Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các tài liệu khác

Các tài liệu khác

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THƯƠNG HIỆU

1.1. Thương hiệu là gì?

1.1.1. Khái niệm về thương hiệu

Thương hiệu là một thuật ngữ phổ biến trong Marketing. Theo hiệp hội

Marketing Hoa Kỳ: “Thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu

tượng hoặc hình vẽ kiểu thiết kế, hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm

xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hoặc nhóm

người bán với hàng hóa và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh”.

Thương hiệu là “tổng tài sản phi vật thể của sản phẩm: Tên, bao bì, giá

cả, lịch sử phát triển, danh tiếng của sản phẩm, và cách nó được quảng cáo”

David Ogilvy (1983), Ogilvy on advertising

“A brand is a distinguishing name and/or symbol (such as logo, trademark, or

package design) intended to identify the goods or services of either one seller or a group

of sellers, and to differentiate those goods or services from those of competitors. A

brand thus signals to the customer the source of the product, and protects both the

customer and the producer from competitors who would attempt to provide products

that appear to be identical (David Aaker, 1991). Brands provide the basis upon which

consumers can identify and bond with a product or service or a group of products or

services (Weilbacher, 1995). From the customer’s point of view, a brand can be defined

as the total accumulation of all his/her experiences, and is built at all points of contact

with the customer (Kapferer, 2004). A successful brand is an identifiable product,

service, person or place, augmented in such a way that the buyer or user perceives

relevant, unique added values which match their needs most closely (Chernatony and

McDonald, 1998)” Bhimrao M. Ghodeswar (2008),



Qua những khái niệm được nêu trên, ta có thể hiểu Thương hiệu là một

quan điểm vơ hình, hình thành trong ý thức của khách hàng, thể hiện cảm

nhận, sự hiểu biết về một cá nhân, tổ chức thông qua việc sử dụng sản

phẩm của họ.

Một thương hiệu được cấu thành bởi hai phần:

6



- Phần phát âm được: là những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính

giác của người nghe như tên công ty, tên sản phẩm, câu khẩu hiệu, đoạn

nhạc hát đặc trưng và các yếu tố phát âm được khác.

- Phần không phát âm được: là những yếu tố khơng đọc được mà chỉ có

thể cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng, màu sắc, kiểu

dáng thiết kế, bao bì và các yếu tố nhận biết khác.

1.1.2. Đặc điểm thương hiệu

- Là loại tài sản vơ hình, có giá trị ban đầu bằng khơng. Giá trị của nó

được hình thành dần do sự đầu tư vào chất lượng sản phẩm và các phương

tiện quảng cáo.

- Thương hiệu là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nhưng lại nằm

ngoài phạm vi doanh nghiệp và tồn tại trong tâm trí người tiêu dùng.

- Thương hiệu được hình thành dần qua thời gian nhờ nhận thức của người

tiêu dùng khi họ sử dụng sản phẩm của những nhãn hiệu được yêu thích,

tiếp xúc với hệ thống các nhà phân phối, và qua quá trình tiếp nhận những

thông tin về sản phẩm.

- Thương hiệu là tài sản có giá trị tiềm năng, khơng bị mất đi cùng với sự

thua lỗ của các công ty.

1.1.3. Chức năng, vai trò, tầm quan trọng của thương hiệu

Sự ra đời của thương hiệu với mục đích định vị các sản phẩm đánh dấu

sự phát triển không ngừng của xã hội. Cũng như tên gọi của con người,

thương hiệu là tên gọi của các sản phẩm, xa hơn nữa nó là hình ảnh của cả

một tổ chức - người chủ sở hữu thương hiệu đó. Hình ảnh đó được mang đi

khắp nơi trên tồn thế giới mang lại lơị ích cho tất cả các đối tượng trong

xã hội. Theo đó, thương hiệu có những chức năng quan trọng sau:

- Nhằm phân đoạn thị trường: Thương hiệu đóng một vai trò tích cực

trong chiến lược phân đoạn thị trường, đây là cơng việc đầu tiên của q

trình xây dựng thương hiệu vì nó cho biết thương hiệu muốn gửi gắm thơng

điệp gì qua sản phẩm và dịch vụ. Các cơng ty đưa ra một tổ hợp những

7



thuộc tính lý tưởng về các thế mạnh, lợi ích và đặc trưng của sản phẩm

hoặc dịch vụ phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng cụ thể, đồng

thời tạo ra những dấu hiệu và sự khác biệt nhất định trên sản phẩm của

mình để thu hút sự chú ý của những khách hàng tiềm năng.

