội hô hấp châu Âu và hội Lồng ngực Hoa Kỳ [176]. Các trị số

trung bình của các chỉ số hơ hấp ký lần lượt là FVC= 2,9 L, FEV1=2,3L,

FEV1/FVC=0,8, PEF=6 L/s và FEF25-75 =2,3 L/s. Tỷ lệ phần trăm so với giá trị

dự đoán của các chỉ số FVC, FEV1, PEF và FEF25-75 lần lượt là 90,0%; 87,5%;

84,3% và 74,0% (Bảng 3.6). Đa số bệnh nhân không bị hội chứng tắc nghẽn

(84%), tỷ lệ có hội chứng hạn chế là 22% và tỷ lệ bệnh nhân có FEV1 bất

thường



105



(tức %FEV1< 80% giá trị dự đoán) là 30% (Bảng 3.9).

Chỉ số phần trăm FEV1 so với giá trị dự đốn (%FEV1) trung bình trong

nghiên cứu này (87,5%) tương tự như một nghiên cứu cũng về FeNO ở Thổ

Nhĩ Kỳ năm 2014 với 416 bệnh nhân hen đang được điều trị với ICS +

LABA, với %FEV1 trung bình là 83,4% [93]. Mức trung bình này lớn hơn

80% chứng tỏ phần lớn bệnh hen đang được điều trị có mức FEV1 bình

thường. Những trường hợp bệnh nhân có hội chứng tắc nghẽn, chúng tơi rà

sốt lại hồ sơ lưu trữ ở bệnh viện và nếu thấy bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn

đốn ACO thì sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu và 5 bệnh nhân bị loại ra bằng

phương này.

4.2.2.3 Đặc điểm ACT của dân số nghiên cứu

Điểm ACT trung bình trong nghiên cứu này (ACT=20,2) hoàn toàn

tương tự như của một nghiên cứu khác của cung tác giả Nguyễn Như Vinh

năm 2012 (ACT=20,5) [188] hoặc nghiên cứu của Huỳnh Anh Kiệt năm

2013 (ACT ở nam giới là 20,2 và ở nữ giới là 19,4) [21] cũng tại BV.ĐHYD

Tp.HCM. Tỷ lệ bệnh nhân có điểm số ACT từ 20 điểm trở lên cũng tương

tự ở 2 nghiên cứu của Nguyễn Như Vinh (62% trong nghiên cứu này và

64% trong nghiên cứu năm 2012) [224]. Điều này khẳng định tính ổn định

của các số liệu thu thập được tại dân số nghiên cứu qua thời gian nên có thể

khẳng định được các số liệu trong nghiên cứu mang tính đại diện cho

quần thể bệnh nhân hen tại BV.ĐHYD Tp.HCM. Mặc du điểm ACT

trung bình trong nghiên cứu này tương tự như nghiên cứu của Bui Thị

Hương tại một câu lạc bộ bệnh nhân ở Hà Nội với cỡ mẫu tương đối nhỏ

(n=30, ACT = 20,3) [20] nhưng so với tình hình chung trên cả nước thì điểm

số ACT trung bình của nghiên cứu này có xu hướng tốt hơn, ví dụ như ACT

trung bình của một nghiên cứu tại 7 tỉnh ở Việt Nam với 585 bệnh nhân hen

là 17,8 điểm [16]. Điều này có thể là do đặc thu của BV.ĐHYD Tp.HCM so

với các cơ sở y tế khác mà cơ sở này có những điều kiện thuận lợi để kiểm

soát hen cho bệnh nhân được tốt hơn như đã nêu.



106



4.2.2.4 Đặc điểm FeNO của dân số nghiên cứu

Mức FeNO trung bình trong 278 bệnh nhân hen đang được điều trị trong

nghiên cứu này là 30,6 ppb; mức FeNO này hoàn toàn tương tự như FeNO

trong một nghiên cứu tương tự khác với 416 bệnh nhân hen cũng đang được

điều trị tại Thổ Nhĩ Kỳ (31,8 ppb) [93] với cung một dụng cụ đo FeNO là máy

đo FeNO cầm tay hiệu Niox Mino của Thuỵ Sỹ. Một nghiên cứu khác tại Mỹ

ở bệnh nhân đang điều trị cũng ghi nhận mức FeNO trung bình tương tự là

31,5 ppb [221] hay nghiên cứu tại Nepal năm 2017 cũng ghi nhận mức FeNO

trung bình ở 106 bệnh nhân có hen được kiểm sốt về triệu chứng lâm sàng là

31 ppb [238]. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu với cỡ mẫu tương đối nhỏ

