Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



thành mắc bệnh hen và đem lại gánh nặng bệnh tật khơng nhỏ cho gia đình và

xã hội.

Về gánh nặng bệnh tật lên sức khỏe, số năm sống được điều chỉnh theo

mức độ bệnh tật (DALY) bị mất đi do hen cũng có xu hướng cao hơn trước,

ước tính chiếm 1% trên tổng số DALY mất do tất cả các bệnh [1], [100]. Gánh

nặng kinh tế của hen tại Việt Nam cũng là điều đáng lưu ý. Theo kết quả của

một nghiên cứu tại Hà Nội thì đã có 64,9% người bệnh từng phải đi cấp cứu vì

hen [17] và chi phí cho 1 đợt điều trị nội trú (kéo dài khoảng 7,51 ± 5,31 ngày)

tại bệnh viện Bạch Mai năm 2015 là 9.014.990 VNĐ/bệnh nhân (dao động từ

1.729.768 VNĐ đến 44.465.354 VNĐ) [11]. Như vậy, chi phí trung bình cho

một đợt điều trị nội trú hen cao gấp gần 3 lần so với mức lương tối thiểu tính

tại thời điểm năm 2015 là 3.100.000 đồng/tháng [35], chi phí ở trường hợp

cao nhất lớn hơn 14,34 lần so với mức lương tối thiểu [11]. Một nghiên cứu

trước đó cũng tại bệnh viện Bạch Mai cho kết quả chi phí tương tự khi so

sánh với mức lương tối thiểu tại thời điểm đó [39]. Tỷ lệ trẻ phải nghỉ học vì

hen theo một nghiên cứu là 11,3% [9].

Mặc du tình hình xuất hiện cơn hen cấp, nhập viện hay tư vong do hen ở

nhiều nước trong đó có Việt Nam được ghi nhận là giảm đáng kể so với trước

đây (khi chưa có các thuốc xịt/hít được sư dụng phổ biến) nhưng hen vẫn là

gánh nặng bệnh tật hàng đầu trên thế giới và có những tác động khơng thể

chấp nhận được lên hệ thống y tế và xã hội [6], [27], [37], [40], [100]. Về tư

vong, uớc tính mỗi năm trên thế giới hiện có khoảng 180.000 đển 250.000

trường hợp tư vong do hen và trung bình cứ 250 người tư vong trên thế giới

thì có 1 trường hợp là do hen [1], [100]. Tại Việt Nam theo kết quả điều tra

năm 2010 thì tỉ lệ tư vong do hen giai đoạn 2005-2009 ở Việt Nam là 3,78

trường hợp/100.000 dân và tỷ lệ trẻ em có ít nhất 1 lần nhập viện vì cơn hen

cấp theo một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh là 84,3% [15], [12].

Điều quan trọng hơn là



7



80%-90% những trường hợp tư vong do hen có thể tránh được nếu được phát

hiện sớm, điều trị đúng và kịp thời [1], [19], [100].

Các nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam đều chỉ ra rằng, phần

lớn chi phí điều trị hen là dung trong điều trị đợt cấp [19], [100], [189]. Do

vậy, để giảm gánh nặng bệnh tật do hen đem lại, hạn chế tối đa nguy cơ xuất

hiện đợt cấp là một mục tiêu quan trọng trong các chương trình quản lý hen.

Để làm được điều này, nhiều mơ hình quản lý hen ra đời và thay đổi theo

thời gian được trình bày ở các mục tiếp sau đây.

1.1.2 Mơ hình quản lý hen theo hướng dẫn GINA

Hen là bệnh viêm mạn tính của đường hô hấp và cho đến nay mặc du có

rất nhiều tiến bộ trong điều trị nhưng vẫn chưa có can thiệp điều trị nào có thể

chữa dứt điểm được bệnh hen [19], [100]. Chính vì vậy, mục tiêu điều trị hen

được đưa ra một cách đồng thuận là kiểm sốt hen để giúp người bệnh có cuộc

sống, sinh hoạt và làm việc (hay học tập, vui chơi) bình thường giống như

những người không bị hen [100]. Để giúp cả nhân viên y tế và người bệnh biết

được mục tiêu này, GINA đưa ra tiêu chuẩn kiểm soát hen như Bảng 1.1 mà

khi đạt được tiêu chuẩn này thì người bệnh được xem như đã kiểm soát được

bệnh hen của mình.

