Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tất cả các từ ngữ , hình ảnh được ông sử dụng trong các câu thơ trên đều tập trung làm cho người đọc thấy được vẻ đẹp “ đoan trang , thuỳ mị” của Thuý Vân . Không những khắc hoạ vẻ đẹp hình thể bên ngoài Nguyễn Du còn như dự báo số phận bình lặng, êm ả củ

Tất cả các từ ngữ , hình ảnh được ông sử dụng trong các câu thơ trên đều tập trung làm cho người đọc thấy được vẻ đẹp “ đoan trang , thuỳ mị” của Thuý Vân . Không những khắc hoạ vẻ đẹp hình thể bên ngoài Nguyễn Du còn như dự báo số phận bình lặng, êm ả củ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Vân xem trang trong khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười ngóc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc , tuyêếtnhường màu da,

Chỉ vài nét chấm phá, bức chân dung của Thúy Vân hiện lên thật nghiêm trang , đứng đắn và

phúc hậu. Gương mặt của nàng đầy đặn như mặt trăng tròn. chân mày của nàng đẹp như mày

của con bướm tằm. Đuôi mắt của nàng đẹp như mắt phượng . miệng của nàng nở nụ cười tươi

như đóa hoa đang khoe sắc , tỏa hương. Tiếng nói của nàng trong như ngọc. Những làn mây

trên khơng trung vẫn khơng đẹp bằng mái tóc mượt mà của nàng. Tuyết là biểu tượng của

màu trắng nhưng không nhường màu cho da mịn màng, trắng trẻo của nàng.

Bằng cách phối hợp các biện pháp nghệ thuật ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ, nhân hóa, liệt kê,

đối ngữ, thậm xưng và cách dùng các từ láy, từ Hán Việt một cách điệu luyện, Nguyễn Du

không những miêu tả được vẻ đẹp ưa nhìn của Thúy Vân mà còn dự báo được tương lai của

nàng. Đặc biệt, các từ " thua ", "nhương " cho chúng ta thấy số phận bình an, tốt lành của

Thúy Vân trên những chặng đường đời .

Còn đây là bức chân dung của nàng kiều :

Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thủy tinh , nét xuân sơn

Cặp mắt của nàng trong trẻo và long lanh như làn nước mùa thu. Còn lơng mày lại thanh nhẹ,

tương đẹp như nét núi mùa xuân nghiêng nghiêng, duyên dáng .đây cũng là vẻ đẹp ước lệ,

tượg trưng thường gặp trong thơ văn cổ. Những nghệ thuật nhân hóa , thậm xưng, so sánh,

hoán dụ, ẩn dụ, điển cố,liệt kê, đối ngữ, tương hỗ đã tiếp tục đưa sắc đẹp của Thúy kiều đến

tuyệt điỉnh, khiến cho :

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

"Hoa" và "liễu" là những lồi vơ tri, vơ giác, vậy là phải "ghen" , "hờn", tức giận trước vẻ đẹp

"sắc sảo mạn mà", "mười phân vẹn mười" của nàng. Còn đối với con người , nàng Kiều chỉ

cần ngoảnh lại một cái thì thành người ta bị xiêu, ngoảnh lại cái nữa thì nước người ta bị đổ

Chao ôi ! Thúy Kiều đúng là một tuyệt thế giai nhân

Nhưng qua nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp lộng lẫy ,đài các, kiêu sao , có sức cuốn hút mãnh liệt

của Thúy Kiều . Nhất là các từ "ghen" , "hờn" , Nguyễn Du đã hé mở cho chúng ta thấy

những cơn sóng gió bảo tố của cuộc đời như chờ trực để vùi dập thân phận của nàng .

Nếu như ở Thúy Vân , Nguyễn Du chỉ miêu tả sắc đẹp thì ở Thúy Kiều , nhà thơ vưa miêu tả

nhan sắc , vừa ca ngợi tài năng :

Sắc đành tài một , tại đành hoạ hai

Như vậy, về sắc thì đành chỉ có một mình Thúy Kiều về tài thì may ra, họa hoằn lắm mới có

người thứ hai. Thứ nhất là trí thơng minh sẵn có do tạo hóa ban tặng:

Thơng minh vốn sẵn tính trời

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương lầu bậc ngũ âm ,



Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương .

Khúc nhà tay lựa nên chương .

