Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.1 Tính ổn định của phép đo FeNO với dụng cụ Niox Mino được phân tích Bland-Altman giữa 2 lần đo.

Hình 2.1 Tính ổn định của phép đo FeNO với dụng cụ Niox Mino được phân tích Bland-Altman giữa 2 lần đo.

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Khơng ăn q no trong vòng 2 giờ trước khi đo.

 Khơng uống rượu trong vòng 1 giờ trước khi đo.

 Khơng uống cà phê trong vòng 8 giờ trước khi đo.

 Khơng hút thuốc trong vòng 1giờ trước khi đo.

 Khơng hoạt động gắng sức trong vòng 30 phút trước khi đo.

- Tư thế đo: Bệnh nhân ngồi thỏa mái và khơng có tư thế gì đặc biệt.

- Thời điểm: FeNO có khuynh hướng giảm sau khi đo hô hấp ký do vậy

bệnh nhân được cho đo FeNO trước khi đo hô hấp ký.

2.4.5.3 Tiến hành đo FeNO

Việc tiến hành đo FeNO tuân thủ theo tiêu chuẩn đo FeNO của ERS và

ATS năm 2005 [49].

Kỹ thuật đo FeNO có vài bước đơn giản (xem Hình 4-D phụ lục 4)

nhưng mỗi bước đều có lý do quan trọng cần tuân thủ đúng.

(a). Bước đầu tiên là bệnh nhân thở ra ngồi (khơng thở vào máy) hết sức

để làm trống phổi nhằm chuẩn bị cho bước kế tiếp là hít khí vào đầy phổi.

Động tác này cũng nhằm đẩy hết khí NO ra khỏi phổi.

(b). Bước tiếp theo là yêu cầu bệnh nhân hít khí vào đầy phổi qua ống

ngậm ở miệng có bộ lọc. Bộ lọc này lọc khơng cho khí NO có trong mơi

trường xung quanh (phòng đo) đi vào phổi của người đo gây ảnh hưởng đến

kết quả đo được. Trong bước này, chúng tôi lựa chọn phần mềm hướng dẫn

để giúp bệnh nhân biết đã hít vào hết mức hay chưa. Ví dụ như chọn phần

mềm thổi khinh khí cầu qua eo biển (xem thêm Hình 4-E phụ lục 4), khi

bệnh nhân bắt đầu hít vào thì hình ảnh mặt trời dâng cao lên đến khi đụng

trần của màn hình là đạt u cầu đã hít vào tối đa.

(c). Sau khi đã hít vào tối đa qua ống ngậm có bộ lọc, người đo được

hướng dẫn thở ra qua ống ngậm với lưu lượng 50 ml/s. Phần mềm hướng dẫn

là một



hình ảnh động mơ tả q trình một quả khinh khí cầu di chuyển qua một eo

biển (xem Hình 4-E phụ lục 4). Khinh khí cầu sẽ di chuyển từ bờ này sang bờ

kia của eo biển khi người đo thổi vào ống ngậm. Tuy theo lưu lượng thở ra

mạnh hay yếu mà khinh khí cầu sẽ vừa di chuyển sang ngang theo thời gian

vừa di chuyển lên cao (khi thở ra mạnh) và xuống thấp (khi thở ra yếu). Trên

màn hình sẽ có 2 vạch giới hạn trên và dưới để bệnh nhân biết họ thở ra quá

mạnh (chạm vạch trên) hay quá yếu (chạm vạch dưới). Một khi khinh khí cầu

bị chạm vạch trên hay dưới thì quá trình đo sẽ tự động dừng lại và người đo

phải thực hiện trở lại từ đầu. Nếu người đo điều khiển được hơi thở của mình

để khinh khí cầu đi vào khoảng giữa 2 vạch (lưu lượng khoảng 50ml/s) và kéo

dài đủ 10 giây (thời gian cần thiết để khinh khí cầu đi từ bờ này qua bờ kia

của eo biển) thì cuộc đo thành cơng và kết thúc. Kết quả sẽ hiển thị bằng số

sau 1 phút. Thở ra trong khoảng lưu lượng cho phép (ở đây là 50ml/s) là rất

quan trọng vì mức độ FeNO phụ thuộc lưu lượng thở ra và Niox Mino buộc

tất cả các lần đo phải ở lưu lượng này nhằm có cơ sở để so sánh giữa các

lần đo ở cung một người hay ở những người khác nhau hoặc so với các giá

trị tham khảo. Lý do cần thở ra với lưu lượng hằng định (50 ml/s) trong 10

giây (đối với trẻ em là 6 giây) là vì 2 điều sau đây:

(1) Mức NO trong khoang mũi cao hơn nhiều so với mức NO trong cây

hô hấp và nồng độ NO trong mũi được thở ra cao nhất trong 2 giây đầu tiên.

Do vậy, máy đo Niox Mino chờ đợi 2-3 giây sau khi người đo bắt đầu thở ra

rồi mới bắt đầu đọc nhằm không đọc kết quả NO sinh ra từ mũi.

(2). Sau khi bắt đầu đọc, máy cần nhận diện một khoảng lưu lượng hằng

định ít nhất 2 giây và kết quả FeNO trong giai đoạn hằng định này sẽ là kết

quả được hiển thị cuối cung. Do vậy để dễ dàng đạt được khoảng hằng định 2

giây, thời gian đo tối thiểu được cài đặt là 10 giây (kể cả 2-3 giây đầu máy

không đọc kết quả).



2.4.6 Đo hô hấp ký

2.4.6.1 Trang thiết bị:

- Máy đo hô hấp ký Koko của Hoa Kỳ (nSpire Health, Longmont CO 80501,

USA) như Hình 5-A phụ lục 5.

- Chuẩn bị máy đo:

 Qui trình bảo trì và kiểm tra chất lượng máy hàng ngày tuân thủ cẩm

nang hướng dẫn sư dụng máy hô hấp ký Koko của hãng nSpire Health

[118].

 Kiểm tra định chuẩn: Hô hấp kế phải được định chuẩn mỗi ngày bằng

syringue chuẩn 3 lít (Hình 5-B phụ lục 5) theo quy trình định chuẩn máy

tuân thủ hướng dẫn ERS/ATS 2005 [176].

- Thời điểm đo: bệnh nhân được đo ở mỗi lần thăm khám sau khi trả lời

bảng câu hỏi ACT và đo FeNO nhưng trước khi gặp bác sĩ khám bệnh.

2.4.6.2 Chuẩn bị bệnh nhân:

- Giải thích cho bệnh nhân: Đo hơ hấp ký là một nghiệm pháp gắng sức đòi

hỏi việc giải thích cho bệnh nhân thật rõ ràng. Sự phối hợp và hợp tác của

bệnh nhân là yếu tố then chốt.

- Những hoạt động nên tránh trước khi đo hô hấp ký.

 Không sư dụng các thuốc giãn phế quản trước khi đo (4 giờ đối với

SABA, 8 giờ đối với LABA).

 Không ăn quá no trong vòng 2 giờ trước khi đo.

 Không mặc quần áo quá chật làm hạn chế ngực và bụng khi đo.

 Khơng uống rượu trong vòng 4 giờ trước khi đo.

 Khơng hút thuốc trong vòng 1giờ trước khi đo.

 Khơng hoạt động gắng sức trong vòng 30 phút trước khi đo.

- Vị trí: Bệnh nhân có thể đứng hay ngồi (xem Hình 5-C phụ lục 5):

 Tư thế đứng: áp dụng cho hầu hết các trường hợp.



 Tư thế ngồi: áp dụng khi bệnh nhân chóng mặt và có thể té ngã khi

gắng sức thở ra.

Trước khi đo, những dữ liệu sau phải được khai thác và nhập vào máy để

tính giá trị tham chiếu của bệnh nhân như giới tính, tuổi, chiều cao, chủng tộc,

cân nặng, các thuốc đang được điều trị, tình trạng hút thuốc lá.

2.4.6.3 Tiến hành đo hô hấp ký

- Kiểm



tra và xác nhận máy đo hô hấp ký đã được định chuẩn.



- Kiểm



tra và xác nhận thông tin bệnh nhân đã nhập vào máy trước đó.