Để giúp người bệnh đạt được mục tiêu này, GINA các phiên bản trước

đây đề ra mơ hình quản lý bệnh hen dựa vào độ nặng hay còn gọi là quản lý

hen dựa vào bậc hen nhưng kể từ năm 2006 đến nay GINA đề xuất mơ hình

quản lý hen dựa vào mức kiểm soát hen. Trong cả 2 mơ hình quản lý hen dựa

vào bậc hen hay mức độ kiểm soát hen, chiến lược điều trị bậc thang với 5

bước điều trị từ thấp đến cao như Bảng 1.2 được sư dụng (nội dung của bản

này có chỉnh sửa đôi chút từ năm 1993 đến nay).



8



Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị hen theo GINA

Người bệnh được xem như đã kiểm soát được bệnh khi đạt được các tiêu

chí sau:

Khơng có triệu chứng ban ngày

Khơng có tiệu chứng ban đêm

Không bị giới hạn vận động do hen

Không cần sư dụng thuốc cắt cơn

Chức năng hơ hấp bình thường

“Nguồn: GINA 2006, GINA 2014 và GINA 2017” [98], [99], [100]



Bảng 1.2 Tiếp cận từng bước trong điều trị hen theo GINA

Bước 1

Chọn thuốc

kiểm sốt

thích hợp



Lựa chọn



Cân nhắc



Bước 2

Liều thấp



Liều thấp



ICS



ICS/LABA



LTRA



thuốc kiểm liều thấp liều thấp

soát khác

Cắt cơn



ICS



Bước 3



theop



SABA khi cần



Bước 4

Liều trung

bình/cao

ICS/LABA



Liều trung



Thêm



bình/cao ICS



tiotropium*



Liều thấp



Liều cao



ICS+LTRA



ICS+LTRA



(hay+theop)



(hay+theop)



Bước 5

Điều trị thêm

Tiotropium*

Omalizumab,**

Mepolizumab**

Bổ sung liều

thấp

corticosteroid

đường uống

moterol



Ghi chú: LTRA: thuốc đối kháng thụ thể leukotrien; SABA: đồng vận β2 giãn phế quản tác

dụng ngắn; theop: theophylline; *: cập nhật 2015; **: cập nhật 2016.

“Nguồn: GINA 2014, GINA 2017” [99], [100]



Trong chiến lược điều trị này, bệnh nhân sẽ được khởi trị ở một bước

nào đó trong lần khám đầu tiên và khi tái khám, tuy theo tình trạng người bệnh

(bậc hen hiện tại trong mơ hình dựa vào bậc hay mức kiểm soát hen hiện tại



9



trong mơ hình dựa vào mức kiểm sốt) mà mức độ điều trị sẽ được tăng hay

giảm từng bước gọi là điều trị theo kiểu bậc thang.

1.1.2.1 Mơ hình quản lý hen dựa vào độ nặng (bậc) của hen

Mơ hình này đòi hỏi nhân viên y tế phải đánh giá độ nặng của bệnh hen

(bậc hen) mỗi khi bệnh nhân đến khám để lựa chọn bước điều trị ban đầu hay

điều chỉnh điều trị sau đó (theo nguyên tắc điều trị bậc thang như đã nêu trên).