Xét riêng về tài đánh đàn thì Thúy kiều vượt xa những người khác . Những nốt cung ,

thương , giốc , chũy , vũ trong âm giai của nạhc cổ trung Quốc và Việt Nam được nàng phối

hợp một cách nhuần nhuyễn , tinh thông , dạt dào cảm xúc . Đặt biệt , một bản nhạc nhan đề

là " Bạc mệnh " - đưa con tinh thần của Thúy Kiều - đã tác động vào cõi sâu thẳm trong tâm

hồn của con người , khiến ai thưởng thức cũng phải đau khổ , sâầunão đến rơi nước mắt , đến

buốt nhói tim . Phải chăng " một thiên bạc mệnh lại càng não nhân " ấy như muốn dư báo

những đâu khổ , bất hạnh chồng chất trong suốt 15 năm ròng của đời người con gái tài sắc

vạn tồn ?

Nhìn chung , Nguyễn Du có dụng ý rất rõ trong việc nhấn mạnh tài sắc của Thúy Kiều , nhà

thơ đã cực tả Thúy vân , tưởng như sắc đạp của Thúy Vân khơng ai hơn được nữa , để rồi sau

đó , Thúy Kiều xuất hiện thì Thúy Vân trở thành một cái nền làm tôn sắc đẹpcủa Thúy Kiều

là tuyệt đỉnh . Còn tài của nàng cũng là tuyệt đỉnh . ( Giáo sư Nguyễn Lộc )

Có thế nói rằng , lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà , hình ảnh người phụ nữ hồn mĩ

về hình thức lẫn tâm hồn được thể hiện dưới ngòi bút của thiên tài Nguyễn du một cách say

sưa , nồng nhiệt ,tập trung và trân trọng nhất. Đó là một cái nhìn của con gnười có tấm lòng

nhân dạo mênh mông như ngọn nước triều dâng . Nguyễn du dã mở đườngbcho tư tưởng của

mình đi trước thời đại . Bởi lẽ , trong xã hôi phong kiền đầy rẫy nhưng bất công , ngang trái ,

hà khắc , phụ nữ luôn bị lép vế , bị ruồn rẫy , chà đạp , xô đẩy đến bức đường cùng .

Một lần nữa ở bốn câu kết thúc của trích đoạn Chị em Thúy Kiều , Nguyễn Du miêu tả cuộc

sống phong lưu, êm đềm, khuôn phép , mẫu mực và ngợi ca đức hạnh của cá hay chị em :

Phong lưu rất mực hồng quần ,

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cặp kê ,

Em đềm trướng rủ màn che .

Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Mặc dù đã đến tuổi búi tóc cài trâm , có thể lấy chồng nhưng Thúy Vân và Thúy Kiều vẫn

sống hòa thuận , vui vẻ trong cảnh trướng rủ màn che , không tơ tươởngđến những kẻ dđ tìm

tình yêu , đi ve vãn con gái như ong bướm tìm hoa . Chính những nét hồn nhiên , trong sáng .

thơ ngây đã ni dưỡng , bồi đắp cho sự hình thành - phát triển nhân cách và ý thức làm

người cao cả của hai chị em sau này , đặc biệt là Thúy Kiều .

Tóm lại . bằng một thế giới ngơn ngữ phong phú , tính tế , kỳ diệu , bằng một bút pháp điêu

luyện, bằng một thiên tài khám phá tuyệt vời kết hợp với lòng thương yêu của con người ,

nhất là người phụ nữa, Nguyễn du vẽ lên bức chân dung vừa điển nhã , vừa có sức gợi cảm

mãnh liệt của Thúy Vân và Thúy Kiều trong trích đoạn chị em Thúy Kiều. Có thế nói rằng ,

lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà , hình ảnh người phụ nữ hồn mĩ về hình thức lẫn

tâm hồn được thể hiện dưới ngòi bút của thiên tài Nguyễn du một cách say sưa , nồng nhiệt

,tập trung và trân trọng nhất. Càng nâng niu , quý trọng truyện Kiều ,chúng ta càng cảm phục

tài năng và đức độ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Đó là một cái nhìn của con người có

lòng nhân dạo mênh mơng như ngọn nước tràn ly

Cảnh ngày xuân



Truyện Kiều - Nguyễn Du

I.Phântích

Đây là đoạn trích nằm ở phần đầu đoạn của tác phẩm, sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều. Lúc này,

cơn gia biến chưa xảy ra với gia đình Kiều, ba chị em còn đang sống trong những tháng ngày êm

đềm. Dưới ngòi bút tự sự, miêu tả xen lẫn trữ tình của Nguyễn Du, đoạn trích đã tái hiện lại cảnh

thiên

nhiên

mùaxuântươiđẹp,trongsáng.

Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã gợi tả khung cảnh mùa xuân tuyệt đẹp :

Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi

Qua việc miêu tả khơng gian, thời gian nghệ thuật, tác giả đã gợi lên một khung cảnh khoáng đạt và

tràn trề sức sống. Cách nói dân gian “thời gian thấm thoắt thoi đưa” đã nhập hồn vào thơ ca Nguyễn

Du để ông sáng tạo nên một câu thơ vừa miêu tả không gian, vừa gợi tả thời gian. Chim én được

xem là loài chim biểu tượng của mùa xuân. Những cánh én chao liệng như “thoi đưa” ấy đã gợi lên

một bầu trời bao la, thoáng đãng đầy sức xuân. Đến câu thơ tiếp theo, tâm trạng tiếc nuối ấy đã hiện

lên thật rõ. “Thiều quang” nghĩa là ánh sáng đẹp, ánh sáng ấm áp của mùa xuân, cũng là ẩn dụ để chỉ

ngày xuân. Cách tính thời gian như thế thật là ý vị và nên thơ : tiết trời trong sáng, đẹp đẽ của chín

mươi ngày xn nay “đã ngồi sáu mươi” rồi, tức là đã sang đầu tháng Ba rồi. Từ “đã ngoài” ở đây

kết hợp vời từ “đưa thoi” ở trên đã gợi lên trong lòng người đọc một sự tiếc nuối rằng mùa xuân sao

đi qua nhanh thế. Nguyễn Du nhớ mùa xuân ngay trong mùa xuân, tưởng đó là một nghịch lí, nhưng

nó lại có thật. Hơn hai trăm năm sau, Xuân Diệu lại một lần nữa cảm thấy như thế : “Tôi sung

sướng. Nhưng vội vàng một nửa / Tơi khơng chờ nắng hạ mới hồi xn.” (Vội vàng). Làm sao

không tiếc mùa xuân được cơ chứ khi vào lúc này, xuân đã hết dư vị của mùa đông nhưng vẫn chưa

ngấp nghé vào hạ nên khung cảnh rất đẹp, rất xuân :

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân đã được vẽ nên bằng những nét phác họa, chấm phá tài tình của văn

thơ cổ. Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ gợi hình gợi cảm để vẽ nên bức tranh ấy : “non” (sự

mới mẻ, đổi thay của đất trời), “xanh” (sự sống, đâm chồi nảy lộc), “trắng” (tinh khôi, trong sáng,

dịu dàng),… Những từ ngữ ấy vừa đem khí xuân đến tràn đầy trong từng lời thơ, vừa giàu chất tạo

hình tới nỗi ta có cảm tưởng như trong thơ có họa. Lấy cảm hứng từ hai câu thơ cổ của Trung Quốc :

“Phương thảo liên thiên bích / Lê chi sổ điểm hoa”, tác giả chỉ thêm vào hai từ “xanh”, “trắng” mà

đã khiến cho sắc trắng của hoa lê nổi bật lên trên cái nền “xanh tận chân trời”, gợi lên vẻ đẹp trong

sáng, thanh khiết và khoáng đạt của mùa xuân. Lời thơ tưởng như chiếc cọ của người họa sĩ đang

phối sắc cho từng đường nét của bức vẽ. Câu thơ tám chữ vốn có nhịp đơi, nhịp chẵn bỗng chuyển

sang nhịp 3/5. Từ nhịp điệu bằng phẳng, quen thuộc, cách ngắt nhịp tài tình mang đầy dụng ý ấy của

Nguyễn Du khiến câu thơ xôn xao với cái thần rất mới, rất lạ. Bức tranh ấy đã đẹp, nay lại được đại

thi hào phả hồn vào đó bằng một chữ “điểm”. Có thể nói từ ấy chính là nhãn tự của cả đoạn trích,

vừa làm câu thơ sống động hơn, vừa là nét vẽ hoàn chỉnh của bức tranh xuân. Chỉ cần một chút đảo

ngữ ở “trắng điểm” và “điểm trắng” thôi đã đủ để nâng câu thơ lên một tầm cao mới. Tả mùa xn

đẹp



sống

động

như

thế,

hật

khơng

còn

từ

ngữ

nào

đểnóilênsựtàitìnhtrongbútphápmiêutảgợihìnhgợicảmcủaTốNhư.



