Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 Các nghiên cứu trước đây có cùng hướng nghiên cứu với luận án

6 Các nghiên cứu trước đây có cùng hướng nghiên cứu với luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

41



có phản ánh được độ nặng của hen hay khơng theo cả hai kiểu xếp loại mức

độ nặng theo GINA trước đây (phiên bản GINA 2005 trở về trước) và hiện

hành (phiên bản GINA 2014 cho đến nay).

1.6.2 Liên quan giữa FeNO và mức độ kiểm soát hen

1.6.2.1 Liên quan giữa FeNO với kiểm soát hen theo GINA

Một số nghiên cứu so sánh trung bình hoặc trung vị giá trị FeNO đo được

ở những bệnh nhân có các mức độ kiểm soát hen khác nhau theo GINA được

thực hiện rải rác những năm gần đây ở nhiều nước trên thế giới như của

Gutiérrez năm 2010 tại Tây Ban Nha [45], Papakosta năm 2011 tại Hy Lạp

[200], Prottasan năm 2011 tại Thái Lan [212], Ferdaous năm 2012 tại Tunisia

[281], Soo năm 2015 tại Hàn Quốc [144], Ricciardolo năm 2016 tại Italy

[218] và Kamide năm 2017 tại Nhật Bản [129], [130]. Các nghiên cứu này

đều ghi nhận FeNO có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm bệnh

nhân có các mức kiểm soát hen khác nhau. Một vài nghiên cứu khác cũng

theo hướng này nhưng cho kết quả là FeNO khơng có khác biệt có ý nghĩa

giữa các nhóm bệnh nhân có kiểm sốt hen khác nhau [133], [173], [207],

[270]. Chưa có nghiên cứu nào tương tự ở Việt Nam xác định có hay khơng

có mối tương quan này.

Về nghiên cứu xác định điểm cắt của FeNO để tiên đốn hen đã được

kiểm sốt tốt hay khơng kiểm sốt theo GINA thì cũng có nhiều nghiên cứu

trên thế giới đã thực hiện nhưng chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam. Về

xác định điểm cắt để tiên đoán hen khơng kiểm sốt theo GINA, các tác giả

ghi nhận điểm cắt tối ưu trong các nghiên cứu của mình dao động từ > 30 ppb

đến > 48 ppb với độ nhạy 66%-83%; độ đặc hiệu 49%-66% và diện tích

dưới đường cong ROC (AUC) 0,69-0,79 [130], [149], [175], [218]. Theo hội

Lồng Ngực

Hoa Kỳ thì một bệnh nhân hen đang điều trị mà FeNO còn cao > 50 ppb thì

chứng tỏ tình trạng kiểm sốt hen của người đó còn kém có thể do nhiều

nguyên



42



nhân như không tuân thủ tốt, không dung thuốc đúng kỹ thuật, không tránh

được các dị nguyên… [81]. Điểm cắt để xác định hen đã kiểm soát tốt theo

GINA thì chưa thấy nghiên cứu nào làm nhưng hướng dẫn của hội Lồng Ngực

Hoa Kỳ cho biết khi FeNO< 25 ppb mà bệnh nhân khơng có triệu chứng lâm

sàng thì xem như hen đã được kiểm sốt tốt [81].

1.6.2.2 Liên quan giữa FeNO và ACT

Nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu mối tương quan giữa nồng độ FeNO và

điểm số kiểm soát hen ACT cũng như xem xét FeNO trung bình có khác nhau

giữa các nhóm bệnh nhân có mức kiểm sốt hen khác nhau theo ACT hay

khơng.

Các nghiên cứu tìm thấy mối tương quan giữa FeNO và ACT với các hệ

số tương quan r dao động từ -0,16 đến -0,76 ở bệnh nhân chưa hay đã điều trị

với ICS [45], [93], [112], [130], [177], [192], [200], [230], [235], [281]. Tuy

nhiên cũng có nghiên cứu nhận thấy FeNO có tương quan với ACT ở bệnh

nhân chưa điều trị với ICS nhưng lại không tương ở những bệnh nhân đang

được điều trị với ICS [59].