Bảng 1.3 Phân độ nặng của hen theo GINA 2005

Triệu



Triệu



Mức độ cơn



chứng



chứng



hen ảnh hưởng



ban ngày



ban đêm



hoạt



Bậc 1 (Nhẹ,



<1



2 lần/



cách quãng)



lần/tuần



tháng



Bậc hen



>1

Bậc 2 (Nhẹ,

dai dẳng)



hoạt động thể



> 2 lần/



hưởng



<1



tháng



hoạt động thể



> 1 lần/



Ảnh hưởng hoạt



dai dẳng)



ngày



tuần



động thể lực



xuyên,

liên tục



> 80%



< 20%



> 80%



20% 30%



lực



Hàng



(Nặng)



PEF



lực



lần/tuần



Thường



động



Không giới hạn



Bậc 3 (Vừa,



4



FEV1



Dao



Có thể ảnh



lần/ngày



Bậc



PEF,



Thường





60-80%



> 30%



< 60%



> 30%



Giới hạn hoạt

động



thể lực

“Nguồn: GINA, 2005, GINA 2006” [98], [220]



Mơ hình này được sư dụng từ phiên bản đầu tiên của GINA năm 1993

cho đến phiên bản năm 2005 [220]. Khi người bệnh đến khám, nhân viên y

tế sẽ dựa vào các tiêu chí như triệu chứng ban ngày, triệu chứng ban đêm,

nhu cầu



10



sư dụng thuốc cắt cơn, chức năng phổi mà phân độ nặng của hen thành 4 bậc

như Bảng 1.3. Dựa vào cách phân bậc này, bước tiếp theo sẽ là lựa chọn mức

điều trị cho bệnh nhân theo các bước điều trị của GINA (Bảng 1.2) và sau đó

sẽ tăng giảm bước điều trị tuy theo bậc hen hiện tại của người bệnh mỗi khi họ

tái khám theo nguyên tắc điều trị bậc thang vừa nêu.

Mặc du có nhiều tiến bộ trong việc giúp nhân viên y tế xếp loại, lựa chọn

điều trị ban đầu và điều chỉnh điều trị trong quá trình theo dõi nhưng chiến

lược điều trị theo bậc hen này có khuyết điểm là bậc hen khơng phản ảnh

đúng mức độ nặng của bệnh hen và sư dụng mô hình này khơng giúp kiểm

sốt được bệnh tốt [98]. Do vậy, đến năm 2006, việc phân bậc này khơng

còn được khuyến khích sư dụng trong thực hành lâm sàng và mơ hình quản

lý hen chuyển sang dựa vào mức kiểm soát hen. Mặc du vậy, trong thực tế

lâm sàng, nhân viên y tế ở nhiều nơi vẫn sư dụng cách phân bậc này để lựa

chọn điều trị ban đầu cho người bệnh bên cạnh mức độ kiểm soát. Hơn nữa,

đánh giá mức độ nặng của một bệnh luôn là nhu cầu cần biết của nhân viên y

tế cũng như bệnh nhân nên đến năm 2014 GINA lại đề xuất một phương

pháp xác định độ nặng của hen mới dựa vào mức độ điều trị (bước điều trị

như Bảng 1.2) mà bệnh nhân đang sư dụng để có thể kiểm sốt được bệnh

của mình. Độ nặng này được đánh giá khi bệnh nhân đã được điều trị với

thuốc kiểm soát trong vài tháng và sau khi đã cố gắng giảm bước điều trị

(nếu được) để tìm ra mức điều trị hữu hiệu với liều thuốc thấp nhất cho bệnh

nhân. Độ nặng này được đề xuất trong phiên bản GINA 2014 và không thay

đổi đến nay như sau [69], [99], [100], [214]:

- Hen nhẹ là hen được kiểm soát tốt với điều trị bước 1 hoặc bước 2 theo

Bảng 1.2, nghĩa là chỉ dung thuốc cắt cơn khi cần hoặc điều trị với thuốc

kiểm soát nhẹ như ICS liều thấp, kháng thụ thể leukotriene hoặc

chromone.

- Hen trung bình là hen được kiểm sốt tốt với điều trị bước 3, ví dụ như



11



ICS/LABA (phối hợp thuốc corticoid dạng hít với thuốc giãn phế quản tác

dụng kéo dài nhóm kích thích beta 2) liều thấp.