- Tạo nên sự khác biệt trong suốt quá trình phát triển của sản phẩm: Các

thương hiệu được biết đến khi sản phẩm được sản xuất và đưa ra thị

trường. Thương hiệu đóng vai trò như một tấm lá chắn, bảo hộ cho sự đổi

mới dưới dạng bảo hộ sở hữu trí tuệ, biểu hiện cho sự năng động, sáng tạo,

không ngừng đổi mới.

- Đưa sản phẩm khắc sâu vào tâm trí khách hàng: Việc nhận biết một

thương hiệu ảnh hưởng đến nhận thức về những sản phẩm trong tương lai.

- Tạo nên định hướng và ý nghĩa cho sản phẩm: Thương hiệu chứa đựng

trong nó những thơng tin về sản phẩm. Một thương hiệu lớn phải truyền tải

được nội dung, phương hướng chiến lược, những cam kết và tạo được danh

tiếng trên mọi thị trường.

- Là một cam kết giữa nhà sản xuất với khách hàng: Những chương trình

quảng bá thương hiệu thực sự được xem như một cam kết trước khách

hàng. Nếu công ty thực hiện đúng cam kết đem đến cho khách hàng sự thỏa

mãn khi tiêu dùng sản phẩm thì chắc chắn thương hiệu sẽ nhận được những

cảm nhận tốt đẹp, sự trung thành từ phía khách hàng.

*) Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp

Thương hiệu đã và đang trở thành thứ tài sản vơ hình quan trọng và

vũ khí cạnh tranh sắc bén nhất của các doanh nghiệp trên thương trường.

Nhà kinh tế học Kevin Lane Keller đã nói: “Càng ngày các doanh nghiệp

càng nhận thấy rằng một trong những tài sản quý giá nhất của họ chính là

thương hiệu”. Thương hiệu đã thay thế yếu tố chất lượng để chiếm vị trí số

một trong cạnh tranh. Thương hiệu đồng nhất với lòng tin của khách hàng.

Thực tế những năm qua đã minh chứng cho điều đó rất rõ, dù một số sản

phẩm của Việt Nam xuất hiện trên thị trường nhiều nước, chất lượng tốt

8



nhưng đa số người tiêu dùng trên thế giới chưa biết đó là hàng Việt Nam.

Hàng của chúng ta vẫn phải xuất khẩu dưới những tên hiệu nổi tiếng khác,

do vậy chúng ta đã phải chịu rất nhiều thiệt thòi: giảm doanh thu, phụ thuộc

vào các cơng ty nước ngồi, gánh chịu hậu quả nặng nề hơn những doanh

nghiệp có thương hiệu khác. Khi thị trường tiêu thụ khó khăn, đặc biệt về

lâu dài, doanh nghiệp khó có thể mở rộng, phát triển lớn mạnh trong tương

lai.

Ngược lại, doanh nghiệp nào có ý thức đầu tư cho việc quảng bá

thương hiệu thì uy tín, hình ảnh của họ trên thị trường sản xuất được củng

cố. Khi doanh nghiệp đã có được một thương hiệu mạnh, thì sức mạnh

thương hiệu sẽ mang lại sự phát triển bền vững và rộng khắp cho người sở

hữu nó. Năng lực cạnh tranh bằng thương hiệu là danh tiếng, uy tín dựa

trên tổng hợp tất cả sự khác biệt và những nét đặc trưng đã được khách

hàng chấp nhận.