(51 bệnh nhân hen), Dương Quý Sỹ và cs tìm thấy FeNO trung bình ở bệnh

nhân hen tại Việt Nam là 59 ppb cao hơn nghiên cứu của chúng tôi [29]. Như

vậy, du đang được điều trị bằng ICS hay ICS kết hợp LABA nhưng tình

trạng FeNO của bệnh nhân vẫn còn hơi cao diễn ra ở khắp nơi chứ khơng

hẳn chỉ có trong nghiên cứu của chúng tơi. Như đã trình bày ở trên, tình trạng

kiểm sốt hen trên thế giới hiện vẫn chưa được tốt du đã có các thuốc tốt và

chiến lược điều trị tốt. Việc kiểm soát chưa tốt bệnh hen như vậy có thể do

rất nhiều ngun nhân chúng tơi không lạm bàn trong nghiên cứu này, tuy

nhiên, điều này cũng phần nào giải thích được tại sao chỉ số FeNO cao du

bệnh nhân đang được điều trị. Nếu xem xét các bệnh nhân trong các nghiên

cứu vừa nêu một cách chi tiết hơn, chúng tôi ghi nhận rằng FeNO ở nhóm

bệnh nhân có hen được kiểm sốt thấp hơn đáng kể so với FeNO ở những

bệnh nhân có hen chưa được kiểm soát [93],[221],[238]. Ơ Việt Nam, mức

FeNO trung bình ở nhóm có hen khơng kiểm sốt là 26 (±25) ppb theo một

nghiên cứu ở đối tượng trẻ em tại Hà Nội [186] thấp hơn ở nhóm hen chưa

kiểm sốt của chúng tơi với FeNO trung bình là 56 ppb theo GINA (Bảng

3.11) hay 44,5 ppb theo ACT (Bảng 3.12) nhưng việc so sánh này rất khập

khiểng vì FeNO ở người lớn rất khác ở trẻ em.



107



Tuy nhiên, trong một nghiên cứu với 102 bệnh nhân hen tại Ấn Độ,

Revathy Neelamega và cs nhận thấy FeNO trung bình của bệnh nhân sau 8

tuần điều trị với ICS còn tương đối cao là 80 ppb và trước khi điều trị là

98 ppb [184]. Một nghiên cứu khác cũng tại Ấn Độ tuyển chọn 151 bệnh

nhân hen chưa được điều trị và theo dõi sau điều trị 6-8 tuần. Kết quả ghi

nhận được mức FeNO trung bình trước điều trị là 45,4 (35,9) ppb và sau

điều trị là 38,4 (23,7) ppb [130]. Điều này cho thấy mức FeNO ở người dân

Ấn Độ có vẻ cao hơn các số liệu từ các nghiên cứu ở các sắc dân khác.

Mức FeNO cao như vậy cũng được ghi nhận trong một nghiên cứu tại

Nhật Bản năm 2014. Các tác giả theo dõi diễn tiến của nhóm bệnh nhân có

hen đã được kiểm sốt nhưng FeNO còn tương đối cao (>40 ppb) để theo dõi

tình trạng mất chức năng phổi sau 3 năm. Nhóm bệnh nhân hen này du có

hen đã được kiểm sốt nhưng có mức FeNO trung bình là 56,7 ppb và có tỷ lệ

sụt giảm FEV1 hàng năm là 42,7 ml cao hơn đáng kể so với nhóm có FeNO

thấp < 40 pp (mức sụt giảm FEV1 hàng năm của nhóm này là 16,7 ml) [170].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân hen có FeNO thấp, trung

bình và cao theo tiêu chuẩn của ATS lần lượt là 51%, 32% và 17% (Biểu đồ

3.9). Tỷ lệ này gần tương tự như một nghiên cứu mới đây năm 2018 tại Mỹ

với 7901 bệnh nhân hen từ 12 tuổi trở lên [113] với các tỷ lệ bệnh nhân có

FeNO thấp, trung bình và cao lần lượt là 64%, 23% và 13%. Ơ một nghiên

cứu khác của Nguyen và cs năm 2017 tại Mỹ cho biết tỷ lệ bệnh nhân có

FeNO cao (>50 ppb) hồn tồn tương tự như nghiên cứu chúng tơi là 17%

[187] còn trong nghiên cứu của Ricciardolo và cs năm 2016 tại Ý thì tỷ lệ

bệnh nhân có FeNO thấp (<25 ppb) là 56% cũng tương tự như nghiên cứu của

chúng tôi [218].

Trong một nghiên cứu khác của tác giả nghiên cứu này (Nguyễn Như

Vinh), mức FeNO trung bình của người bình thường là 15,7 ppb, của bệnh

nhân ACO là 31,1 ppb và bệnh nhân COPD là 18,8 ppb [269]. Trong nghiên

cứu này,



108



mức FeNO trung bình ở nhóm bệnh nhân hen đã ngưng điều trị là 20,3 ppb

(11ppb). Sự so sánh này cho chúng ta một cái nhìn chung về mức FeNO ở

nhiều đối tượng khác nhau và rõ ràng ở bệnh nhân hen đang điều trị thì FeNO

vẫn cao hơn nhiều so với người bình thường, người lui bệnh (ngưng điều trị)

và bệnh nhân COPD. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng cho thấy rằng FeNO

trung bình ở nhóm có hen kiểm sốt tốt là 25,7 ppb (theo GINA) và 27,0 (theo

ACT) vẫn còn cao hơn nhiều so với hen đã lui bệnh (FeNO trung bình 20,3

ppb) và cao hơn nhóm người bình thường (FeNO trung bình là 15,7 ppb).