- Hen nặng là hen cần điều trị ở bước 4 hoặc 5, ví dụ như ICS/LABA liều

cao để ngừa hen trở nên ‘khơng kiểm sốt’ hoặc hen vẫn ‘khơng kiểm

soát’ du điều trị ở mức này.

Tiêu chuẩn xếp loại độ nặng này được tóm tắt vào bảng để dễ theo dõi như

sau:

Bảng 1.4 Phân loại độ nặng của hen theo GINA 2014-2017

Bước điều trị đang sử dụng



Mức kiểm soát hen Bậc hen theo GINA



Bước 1 và 2



Kiểm soát



Nhẹ



Bước 3



Kiểm sốt



Trung bình



Bước 4 và 5



Kiểm sốt hay vẫn

chưa kiểm sốt



Nặng



Ghi chú: Các bước điều trị theo phân chia ở Bảng 1.2.

“Nguồn: GINA 2014 và GINA 2017” [99], [100]



1.1.2.2 Mơ hình quản lý hen dựa vào mức kiểm soát hen

Như đã đề cập, do nhiều bất cập trong cách tiếp cận điều trị hen dựa vào

bậc hen nên các hướng dẫn của GINA từ năm 2006 trở về sau sư dụng mơ

hình quản lý hen dựa vào mức kiểm sốt hen [98], [99], [100]. Trong phiên

bản đầu tiên năm 2006, mức độ kiểm soát hen được phân chia làm 3 loại là

kiểm sốt tốt, kiểm sốt 1 phần và khơng kiểm sốt như Bảng 1.5 nhưng có

thêm 2 tiêu chí đánh giá khơng có trong Bảng 1.5 là chức năng phổi (đo

bằng FEV1 hay PEF) và tiền sư có đợt cấp [98]. Đến năm 2014, việc đánh

giá mức kiểm soát hen như Bảng 1.5 và giữ nguyên cho đến nay [99], [100].

Trong mơ hình quản lý này, khi bệnh nhân đến khám lần đầu, dựa vào mức

kiểm soát hen của người bệnh mà nhân viên y tế sẽ lựa chọn một bước khởi

trị từ Bảng 1.2 (thường là bước 2 hay bước 3). Sau đó bệnh nhân sẽ được

hẹn tái khám và mỗi khi tái khám bệnh nhân được đánh giá lại mức kiếm

sốt hen của họ tại thời điểm đó.



12



Nếu tình trạng hen của bệnh nhân khơng được kiểm sốt như mong đợi

(khơng kiểm sốt hay kiểm sốt 1 phần), sau khi rà soát và loại trừ các yếu tố

ảnh hưởng đến tình trạng kiểm sốt hen kém này (như khơng tn thủ tốt,

khơng hít thuốc đúng kỹ thuật, khơng tránh được các yếu tố khởi phát cơn

hen,…) thì nhân viên y tế sẽ xem xét tăng bước điều trị cho người bệnh nhằm

giúp họ đạt được mức kiểm soát hen tốt hơn. Nếu tình trạng hen của bệnh

nhân đã được kiểm soát tốt, nhân viên y tế sẽ duy trì điều trị hiện tại để giúp

bệnh nhân đạt được kiểm sốt tốt như vậy ít nhất 3 tháng rồi sẽ xem xét giảm

1 bước điều trị nhằm hạn chế tác dụng phụ do thuốc cho bệnh nhân.