Lợi thế cạnh tranh bằng thương hiệu thể hiện ở:

- Tính chất độc đáo của sản phẩm có thương hiệu sẽ được pháp luật

bảo hộ tránh sự sao chép bất hợp pháp;

- Giảm bớt các chi phí Marketing, vì mức độ biết đến và trung thành

với nhãn hiệu đã cao;

- Ưu thế trong đàm phán với nhà phân phối và đối thủ cạnh tranh;

- Tăng giá trị hàng hố, vì người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều để mua

sản phẩm mà họ đã tin cậy hơn là lựa chọn sản phẩm mà họ chưa biết nhiều

dù giá rẻ hơn;

- Thương hiệu giúp người bán thu hút một nhóm khách hàng trung

thành;

- Thương hiệu giúp phân khúc thị trường;

- Thương hiệu là công cụ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp khi xảy ra

tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ;



9



- Thương hiệu là cơng cụ để nhận diện và khác biệt hóa sản phẩm, là

phương tiện bảo vệ hợp pháp các lợi thế và đặc điểm riêng của sản phẩm,

khẳng định đẳng cấp chất lượng trước khách hàng, đưa sản phẩm ăn sâu

vào tâm trí khách hàng, là nguồn gốc của việc tăng lợi nhuận.

*) Vai trò của thương hiệu đối với người tiêu dùng.

Người tiêu dùng là người được lợi vì trong chiến lược thương hiệu

thì nhu cầu và lợi ích của người tiêu dùng là yếu tố được xem xét hàng đầu.

Người mua có thể đánh giá chất lượng hàng hố bằng thương hiệu,

đặc biệt khi họ không thể phán xét các đặc điểm của sản phẩm ngay khi

mua hàng. Không có thương hiệu việc chọn sản phẩm sẽ rất khó khăn bởi

người tiêu dùng khơng biết lấy gì để đảm bảo rằng họ đã mua đúng sản

phẩm mà mình muốn. Vấn đề sẽ rất đơn giản khi đó là một thương hiệu nổi

tiếng, đã có được sự tin cậy của người tiêu dùng, tức là đã có được sự bảo

chứng.

Người mua được quyền lựa chọn nhiều sản phẩm vô cùng phong

phú. Thương hiệu thể hiện sự khác biệt là điều kiện buộc các doanh nghiệp

đi vào chiều sâu và mở rộng đa dạng hoá sản phẩm. Điều này mang lại lợi

ích cho cả người sản xuất và người tiêu dùng vì người sản xuất tập trung tất

cả các nguồn lực của mình vào một loại sản phẩm sẽ nâng cao chất lượng,

cải tiến, đa dạng mẫu mã, phục vụ người tiêu dùng tốt hơn, đến lượt mình

người tiêu dùng sẽ lựa chọn người sản xuất đó. Tiết kiệm thời gian là một

ưu điểm nữa của việc tiêu dùng hàng có thương hiệu. Người tiêu dùng thấy

mệt mỏi khi phải tốn nhiều thời gian lựa chọn hàng hoá mỗi khi mua sắm.

Thương hiệu giúp người mua xác định sản phẩm nào họ ưa thích, và nhanh

chóng có được sản phẩm thoả mãn nhu cầu của họ.

Ngồi ra thương hiệu còn giúp giảm rủi ro cho khách hàng, giúp họ

biết được xuất xứ hàng hố. Mua hàng có thương hiệu rõ ràng đồng nghĩa

với việc sản phẩm đó sẽ được bảo hành trong một thời gian. Khách hàng có



10



thể gửi yêu cầu tới công ty khi chứng minh được là hàng đã mua không

đảm bảo chất lượng như người sản xuất hay người cung cấp cam kết.

Đối với khách hàng, ý nghĩa đặc biệt của thương hiệu là có thể làm

thay đổi nhận thức và kinh nghiệm của họ về các sản phẩm. Với người tiêu

dùng, thương hiệu làm cho sinh hoạt hàng ngày cũng như cuộc sống của họ

trở nên thuận tiện và phong phú hơn.

1.2. Giá trị thương hiệu

Giá trị thương hiệu là những lợi ích mà cơng ty có được khi sở hữu

thương hiệu này. Có 6 lợi ích chính là: có thêm khách hàng mới, tham gia

duy trì khách hàng trung thành, đưa chính sách giá cao, mở rộng thương

hiệu, mở rộng kênh phân phối, tạo rào cản với đối thủ cạnh tranh.