Tiếp nối bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp ấy, Nguyễn Du đưa người đọc đến với một khung cảnh tươi

đẹp không kém – cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh. Mở đầu cho bức tranh ấy là hai câu thơ giới

thiệu khái quát về thời gian cũng như hoạt động của con người :

Thanh minh trong tiết tháng Ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Tiết Thanh minh là dịp để mọi người đi viếng thăm, quét dọn, sửa sang và cúng bái, khấn nguyện

trước phần mộ những người đã khuất. Từ lâu, đây đã là một phong tục cổ truyền của dân tộc ta. Và

tất nhiên, sau lễ là hội, hội “đạp thanh”, tức là giẫm lên cỏ xanh mà đi chơi xuân. “Tảo mộ" là dịp để

ta tìm lại những ký ức xa xưa, nối lại mối dây liên hệ giữa người đã khuất với người còn sống. Còn

“đạp thanh” lại gợi lên cảnh các chàng trai, cô gái gặp gỡ, làm quen và rất có thể dẫn đến những sợi

tơ hồng kết duyên mai sau. Bên cạnh điệp từ “là”, cặp tiểu đối “lễ là tảo mộ” – “hội là đạp thanh”

được đặt cạnh nhau trong một câu thơ khơng chỉ nói lên sự nối tiếp liên tục của những tươi vui, nhộn

nhịp, rộn ràng trong ngày lễ hội, mà còn muốn nói một điều gì hơn thế. Nguyễn Du đã gửi vào đó

những suy ngẫm về khát khao, hy vọng của những người đi chơi xuân, hay cụ thể hơn – của Thúy

Kiều về những điều tốt đẹp của cuộc đời phía trước. Và với suy nghĩ ấy, chị em Thúy Kiều hòa mình

vào dòng người tấp nập đi trẩy hội :

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm

Ở đây, một lần nữa ta lại được gặp nghệ thuật miêu tả ước lệ. Mùa xuân là lúc chim yến , chim oanh

tụ họp lại ríu rít bay lượn trên khơng trung. Tác giả đã vận dụng hình ảnh ấy dưới cách nói ẩn dụ “nơ

nức yến anh” để gợi tả hình ảnh những đồn người đi du xn trong khơng khí rộn ràng, đông vui.

Xuân không chỉ về trong thiên nhiên mà còn tràn ngập trong lòng người. Các tính từ “gần xa”, “nô

nức” đã đặc tả cảnh người người khắp nơi cùng tụ hội lại trong tâm trạng náo nức, vui tươi của lễ

hội. Đó cũng chính là tâm trạng của chị em Thúy Kiều khi : “Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”.

Sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”, những cơ thiếu nữ như họ ít có dịp được tham gia

một cuộc vui nhộn nhịp như lần này, nên dù chưa đến hội, hai chị em đã như mở hội trong lòng.

Động từ “sắm sửa” đã diễn tả được sự háo hức, trông mong ấy của họ. Rất tự nhiên, họ hòa vào dòng

người nườm nượp những nam thanh nữ tú. Dưới cách nhìn phơi phới xuân xanh của chị em Thúy

Kiều, Nguyễn Du đã biến một cảnh lễ hội tưởng như năm nào cũng có thành một ấn tượng khó phai

trong mắt người đọc. Nếu như ở hai câu thơ trước có “yến anh” thì ở hai câu sau cũng rất xứng với

“tài tử giai nhân”, làm bật lên cảnh những chàng trai cô gái phong lưu, thanh lịch, áo quần tươi thắm

trong buổi hội xn đang “Gặp tuần đố lá, thỏa lòng tìm hoa”. Từ láy “dập dìu” gợi lên từng đồn,

từng đồn người đi lại tấp nập, đông đúc nhưng vẫn rất uyển chuyển, nhịp nhàng như những đợt

sóng. Nhịp điệu ấy làm chậm lại dòng chảy trong “ngựa xe như nước”, và cho dù “áo quần như

nêm” nhưng lễ hội lại không chật cứng mà vẫn có một điều gì đó rất khoan thai trong từng chiếc xe,

từng bước chân. Ấy là sự khoan thai, thơ mộng và trữ tình của tâm hồn tuổi trẻ đang say sưa trong