Bảng 1.5 Đánh giá kiểm soát hen ở người lớn, thiếu niên và trẻ 6-11 tuổi

theo GINA 2017

Trong vòng 4 tuần gần đây nhất, bệnh

nhân có:



KS tốt



KS một

phần



Khơng

KS



Triệu chứng ban ngày nhiều Có □ Khơng □

hơn 2 lần/1 tuần

Có thức giấc ban đêm do hen Có □ Khơng □ Khơng 1-2 câu 3-4

Cần dung thuốc cắt cơn > 2 Có □ Khơng □

lần/1 tuần

Có hạn chế hoạt động do hen Có □ Khơng □



câu



câu trả trả lời có trả lời có

lời nào





Ghi chú: KS: kiểm sốt“Nguồn: GINA, 2017” [100]



Trong mơ hình quản lý hen dựa vào mức kiểm soát hen này, bên cạnh

tiêu chí xếp loại kiểm sốt hen theo GINA như đã trình bày, hiện nay có nhiều

cơng cụ khác giúp xác định được tình trạng kiểm sốt hen của bệnh nhân

trong đó có bộ câu hỏi kiểm sốt hen ACT đã được sư dụng tương đối phổ

biến tại Việt Nam. Bộ câu hỏi này được hội Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS) cơng

bố năm 2004 gồm 5 câu hỏi với mục đích lấy bệnh nhân làm trung tâm nhằm

đánh giá mức độ kiểm soát các triệu chứng hen và ảnh hưởng của hen lên

cuộc sống người



13



bệnh [181]. Mỗi câu hỏi có lựa chọn trả lời theo thang điểm bậc 5 của Likert

từ 1 (xấu nhất) đến 5 điểm (tốt nhất). Tổng điểm của 5 câu trả lời thấp nhất

là 5 điểm (kiểm soát kém nhất) và nhiều nhất là 25 điểm (kiểm sốt tốt nhất

hay còn gọi là kiểm sốt hồn tồn) (xem phụ lục 3). Khi tổng điểm từ 20

điểm trở lên thì bệnh nhân được xếp loại kiểm sốt tốt, từ 16 đến 19 điểm là

kiểm sốt 1 phần còn 5 đến 15 điểm là khơng kiểm sốt. ACT là bộ câu hỏi

đã được chuẩn hóa, đáng tin cậy và đáp ứng những thay đổi của kiểm soát

hen theo thời gian [181]. Bộ câu hỏi này đã được chuẩn hóa tại Việt Nam do

Nguyễn Như Vinh thực hiện năm 2012 [188] và đã được sư dụng ở nhiều

nơi tại Việt Nam cho đến nay [17], [20], [21], [25], [28].

1.1.3 Tình hình kiểm soát hen hiện nay

Mặc du có rất nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị cũng như quản

lý nhưng tình hình kiểm sốt hen hiện nay tại nhiều nước trên thế giới trong đó

có Việt Nam khơng được như mong đợi. Rất nhiều nghiên cứu tại Việt Nam

cho thấy thực trạng kiểm soát hen đáng báo động. Theo một nghiên cứu đa

quốc gia trong đó có Việt Nam thì tỷ lệ bệnh được kiểm sốt tốt tại Việt

Nam chỉ khoảng 1% [152]. Nguyễn Quang Chính và cs nghiên cứu tình hình

kiểm sốt hen của bệnh nhân người lớn tại Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ bệnh

nhân có hen đạt mức kiểm soát tốt chỉ là 4,0% [5]. Một nghiên cứu mang tính

đại diện hơn tại các quận huyện ở thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Văn

Thọ và cộng sự (cs) nhận thấy tỷ lệ kiểm soát hen theo GINA tăng từ 1%

trước khi can thiệp lên 37% sau 1 năm can thiệp điều trị theo hướng dẫn

GINA [259]. Hay một nghiên cứu điều tra ngẫu nhiên ở Việt Nam trên 14.246

người dân từ 16 tuổi trở lên tại 7 vung miền sinh thái trên cả nước thì trong số

485 bệnh nhân hen được khảo sát chỉ có 39,7% bệnh nhân đạt được kiểm

sốt hen khi đánh giá bằng bộ câu hỏi ACT [16]. Có nhiều lý do làm nên tỷ

lệ hen kiểm soát đáng thất vọng này trong đó có vài lý do dễ nhận thấy như

hen chưa được chẩn đốn chính xác,



14



khơng được theo dõi và điều trị hợp lý để ngăn ngừa cơn cấp và sự tuân thủ

kém của người bệnh do lo ngại tác dụng phụ của thuốc corticoid khi phải dùng

trong một thời gian tương đối lâu [18]. Nhiều nỗ lực để gia tăng tỷ lệ kiểm

soát hen cho bệnh nhân đã được thực hiện trong đó có các chương trình, kế

hoạch mang tính quốc gia [2], [34].