- Bệnh



nhân đứng hay ngồi. Quần áo rộng rãi: cởi áo khốc ngồi, nới lỏng



dây nịt. Lưng thẳng, hai chân song song, hai bàn chân đặt vững chắc trên sàn,

đầu hơi ngưa khi ngậm ống, mũi được kẹp để tránh thốt khí ra ngồi, miệng

ngậm kín ống ngậm, răng giả được để nguyên nếu không ảnh hưởng việc

ngậm kín và hít thở qua ống.

- Giải



thích và minh họa kỹ thuật hít thở khi đo các thể tích và dung tích



phổi như Hình 2.2 còn gọi là nghiệm pháp đo dung tích sống thở chậm (VC):

bệnh nhân hít thở bình thường theo hướng dẫn của kỹ thuật viên để đo thể tích

khí lưu thơng rồi sau đó hít và thở sâu chậm vừa để đo các thể tích dự trữ hít

vào và dự trữ thở ra và từ đó máy tính được dung tích sống thở chậm (VC).

Bệnh nhân phải được hít vào hết mức rồi thở ra hết mức cho đến khi đạt tiêu

chuẩn thở ra một cách từ từ, nhẹ nhàng, không cần gắng sức. Q trình hít vào

và thở ra từ 5-6 giây. Bệnh nhân được hướng dẫn khơng được hít vào q

chậm và giản đồ thể tích-thời gian có thể tích thay đổi <0,025 lít trong 1 giây.

Một số tình trạng ảnh hưởng đến kết quả đo cần lưu ý như ho, ngưng thổi đột

ngột, hở miệng hay tắc nghẽn ở ống ngậm. Thời gian nghỉ giữa 2 lần thực

hiện > 1 phút.



Hình 2.2 Hình minh họa các thể tích đo được trong giai đoạn hít chậm để

đo dung tích sống (VC).

Lưu ý: Các thể tích như dung tích cặn, thể tích khí dự trữ và tổng dung luọng phổi

không đo được bằng hơ hấp ký

- Giải



thích và minh họa kỹ thuật đo nghiệm pháp dung tích gắng sức



(FVC) qua đó tính được các thơng số FVC, FEV1, PEF và FEF25-75 như Hình

2.3. Hít sâu thật đầy lồng ngực sau đó thở ra ngay lập tức thật nhanh, thật

mạnh, thật hết. Có 4 pha cần thực hiện khi đo các thể tích và lưu lượng này

bao gồm:

(1) hít vào hết mức, ngưng 1-2 giây; (2) thở ra nhanh, mạnh và hết mức, (3)

tiếp tục duy trì thở ra cho đến khi khơng thể thở được nữa (kéo dài ít nhất 6

giây ở người lớn) và (4) bệnh nhân hít vào thật đầy lồng ngực trở lại. Thực

hiện lại ít nhất 3 lần.



Hình 2.3 Giản đồ đường cong lưu lượng – thể tích bệnh nhân cần đo để

có các thể tích và lưu lượng cần đo trong giai đoạn đo dung tích sống

gắng sức (FVC)

-



Kết quả hô hấp ký sẽ hiển thị trên bảng kết quả để gưi đến bác sĩ điều trị



như Hình 5-D phụ lục 5 trong đó FEV1 và FVC được báo cáo là trị số lớn

nhất của các lần đo, khơng đòi hỏi FEV1 và FVC cung xuất phát từ một

lần đo. Trong kết quả này, chất lượng hô hấp ký được đánh giá theo tiêu

chuẩn của ATS/ERS như phần tiêu chuẩn của Hình 2.4 [74], [119], [176].

Bệnh nhân được cho đo tối đa 8 lần. Nếu vẫn không đạt được sau 8 lần đo,

ngưng và chọn 3 giản đồ tốt nhất và bác sĩ lâm sàng sẽ đánh giá mức độ tin

cậy trong quyết định lâm sàng như phần khuyến cáo của Bảng 2.2.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.1 Tính ổn định của phép đo FeNO với dụng cụ Niox Mino được phân tích Bland-Altman giữa 2 lần đo.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×