Theo giáo sư Aaker – Đại Học Berkeley của Mỹ, giá trị thương hiệu

là một tập hợp các tài sản và khoản nợ (assets and liabilities) gắn liền với

một thương hiệu mà nó cộng thêm vào hoặc trừ bớt ra từ giá trị được cung

cấp bởi một sản phẩm hoặc một dịch vụ cho công ty và cho khách hàng của

cơng ty đó. Giá trị thương hiệu có thể giúp cho khách hàng diễn dịch, xử lý

và lưu trữ tốt hơn các thông tin liên quan đến sản phẩm và thương hiệu. Giá

trị thương hiệu cũng tác động đến sự tự tin của khách hàng khi ra quyết

định mua hàng đồng thời nó cũng gia tăng sự hài lòng của khách hàng với

trải nghiệm sử dụng thương hiệu đó.

Giáo sư Keller – Đại Học Dartmouth của Mỹ định nghĩa giá trị

thương hiệu dựa vào khách hàng cho rằng giá trị thương hiệu dựa vào

khách hàng là hiệu ứng khác biệt mà kiến thức thương hiệu có được trên

phản hồi của khách hàng đối với việc marketing của thương hiệu

đó(misa.com.vn (2013), Giá trị thương hiệu và việc xây dựng giá trị thương

hiệu).

Như vậy, đầu tiên giá trị thương hiệu xuất hiện từ sự khác biệt trong

phản hồi của khách hàng. Nếu khơng có sự khác biệt nào, sản phẩm chỉ là

mặt hàng đơn thuần như bao mặt hàng khác khơng có gì đặc biệt so với đối

11



thủ cạnh tranh. Kế đó, những sự khác biệt này là kết quả của kiến thức của

khách hàng về thương hiệu, những gì khách hàng có thể dùng năm giác

quan để trải nghiệm thương hiệu qua thời gian. Như vậy, mặc cho tác động

mạnh mẽ của các hoạt động marketing, giá trị thương hiệu cuối cùng phụ

thuộc vào những gì chiếm giữ trong tâm trí của khách hàng. Tóm lại, giá trị

thương hiệu mạnh sẽ giúp gia tăng lòng trung thành, làm cho thương hiệu ít

bị tổn thương khi bị cạnh tranh và khủng hoảng, giúp tạo ra lợi nhuận cao

hơn, gia tăng hợp tác và hỗ trợ thương mại, giúp gia tăng hiệu quả và hiệu

suất cho truyền thông tiếp thị,…

1.3. Phát triển thương hiệu như thế nào?

1.3.1 Tại sao phải phát triển thương hiệu

Sự bình đẳng trong kinh doanh, cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi

doanh nghiệp phải đứng vững trên thị trường. Vì vậy, cơng tác xây dựng

thương hiệu không chỉ dừng lại ở xây dựng phương án cung cấp dịch vụ

hàng hóa giá thấp mà phải phát triển thương hiệu dựa trên giá trị cảm nhận

về sản phẩm. Phát triển thương hiệu là quá trình lựa chọn và kết hợp các

thuộc tính hữu hình cũng như vơ hình với mục đích để khác biệt hóa sản

phẩm, dịch vụ theo một cách thức thú vị, có ý nghĩa và hấp dẫn. Nếu chỉ

dựa vào uy tín trong kinh doanh không đảm bảo sự thành công trong tương

lai vì thế giới ln vận động thay đổi khơng ngừng. Bản thân thương hiệu

là những tài sản chiến lược, có thể mang lại cả những lợi ích về quyền lực,

tài chính. Chúng thúc đẩy sự phát triển bằng việc thay thế “lực đẩy” bằng

“lực kéo”. Công ty quản lý được cảm nhận bên ngồi của người tiêu dùng

về hình ảnh của công ty cũng như giá trị công ty mang lại cho xã hội.

Phát triển thương hiệu chính là tạo dựng uy tín của doanh nghiệp đối

với người tiêu dùng, tạo ra một sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với

hàng hố của doanh nghiệp. Điều đó giúp cho doanh nghiệp rất nhiều trong

việc mở rộng thị trường cho hàng hố của mình.