Trong “Kế hoạch phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015 –

2020” của Bộ Y Tế ngày 30 tháng 1 năm 2015 và “Quyết định Phê duyệt

Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường,

bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh khơng lây nhiễm

khác, giai đoạn 2015 – 2025” của Thủ tướng chính phủ ngày 20 tháng 3 năm

2015, mục tiêu là đến năm 2025 sẽ có 50% số người bệnh hen được phát

hiện và điều trị ở giai đoạn sớm, 50% số người bệnh hen được điều trị đạt

kiểm sốt hen trong đó 20% đạt kiểm sốt hồn tồn [2], [34]. Để đạt được

kế hoạch này, bên cạnh việc phải tăng tỷ lệ bệnh nhân có thể tiếp cận các

thuốc kiểm sốt hen vốn còn rất ít hiện nay (với tỉ lệ được dự phòng hen mới

chỉ đạt 26,2% ở người lớn và 20% trẻ em dưới 15 tuổi [18]) hay tăng cường

hướng dẫn sư dụng đúng các dụng cụ hít (với chỉ khoảng 38,5% hít thuốc

đúng kỹ thuật [26]) thì việc có thêm các cách tiếp cận mới để giúp các bệnh

nhân đã có thuốc kiểm sốt hen có thể đạt được mức độ kiểm soát hen tốt

hơn là điều cần thiết. Cách tiếp cận dựa vào đánh giá tình trạng viêm của

đường thở trong hen để chẩn đoán, điều trị và theo dõi là một cách tiếp cận

mới, hiện đại tại nhiều quốc gia hiện nay. Trong cách tiếp cận này, đo FeNO

là phương pháp phổ biến và có giá trị nhất cho đến thời điểm hiện nay và đã

đem lại nhiều hiệu quả thiết thực [81].

1.2 Nhu cầu cần thiết của một mơ hình quản lý hen có tham khảo tình

trạng viêm của đường hơ hấp

Bản chất của bệnh hen là tình trạng viêm mạn tính của đường hơ hấp do

vậy điểm cốt lõi trong điều trị hen là phải khống chế nền viêm này [19], [100],



15



[189]. Hiện nay, việc chẩn đoán và theo dõi điều trị cũng như quyết định

ngưng thuốc điều trị đều dựa vào biểu hiện lâm sàng và ở một số nơi có

thêm chức năng thơng khí của phổi. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây

cho biết triệu chứng lâm sàng và chức năng thơng khí phổi mà cụ thể là

FEV1 không liên quan chặt chẽ với mức độ viêm [157]. Do vậy quản lý bệnh

hen còn nhiều hạn chế khi việc chẩn đốn và điều trị một bệnh viêm mạn tính

chỉ dựa vào các chỉ điểm (triệu chứng lâm sàng và hơ hấp ký) ít liên hệ tốt với

tình trạng viêm đó. Vì thế, nếu có được một chỉ điểm viêm của đường hơ

hấp thì việc kiểm sốt nền viêm đó hay nói cách khác là quản lý bệnh hen sẽ

đem lại kết quả tốt hơn [245].