Khác biệt trung bình FeNO giữa 3 nhóm bệnh nhân có kiểm sốt hen

khác nhau theo ACT (kiểm sốt tốt, kiểm sốt 1 phần và khơng kiểm sốt)

cũng được tìm thấy ở nghiên cứu của Papakosta năm 2011 tại Hy Lạp [200]

và của Habib năm 2014 tại Saudi Arabia [109]. Khác biệt trung vị FeNO của

3 nhóm bệnh nhân như vậy được Shirai tìm thấy năm 2008 tại Nhật Bản

[235].

Trong nghiên cứu của luận án này, chúng tơi khơng lấy kiểm sốt theo

ACT làm trọng tâm nhưng bên cạnh khảo sát các mối liên quan giữa FeNO

với các mức kiểm sốt theo GINA thì mối liên quan giữa FeNO với điểm số

ACT hay với mức kiểm soát hen theo ACT cũng được xem xét vì bảng trắc

nghiệm này cũng đang được sư dụng phổ biến tại Việt Nam.



43



CHƯƠNG 2. ĐÔI TƯỢNG VA PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Khung khái niệm và hướng nghiên cứu

Các khái niệm về bệnh hen và cách quản lý hen cũng như hướng của

nghiên cứu được mô tả ở sơ đồ 1. Trong sơ đồ này viêm là nền tảng của bệnh

hen để từ đó gây ra triệu chứng lâm sàng và giới hạn thông khí trên người

bệnh. Nếu tình trạng viêm này khơng được khống chế một cách hiệu quả, các

kết cục xấu ngắn hạn như xuất hiện cơn hen cấp, tư vong hay dài hạn như tiến

triển đến tắc nghẽn đường dẫn khí cố định hay ACO (bệnh hen và bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính chồng lắp) có thể xảy ra. Với cách điều trị cổ điển, bệnh

nhân chỉ được xư lý khi vào đợt cấp mà khơng được điều trị kiểm sốt hen

lâu dài với ICS nên hầu như bệnh hen hoàn tồn khơng được kiểm sốt. Cách

quản lý hen hiện tại theo GINA có nhiều tiến bộ hơn khi ICS được sư dụng

thường xuyên để kiểm soát hen bên cạnh các thuốc dãn phế quản thêm vào

để làm giảm triệu chứng. Tuy nhiên cách quản lý hen này (theo GINA) chỉ

dựa vào triệu chứng lâm sàng và hô hấp ký chứ chưa đánh giá đến tình trạng

viêm của đường hơ hấp nên hiệu quả chưa cao. Ví dụ như khi triệu chứng

lâm sàng ổn định nhưng chưa khống chế tốt nền viêm mà ngưng thuốc thì

nguy cơ xuất hiện đợt cấp trở lại rất cao hoặc khi nền viêm và triệu chứng

lâm sàng đã ổn nhưng không đánh giá được mức độ viêm nên phải dùng

thuốc liều cao cho bệnh nhân thì có thể gây ra tác dụng phụ do dung thuốc dài

ngày. Để giúp kiểm soát hen tốt hơn nữa, xu hướng quản lý hen hiện nay là sư

dụng các chất chỉ điểm viêm để tham khảo trong các quyết định lựa chọn

điều trị hay tăng giảm mức điều trị. Cách này đã được chứng minh là có

hiệu quả trong một số đối tượng. Để làm tiền đề cho việc sư dụng FeNO

trong quản lý hen thì vai trò, giá trị các điểm cắt và mối liên quan giữa FeNO

với độ nặng cũng như mức kiểm soát hen cần được xác định và đây cũng

chính là mục đích nghiên cứu của luận án này.



44



Diễn tiến tự nhiên của bệnh hen

Bệnh hen



Co thắt phế quản

Viêm mạn tính



Lâm sàng

FEV1, PEF

Viêm



Cấp

Mạn



Tái cấu trúc



- Tư vong

- Gánh nặng bệnh tật



Hen khó trị/ ACO



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 Các nghiên cứu trước đây có cùng hướng nghiên cứu với luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×