12



Một thương hiệu thành cơng được u thích sẽ mang lại những lợi

ích to lớn cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, khi đã có được thương hiệu nổi tiếng, các nhà đầu tư

cũng không e ngại khi đầu tư vào doanh nghiệp; bạn hàng của doanh

nghiệp cũng sẽ sẵn sàng hợp tác kinh doanh, cung cấp nguyên liệu và hàng

hố cho doanh nghiệp.

Thương hiệu ln là tài sản vơ hình và có giá của doanh nghiệp. Như

vậy, thương hiệu sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp trong

kinh doanh, góp phần giảm giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh

của hàng hoá.

1.3.2. Chiến lược phát triển thương hiệu





Mở rộng thương hiệu

Mở rộng thương hiệu là giới thiệu một sản phẩm mới thuộc một



ngành hàng khác với ngành hàng hiện hữu nhưng lại sử dụng cùng tên

(nhãn hàng) với các sản phẩm thuộc dòng sản phẩm hiệu hữu. Mở rộng

thương hiệu gần như là dựa vào tài sản một thương hiệu để bán sản phẩm

mới hoặc dịch vụ mới. Để thành công trong việc mở rộng thương hiệu phải

dựa trên liên tưởng về một thuộc tính, tính năng, lợi ích nổi trội nào đó hay

dựa trên bản sắc thương hiệu.





Củng cố thương hiệu



Sau quá trình xây dựng thương hiệu thì việc làm kế tiếp là phải giữ vững và

củng cố thương hiệu đó. Để thương hiệu đó khơng chỉ phát triển trong nước

mà còn cả trên thị trường thế giới.





Nhóm dịch vụ Truyền thơng

Để quản trị Truyền thông - Thương hiệu, rất cần một tư duy chiến



lược để xác định lộ trình, có đích đến, có tính tốn, trên con đường tính

tốn đó sẽ lựa chọn đâu là cách ngắn nhất, sáng tạo và tiết kiệm nhất mà

vẫn tới đích...



13



- Truyền thơng tiếp thị hình ảnh doanh nghiệp (PR): Tổ chức các

chiến dịch thơng tin báo chí (xác định thơng điệp, biên soạn, quan hệ báo

chí…). Tổ chức các hoạt động quan hệ khách hàng, quan hệ cộng đồng.

- Truyền thông nội bộ - quan hệ cổ đông (IR): Tư vấn và tổ chức các

chiến dịch thông tin xây dựng quan hệ nội bộ doanh nghiệp (giới lãnh đạo

và nhân viên). Tư vấn và tổ chức các chiến dịch thông tin, xây dựng quan

hệ với cổ đông.

- Tháo gỡ khủng hoảng thông tin thất thiệt: Tư vấn và tổ chức thực

hiện các chiến dịch thơng tin báo chí nhằm giải quyết các vụ việc thông tin

bất lợi cho doanh nghiệp.

- Đại diện truyền thông - báo chí: Đại diện phát ngơn báo chí; Tư

vấn, quản trị tồn bộ các hoạt động báo chí, thơng tin của doanh nghiệp;

Giám sát thực hiện các hoạt động PR.

1.4. Yêu cầu cần đáp ứng khi phát triển thương hiệu

- Chú ý đến nhu cầu và kì vọng của khách hàng tiềm năng, đây là kết

quả của công tác nghiên cứu thị trường. Kết hợp chặt chẽ giữa tiến bộ kỹ

thuật - công nghệ đảm bảo chất lượng sản phẩm dịch vụ là cách duy nhất

đảm bảo hoạt động mua hàng diễn ra liên tục. Kiểm soát được khối lượng

chất lượng trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ sản phẩm. Đảm bảo việc

giao hàng tới công ty, trung gian, các nhà phân phối trên cơ sở tuân thủ chặt

chẽ thời hạn giao hàng, điều chỉnh mẫu mã…Tạo hình ảnh và phương

hướng quảng bá ý nghĩa của thương hiệu tới đối tượng khách hàng mục

tiêu.