Có nhiều cơ chế viêm đường thở và có thể chia thành 2 nhóm cơ chế

chính: viêm kiểu eosinophilic hay kiểu Th2 (bạch cầu ái toan chiếm ưu thế) và

viêm kiểu neutrophilic hay kiểu non-Th2 (bạch cầu đa nhân trung tính chiếm

ưu thế). Q trình viêm Th2 là cơ chế thường gặp trong hen. Quá trình viêm

này huy động nhiều các tế bào viêm loại Th2, các chất tiền viêm như IL-4 và

IL-13 và thường đặc trưng bởi quá trình tăng bạch cầu ái toan trong mơ viêm

[61]. Hiện nay, trên thế giới đã xuất hiện một vài xét nghiệm có thể cho biết

được mức độ viêm mạn tính của đường hô hấp theo kiểu viêm eosinophilic

hay viêm Th2 trong đó có 3 loại được sư dụng nhiều nhất trong lâm sàng là

nghiệm pháp co thắt phế quản (với methacholine), định lượng số lượng bạch

cầu ái toan trong đàm và đo FeNO. Nghiệm pháp co thắt phế quản thường

được dùng để chẩn đoán hen hơn là được sư dụng để theo dõi và quản lý

hen ngoại trừ khi thực hiện nghiên cứu do tính phức tạp và nguy hiểm của

phương pháp (khi gây co thắt phế quản bằng chất kích thích bệnh nhân có

thể lên cơn khó thở nặng phải cấp cứu). Cho đến nay chưa có cơ sở y tế

nào tại Việt Nam thực hiện nghiệm pháp này trong thực hành quản lý hen.

Định lượng mức eosinophil trong đàm [153] và đo FeNO [10], [89], [112],

[137], [142], [246] dễ áp dụng



16



hơn (vì khơng xâm lấn và khơng nguy hiểm cho người bệnh) và đã được đề

nghị sư dụng như là các chất chỉ điểm viêm đường hô hấp hữu dụng trong

chẩn đoán và cả hướng dẫn điều trị hen. Green và cs đã sư dụng định

lượng eosinophil trong đàm còn Mariëlle và cs đã sư dụng FeNO để hướng

dẫn điều trị và đã nhận thấy rằng cách áp dụng như vậy sẽ giảm được nguy

cơ vào đợt cấp cho những người bị hen tốt hơn so với khi điều trị theo

hướng dẫn hiện hành [104], [208]. Một vài nghiên cứu khác cũng đã cho thấy

ưu điểm của việc sư dụng chất chỉ điểm viêm trong quản lý hen so với hướng

dẫn hiện hành [79], [82], [205], [210].

Như vậy, với các bằng chứng về ưu điểm của việc quản lý hen dựa vào

các chất chỉ điểm viêm của đường thở cũng như tính logic của việc sư dụng

các chất chỉ điểm này trong quản lý hen, nhu cầu cần có một chất chỉ điểm

đáng tin cậy, dễ sư dụng trong quản lý hen là hồn tồn chính đáng và đặc

biệt là cấp bách khi tình trạng kiểm sốt hen còn rất thấp như hiện nay tại

Việt Nam. Nhiều bằng chứng cho thấy FeNO là một chất chỉ điểm viêm có

khả năng đáp ứng được nhu cầu này.

1.3 FeNO và cơ sở của việc sử dụng FeNO trong quản lý bệnh hen

1.3.1 Sinh tổng hợp và vai trò của Nitric oxide trong cơ thể và tại phổi

Nitric oxide (NO) từ lâu được xem là một chất khí độc hại có mặt trong

khơng khí ơ nhiễm, trong khói thuốc lá hay trong khí thải từ các phương tiện

vận chuyển. Khí này có ái lực rất cao với oxy và phản ứng với oxy để hình

thành NO2 là chất khí có thể gây ra tổn hại nhiều tổ chức của hệ hô hấp du với

nồng độ rất thấp [143]. Đến năm 1987 khi Ignarro và cs xác định được NO là

một chất có tính giãn mạch có nguồn gốc nội mạc thì vai trò sinh lý của NO

trong cơ thể mới được chú ý [122]. Ngày nay, NO được nhìn nhận như 1 chất

khí có tác động sinh lý và bệnh lý ảnh hưởng lên nhiều hệ cơ quan trong cơ

thể



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×