Hoặc ngay cả nhóm bệnh nhân có hen đã lui bệnh thì FeNO trung bình vẫn

cao hơn nhóm người bình thường (20,3 ppb so với 15,7 ppb; p<0.01).

4.3 Các mối liên quan giữa FeNO và các đặc điểm chung của bệnh hen

4.3.1 Liên quan giữa FeNO và các đăc điểm dịch tễ của bệnh hen

Ngồi việc phân tích mối liên quan giữa FeNO với các tiêu chí quan

trọng của hen như độ nặng và mức độ kiểm sốt thì sự khác biệt về mức

FeNO trung bình giữa các phân nhóm bệnh nhân có các điểm dịch tễ và bệnh

học khác nhau cũng được phân tích trong nghiên cứu này. Theo ghi nhận ở

Bảng 3.7 thì FeNO chỉ khác nhau ở các nhóm tuổi (<50 tuổi có FeNO cao

hơn ≥ 50 tuổi) mà không liên quan đến giới, BMI, thời gian mắc bệnh, triệu

chứng hô hấp hiện tại, tiền căn hút thuốc lá, tiền căn dị ứng và tình trạng tắc

nghẽn đường hơ hấp. Một nghiên cứu khác có sự tham gia của nghiên cứu

sinh (Nguyễn Như Vinh) tại Đà Lạt cho thấy FeNO không liên quan với các

yếu tố dịch tễ của người bình thường như tuổi, giới, cân nặng, BMI ngoại trừ

có sự liên quan nhẹ với chiều cao [31].

Về liên quan giữa FeNO và giới tính, Olivieri và cs thấy có sự khác biệt

giữa 2 giới và nữ giới có FeNO thấp hơn nam giới [199]. Taylor và cs năm

2007 [258] cũng như Gemicioglu và cs năm 2014 [93] cung ghi nhận FeNO ở



109



nữ giới thấp hơn nam 25%. Nhận xét này cũng được nhiều nghiên cứu trước

đó ghi nhận [103], [126], [199], [258], [263], [264], [268] hay nghiên cứu mới

đây năm 2017 với trẻ em từ 6 - 19 tuổi tại Mỹ cũng ghi nhận FeNO thấp hơn

ở nữ giới so với nam giới [187]. Lý giải sự khác nhau này, nhiều tác giả cho

rằng đó là do sự khác nhau về hormone giữa 2 giới [103], [179]. Tuy nhiên

các nghiên cứu khác lại không thấy sự khác biệt này giữa 2 giới [31], [197],

[198].

Về tuổi, một vài nghiên cứu cho thấy có sự liên quan hằng định giữa

FeNO và tuổi của bệnh nhân nhi [64], [87]. Gemicioglu [93], Barros [54],

Leung [159] hay nghiên cứu năm 2017 của Nishimoto [190] ghi nhận

FeNO tương quan nghịch với tuổi với hệ số tương quan lần lượt là r=-0,13

(p<0,009), r=-0,014 (p<.001), r= 0,511 (p < 0,0001) và r=0,370 (p = 0,017).

Điều này có thể do diện tích bề mặt của đường thở gia tăng theo tuổi ở trẻ

em. Tuy nhiên ở người lớn sự tương quan này không hằng định qua một số

nghiên cứu. Một nghiên cứu tương đối lớn với 2.200 người lớn (25-75 tuổi)

năm 2006 ở Thụy Điển cho thấy FeNO có liên quan đến tuổi và nhóm người

lớn tuổi nhất (≥65 tuổi) có FeNO cao hơn 40% so với nhóm người trẻ tuổi

nhất (35-44 tuổi) [198]. Tuy nhiên, Travers và cs [263] hay Olivieri và cs

[199] không thấy bất kỳ sự tương quan nào về FeNO với tuổi ở người lớn

trong 2 nghiên cứu của mình. Một vài nghiên cứu trước đó cũng khơng ghi

nhận mối quan hệ này [264].

Liên quan đến chỉ số khối cơ thể thì thừa cân và béo phì ảnh hưởng đến

chức năng hơ hấp của bệnh nhân hen và được xem là một yếu tố tiền viêm

trong hen [237] cũng như là một yếu tố nguy cơ của hen nặng kháng trị [95],

[257]. Barros và cs nhận thấy ở bệnh nhân hen có cân nặng bình thường hay

thiếu cân thì khơng có sự liên quan giữa BMI và FeNO nhưng ở những bệnh

nhân hen thừa cân hay béo phì thì BMI có tương quan nghịch với FeNO

sau khi hiệu chỉnh tuổi, FEV1, giới, tình trạng dị ứng và tình trạng sư dụng

ICS, nghĩa là những người có BMI càng cao thì có FeNO càng thấp [54]. Kết

luận tương tự



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Các đặc điểm dịch tễ và đặc điểm bệnh hen của dân số nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×