Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Gánh nặng bệnh tật, mô hình quản lý và tình hình kiểm soát hen hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam

1 Gánh nặng bệnh tật, mô hình quản lý và tình hình kiểm soát hen hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



thành mắc bệnh hen và đem lại gánh nặng bệnh tật khơng nhỏ cho gia đình và

xã hội.

Về gánh nặng bệnh tật lên sức khỏe, số năm sống được điều chỉnh theo

mức độ bệnh tật (DALY) bị mất đi do hen cũng có xu hướng cao hơn trước,

ước tính chiếm 1% trên tổng số DALY mất do tất cả các bệnh [1], [100]. Gánh

nặng kinh tế của hen tại Việt Nam cũng là điều đáng lưu ý. Theo kết quả của

một nghiên cứu tại Hà Nội thì đã có 64,9% người bệnh từng phải đi cấp cứu vì

hen [17] và chi phí cho 1 đợt điều trị nội trú (kéo dài khoảng 7,51 ± 5,31 ngày)

tại bệnh viện Bạch Mai năm 2015 là 9.014.990 VNĐ/bệnh nhân (dao động từ

1.729.768 VNĐ đến 44.465.354 VNĐ) [11]. Như vậy, chi phí trung bình cho

một đợt điều trị nội trú hen cao gấp gần 3 lần so với mức lương tối thiểu tính

tại thời điểm năm 2015 là 3.100.000 đồng/tháng [35], chi phí ở trường hợp

cao nhất lớn hơn 14,34 lần so với mức lương tối thiểu [11]. Một nghiên cứu

trước đó cũng tại bệnh viện Bạch Mai cho kết quả chi phí tương tự khi so

sánh với mức lương tối thiểu tại thời điểm đó [39]. Tỷ lệ trẻ phải nghỉ học vì

hen theo một nghiên cứu là 11,3% [9].

Mặc du tình hình xuất hiện cơn hen cấp, nhập viện hay tư vong do hen ở

nhiều nước trong đó có Việt Nam được ghi nhận là giảm đáng kể so với trước

đây (khi chưa có các thuốc xịt/hít được sư dụng phổ biến) nhưng hen vẫn là

gánh nặng bệnh tật hàng đầu trên thế giới và có những tác động khơng thể

chấp nhận được lên hệ thống y tế và xã hội [6], [27], [37], [40], [100]. Về tư

vong, uớc tính mỗi năm trên thế giới hiện có khoảng 180.000 đển 250.000

trường hợp tư vong do hen và trung bình cứ 250 người tư vong trên thế giới

thì có 1 trường hợp là do hen [1], [100]. Tại Việt Nam theo kết quả điều tra

năm 2010 thì tỉ lệ tư vong do hen giai đoạn 2005-2009 ở Việt Nam là 3,78

trường hợp/100.000 dân và tỷ lệ trẻ em có ít nhất 1 lần nhập viện vì cơn hen

cấp theo một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh là 84,3% [15], [12].

Điều quan trọng hơn là



7



80%-90% những trường hợp tư vong do hen có thể tránh được nếu được phát

hiện sớm, điều trị đúng và kịp thời [1], [19], [100].

Các nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam đều chỉ ra rằng, phần

lớn chi phí điều trị hen là dung trong điều trị đợt cấp [19], [100], [189]. Do

vậy, để giảm gánh nặng bệnh tật do hen đem lại, hạn chế tối đa nguy cơ xuất

hiện đợt cấp là một mục tiêu quan trọng trong các chương trình quản lý hen.

Để làm được điều này, nhiều mơ hình quản lý hen ra đời và thay đổi theo

thời gian được trình bày ở các mục tiếp sau đây.

1.1.2 Mơ hình quản lý hen theo hướng dẫn GINA

Hen là bệnh viêm mạn tính của đường hô hấp và cho đến nay mặc du có

rất nhiều tiến bộ trong điều trị nhưng vẫn chưa có can thiệp điều trị nào có thể

chữa dứt điểm được bệnh hen [19], [100]. Chính vì vậy, mục tiêu điều trị hen

được đưa ra một cách đồng thuận là kiểm sốt hen để giúp người bệnh có cuộc

sống, sinh hoạt và làm việc (hay học tập, vui chơi) bình thường giống như

những người không bị hen [100]. Để giúp cả nhân viên y tế và người bệnh biết

được mục tiêu này, GINA đưa ra tiêu chuẩn kiểm soát hen như Bảng 1.1 mà

khi đạt được tiêu chuẩn này thì người bệnh được xem như đã kiểm soát được

bệnh hen của mình.