khơng khí mùa xn. Hai hình ảnh so sánh được đặt liên tiếp nhau trong câu thơ càng khiến cho

khung cảnh ấy thêm sống động. Nguyễn Du đã vô cùng khéo léo trong việc biến đổi phép đối, khi thì

dồn lại giữa “tài tử” và “giai nhân”, khi thì tách giãn “ngựa xe như nước” và “áo quần như nêm”,



khi ẩn khi hiện một sức hút khó tả và rất riêng của cảnh ngày xn. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng

hàng loạt những từ có hai âm tiết thuộc nhiều từ loại khác nhau để miêu tả khơng khí lễ hội thật rộn

rã : danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân), động từ (sắm sửa, dập dìu), tính từ (gần xa, nơ nức).

Trong đó vừa có từ ghép, vừa có từ láy, tự sự hòa vào với miêu tả, làm sống lại trước mắt người đọc

một ngày hội đậm chất trữ tình, khiến cho ta cũng như ngây ngất trong khơng khí tràn đầy sức xn

ấy. Và tất nhiên, tả lễ hội trong tiết Thanh minh thì khơng thể thiếu một phong tục rất quen thuộc :

Ngổn ngang gò đống kéo lên

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay

Phong tục cổ truyền đã có từ nghìn xưa được Nguyễn Du đưa vào câu thơ thật sinh động. “ Ngổn

ngang gò đống” khơng chỉ gợi tả cảnh những ngơi mộ mà còn muốn nói đến những đống tro tàn

vương vãi khắp nơi trên mặt đất. Đi tảo mộ, không thể khơng rắc thoi vàng vó, đốt tiền vàng mã, để

tưởng nhớ những người đã khuất. Trong cảnh tượng khói bay nghi ngút ấy như âm ỉ cháy những lời

thì thầm vọng về từ quá khứ, từ ông bà tổ tiên. Sự cách trở âm dương tưởng chừng như bị xóa nhòa,

quá khứ được kéo gần hơn tới hiện tại trong khơng gian thiêng liêng đầy thành kính ấy. Khơng hề có

sự nặng nề, âm u tưởng chừng như ln chập chờn đâu đó khi ta nhắc đến mồ mả, mà thay vào đó là

một nét đẹp rất thanh tao của văn hóa phương Đơng về nghĩa tình với những người đã khuất. Có thể

trong thời buổi hiện đại ngày nay, phong tục ấy được xem là sự mê tín cổ hủ, nhưng giá trị nhân văn

trong những vần thơ của Tố Như vẫn làm ta xúc động về đời sống tâm linh của người xưa. Vẫn là

bút pháp gợi hình gợi cảm, nhưng bằng hàng loạt từ ngữ miêu tả, Nguyễn Du đã tái hiện lại cảnh

"hội" mùa xuân thật sống động, rộn ràng và tươi vui nhưng cũng không làm mờ đi chữ "lễ" qua

những phong tục cổ truyềncủa dân tộc.



Đề: Phân tích đoạn trích “Cảnh ngày xuân” (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du).

I. . Giới thiệu khái quát đoạn trích:

1. Đoạn trích Chị em Thúy Kiều nằm ngay sau phần giới thiệu chị em Thúy Kiều. Trong đoạn trích

này, Nguyễn Du miêu tả cảnh du xuân của mấy chị em nhà họ Vương. Đây là đoạn thể hiện tài năng

của Nguyễn Du trong việc miêu tả thiên nhiên.

2. Đoạn thơ miêu tả vẻ đẹp của mùa xuân ở thời điểm của tiết Thanh minh. Mùa xuân và cảnh thiên

nhiên trong đoạn thơ hiện lên tươi đẹp, trong sáng ở giai đoạn rực rỡ và viên mãn nhất của mùa

xuân. Không chỉ miêu tả vẻ đẹp của mùa xuân Nguyễn Du còn làm sống lại những nét văn hố qua

khơng khí lễ hội mùa xn. Và như thế ở đây vừa có vẻ đẹp thiên nhiên, vừa có vẻ đẹp con người.

3. Trong đoạn thơ này Nguyễn Du đã kết hợp tả và gợi, tả cảnh ngụ tình theo phong cách ước lệ cổ

điển với một ngôn ngữ giàu chất tạo hình. Qua bức tranh mùa xuân người đọc còn cảm nhận rất rõ

tâm trạng của nhân vật.