14



Chương II

THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ VÀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG,

PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CHÈ THÁI NGUYÊN



2.1 Thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè

2.1.1. Tình hình sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên

Chè là cây kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thái Nguyên. Đến năm 2017,

tỉnh Thái Nguyên có 21.649ha chè, tập trung ở cả 9 huyện, thành phố, thị

xã trong tỉnh, trong đó, diện tích chè cho sản phẩm là 19.633ha. Tồn

tỉnh hiện có gần 95.000 hộ dân trồng chè, chiếm hơn 40% số hộ trong

khu vực nông thôn. Việc trồng, chế biến chè đã giải quyết được phần

lớn việc làm cho lao động ở nông thôn với trên 40 nghìn người (Theo

niên giám thống kê năm 2017).

Từ năm 2011 đến nay, Thái Nguyên tăng cường trồng mới, trồng

lại chè. Trung bình mỗi năm, tỉnh Thái Nguyên trồng mới, trồng lại

trên 1.000 ha chè bằng các giống chè cành cho năng suất, chất lượng

cao như: LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát Tiên... Đến năm 2017,

diện tích chè giống mới chiếm 71% đạt 15.480 ha; trong đó, giống chè

LDP1 chiếm 70,2%, Kim Tuyên, Thúy Ngọc 12,1%, Phúc Vân Tiên 9%,

giống TRI777 7%, các giống chè mới khác 1,7%. Các giống chè LDP1 và

các giống chè nhập nội như Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên có năng suất, chất

lượng cao để làm nguyên liệu chế biến chè xanh cao cấp (Số liệu của sở

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên).

ST

T

1

2

3

4

5



Area (%)

Name of tea



(compared to the total tea

area)

70.2



LDP1

Kim Tuyen, Thuy



12.1



Ngoc

Phuc Van Tien

TRI777

Other



9

7

1.7



15



Cùng với việc chuyển đổi cơ cấu giống chè, tỉnh Thái Nguyên đã quan

tâm tới việc sản xuất sản phẩm chè an toàn. Hiện nay, trên 80% diện tích chè

tại các vùng sản xuất tập trung của tỉnh sản xuất theo hướng an tồn, áp dụng

quy trình thực hành sản xuất nơng nghiệp tốt (VietGAP). Theo đó, tồn tỉnh

hiện có 46 mơ hình sản xuất chè với diện tích 612 ha và 1.694 hộ tham gia

được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Với sản lượng chè búp tươi đạt

6.800 tấn, chè sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGap cho thu nhập khoảng 405

triệu đồng/ha/năm, cao hơn từ 62 đến 63 triệu đồng/ha so với chè sản xuất

theo phương pháp truyền thống (Số liệu của sở Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn tỉnh Thái Nguyên).

Do chú trọng đầu tư phát triển cho cây chè nên đến nay, năng suất

chè bình quân đã đạt 111,74tạ/ha (cao hơn bình quân chung cả nước

trên 45 tạ/ha), sản lượng đạt gần 210.000 tấn/năm, đứng đầu cả nước

(Theo niên giám thống kê năm 2017).

Với tiềm năng sản xuất tốt kèm theo sự tăng trưởng của nhu cầu

tiêu dùng nội địa và thế giới, chè Thái Nguyên có ưu thế lớn trong việc

phát triển. Cây chè được coi là cây xóa đói giảm nghèo, do đó trong

những năm qua, tỉnh đã ban hành rất nhiều cơ chế chính sách ưu đãi,

quan tâm đến việc phát triển ngành chè.

2.1.2. Tình hình chế biến

Mỗi năm, sản lượng chè qua chế biến của tỉnh Thái Nguyên đạt

40.465 tấn, trong đó chỉ có 8.000 tấn chế biến cơng nghiệp tại doanh

nghiệp, chiếm 20% tổng sản lượng với các loại sản phẩm chủ yếu: chè đen

OTD, CTC, chè xanh ướp hương liệu để xuất khẩu; 80% sản lượng chè còn

lại được chế biến bằng phương pháp truyền thống, bán cơ giới bằng máy

tơn quay, máy vò và dây truyền chế biến quy mơ nhỏ tại 43 xã và hơn 60

nghìn hộ tại 140 làng nghề sản xuất, chế biến chè, với sản phẩm là chè

xanh và xanh cao cấp thống (Số liệu của sở Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn tỉnh Thái Nguyên).

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các tài liệu khác

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×