Để giúp người bệnh đạt được mục tiêu này, GINA các phiên bản trước

đây đề ra mơ hình quản lý bệnh hen dựa vào độ nặng hay còn gọi là quản lý

hen dựa vào bậc hen nhưng kể từ năm 2006 đến nay GINA đề xuất mơ hình

quản lý hen dựa vào mức kiểm soát hen. Trong cả 2 mơ hình quản lý hen dựa

vào bậc hen hay mức độ kiểm soát hen, chiến lược điều trị bậc thang với 5

bước điều trị từ thấp đến cao như Bảng 1.2 được sư dụng (nội dung của bản

này có chỉnh sửa đôi chút từ năm 1993 đến nay).



8



Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị hen theo GINA

Người bệnh được xem như đã kiểm soát được bệnh khi đạt được các tiêu

chí sau:

Khơng có triệu chứng ban ngày

Khơng có tiệu chứng ban đêm

Không bị giới hạn vận động do hen

Không cần sư dụng thuốc cắt cơn

Chức năng hơ hấp bình thường

“Nguồn: GINA 2006, GINA 2014 và GINA 2017” [98], [99], [100]



Bảng 1.2 Tiếp cận từng bước trong điều trị hen theo GINA

Bước 1

Chọn thuốc

kiểm sốt

thích hợp



Lựa chọn



Cân nhắc



Bước 2

Liều thấp



Liều thấp



ICS



ICS/LABA



LTRA



thuốc kiểm liều thấp liều thấp

soát khác

Cắt cơn



ICS



Bước 3



theop



SABA khi cần



Bước 4

Liều trung

bình/cao

ICS/LABA



Liều trung



Thêm



bình/cao ICS



tiotropium*



Liều thấp



Liều cao



ICS+LTRA



ICS+LTRA



(hay+theop)



(hay+theop)



Bước 5

Điều trị thêm

Tiotropium*

Omalizumab,**

Mepolizumab**

Bổ sung liều

thấp

corticosteroid

đường uống

moterol



Ghi chú: LTRA: thuốc đối kháng thụ thể leukotrien; SABA: đồng vận β2 giãn phế quản tác

dụng ngắn; theop: theophylline; *: cập nhật 2015; **: cập nhật 2016.

“Nguồn: GINA 2014, GINA 2017” [99], [100]



Trong chiến lược điều trị này, bệnh nhân sẽ được khởi trị ở một bước

nào đó trong lần khám đầu tiên và khi tái khám, tuy theo tình trạng người bệnh

(bậc hen hiện tại trong mơ hình dựa vào bậc hay mức kiểm soát hen hiện tại



9



trong mơ hình dựa vào mức kiểm sốt) mà mức độ điều trị sẽ được tăng hay

giảm từng bước gọi là điều trị theo kiểu bậc thang.

1.1.2.1 Mơ hình quản lý hen dựa vào độ nặng (bậc) của hen

Mơ hình này đòi hỏi nhân viên y tế phải đánh giá độ nặng của bệnh hen

(bậc hen) mỗi khi bệnh nhân đến khám để lựa chọn bước điều trị ban đầu hay

điều chỉnh điều trị sau đó (theo nguyên tắc điều trị bậc thang như đã nêu trên).

Bảng 1.3 Phân độ nặng của hen theo GINA 2005

Triệu



Triệu



Mức độ cơn



chứng



chứng



hen ảnh hưởng



ban ngày



ban đêm



hoạt



Bậc 1 (Nhẹ,



<1



2 lần/



cách quãng)



lần/tuần



tháng



Bậc hen



>1

Bậc 2 (Nhẹ,

dai dẳng)



hoạt động thể



> 2 lần/



hưởng



<1



tháng



hoạt động thể



> 1 lần/



Ảnh hưởng hoạt



dai dẳng)



ngày



tuần



động thể lực



xuyên,

liên tục



> 80%



< 20%



> 80%



20% 30%



lực



Hàng



(Nặng)



PEF



lực



lần/tuần



Thường



động



Không giới hạn



Bậc 3 (Vừa,



4



FEV1



Dao



Có thể ảnh



lần/ngày



Bậc



PEF,



Thường





60-80%



> 30%



< 60%



> 30%



Giới hạn hoạt

động



thể lực

“Nguồn: GINA, 2005, GINA 2006” [98], [220]



Mơ hình này được sư dụng từ phiên bản đầu tiên của GINA năm 1993

cho đến phiên bản năm 2005 [220]. Khi người bệnh đến khám, nhân viên y

tế sẽ dựa vào các tiêu chí như triệu chứng ban ngày, triệu chứng ban đêm,

nhu cầu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Gánh nặng bệnh tật, mô hình quản lý và tình hình kiểm soát hen hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×