II. Phân tích:

1. Cảnh thiên nhiên mùa xuân trong đoạn thơ được Nguyễn Du miêu tả theo bước đi của thời gian:

- 4 câu đầu: Miêu tả cảnh sắc mùa xuân.

- 8 câu thơ tiếp: Miêu tả cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.

- 6 câu còn lại : Cảnh chị em Kiều đi chơi xuân về khi lễ hội đã tan.

Cách tổ chức kết cấu này cho phép người đọc nhận ra:

+ Sự vận động của thiên nhiên và sự biến đổi trong tâm trạng của con người .

+ Cảnh xuân trong những câu mở đầu với cảnh xuân sau khi chị em kiều đi chơi về có những thay

đổi rõ rệt .



Từ đó cho ta thấy :

+ Cảnh vật và tâm trạng của nhân vật trong thơ Nguyễn Du bao giờ cũng vận động chứ không đứng

yên .

+ Cách miêu tả như Nguyễn Du cũng là theo nguyên tắc của thơ xưa, tả cảnh ngụ tình có nghĩa là ở

đoạn thơ này Nguyễn Du đã miêu tả cảnh mùa xuân qua cái nhìn tâm trạng và được nhìn từ tâm

trạng của chị em Kiều theo nguyên tắc: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui

đâu bao giờ.”

2. Cảnh mùa xuân hiện ra trong 4 câu thơ đầu là cảnh sắc được nhìn và miêu tả từ cái nhìn thời gian

và khơng gian:

a. 2 câu thơ đầu:

- Là cái nhìn thời gian về khung cảnh mùa xuân đó là cái nhìn thấm đẫm tâm trạng của người trong

cuộc.

“Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.”

- Câu thơ “con én đưa thoi ” có thể hiểu theo 2 cách:

+ Những cánh chim én có thực rộn ràng bay lượn giưã bầu trời mùa xuân trong sáng.

+ Cánh én đưa thoi là biểu tượng của bước đi thời gian: thời gian mùa xuân đang trôi qua rất nhanh.

Khung cảnh mùa xuân ở đây đã được nhìn từ cái nhìn tâm trạng của chị em Thúy Kiều đó là

cái nhìn tươi trẻ.

- Ở câu thơ thứ hai, từ “đã ngoài ” ẩn chứa thái độ để làm rõ hơn cái nhìn của chị em Kiều về bước

đi thời gian của mùa xuân và đó là một cái nhìn nuối tiếc.

Ở đây do sự tiết chế về ngôn từ, do tư cách của người chuyện, do quy tắc của việc biểu hiện

cái tôi trong văn học trung đại, Nguyễn Du đã không thể để cho nhân vật của mình kêu lên đầy nuối

tiếc, đầy táo bạo và mãnh liệt như xuân Diệu- nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, sống sau

Nguyễn Du một thế kỉ - dù là tâm trạng mới bước đi của mùa xuân là giống nhau ở 2 thi sĩ :

“Tôi khơng chờ nắng hạ mới hồi xn ”

(Vội vàng)

Nên:



“Nhanh lên chứ, vội vàng lên với chứ

Em em ơi tình non đã già rồi”

(Giục giã)



b. Hai câu thơ tiếp theo là bức tranh xuân được tả cận cảnh với cái nhìn không gian dẫn đến đây là 2

câu thơ “tuyệt bút ” của Nguyễn Du khi miêu tả.

+ Chỉ với 2 câu mà mùa xuân hiện ra như một bức tranh có màu sắc tuyệt diệu, hài hồ. Thảm cỏ

xanh làm nền cho bức tranh xuân, trên cái nền ấy điểm một vài bông hoa lê trắng. Màu xanh và sắc

trắng tôn vinh lẫn nhau tạo ra một bức tranh xuân sống động, mới mẻ, tinh khiết và tràn đầy sức

sống.

+ Chỉ bằng một nét vẽ cảnh mùa xuân dường như được nhuộm trong một màu xanh mềm mại và non



tơ dẫn đến cách dùng từ của Nguyễn Du đã khéo léo tài tình tạo nên màu xanh ấy: “Cỏ non xanh tận

chân trời ” . Trong câu thơ này từ “non ”vừa bổ nghĩa cho từ cỏ đứng trước lại vừa bổ nghĩa cho từ

xanh ở sau dẫn đến gợi nên một màu xanh non tơ và óng ả. Khơng chỉ thế 3 từ “tận chân trời” lại

khiến cho màu xanh ấy kết thành hình khối, mở rộng khơng gian, đó là một khơng gian xn bạt

ngàn màu xanh (ngập tràn màu xanh) đúng hơn là một biển cỏ xanh mênh mông, bát ngát và dào dạt

sức sống xanh non tơ.

+ Trên cái nền xanh gợi cảm ấy tác giả điểm xuyết sắc trắng của một vài bông hoa trên cành lê

“Cành lê trắng điểm một vài bông hoa ”.

Suy ra chọn cỏ và hoa lê để miêu tả sắc xuân đã có từ rất lâu trong thơ ca cổ của Trung Quốc:

“ Cỏ thơm liền với trời xanh

Trên cành lê có mấy bơng hoa ”

Và có thể biết 2 câu thơ tuyệt bút Nguyễn Du đã mượn ý thơ từ 2 câu thơ cổ nói trên. Bằng tài hoa

của mình, Nguyễn Du đã thổi vào đó ngọn gió vơ hình của tâm tình để tạo ra sự sống riêng biệt cho

2 câu thơ tuyệt bút của mình. Đó là ở câu thơ thứ 2, ông thêm một từ “trắng” , ơng lại còn đảo ngược

cách dùng từ thơng dụng: “điểm trắng” suy ra “trắng điểm” . Chỉ một chút thay đổi đó thơi tưởng là

đơn giản vậy mà ngồi Nguyễn Du khó có ai có thể làm được bởi vì nếu viết “điểm trắng ” thì ý thơ

và âm điệu của thơ khơng thay đổi nhưng đó chỉ là cách vẽ tranh của một nghệ nhân bắt chước mà

không có hồn . Còn Nguyễn Du viết “trắng điểm” thì lại tạo ra yếu tố bất ngờ nghĩa là “trắng điểm”

tức là điểm xuyết vào đó một chút sắc trắng của mình để chăm chút tơ điểm cho sắc xn bằng bàn

tay vơ hình của tạo hố một cách ý nhị và tinh tế. Chính vì thế thêm một chút, thay đổi một chút vậy

mà hương của cành lê tưởng chừng như khơng còn là chính nó. Cách dùng từ khác biệt đã giúp

Nguyễn Du tạo ra hai thế giới khác biệt và như thế Nguyễn Du đã tô đậm hợp cảnh mùa xuân sinh

động, gợi cảm, non tơ, mềm mại và hài hoà màu sắc.

c. 8 câu thơ tiếp nối là khung cảnh lễ hội:

- Lễ tảo mộ: đi sửa sang, quét dọn mộ người thân.

- Hội đạp thanh: hội chơi mùa xuân ở làng quê.

Suy ra ở 8 câu thơ này Nguyễn Du thiên về miêu tả cảnh hội hơn là lễ. Đặc biệt ơng nhấn mạnh

khơng khí náo nức, rộn ràng của lễ hội.

Vì:

+ Sự nơ nức và đẹp đẽ, rộn ràng của lễ hôi tương hợp với vẻ đẹp trong sáng và tràn đầy sức sống của

mùa xuân ở 4 câu thơ đầu.

+ Cảnh ngày xuân được cảm nhận và miêu tả từ cái nhìn của hai chị em Kiều tạo nên sự trẻ trung

trong tâm hồn của hai chị em cũng như tương hợp với ko khí nơ nức, rộn ràng của ngày xn hơn là

lễ hội.

- Ở đây Nguyễn Du còn làm sống lại những nét văn hóa xưa qua nghệ thuật miêu tả đám đơng. Lễ

chỉ là cái cớ còn cái đích thực cuối cùng ở đây là hội. Bởi vậy “tro tiền giấy bay”, “thoi vàng vó rắc”

chỉ qua chỉ là nghi thức, tất cả Nguyễn Du dành cho sự náo nhiệt của giai nhân, tài tử của xe ngựa,

của áo quần là lượt. Trong khơng khí đó khơng rõ gương mặt ai nhưng ai cũng thấy mình ở trong đó.

- Những từ láy dùngg trong phép đối hài hoà tạo ra ấn tượng không thể quên về lễ hội nô nức rộn

ràng. Đồng thời Nguyễn Du cũng qua đó để miêu tả tâm trạng nô nức, háo hức của chị em Kiều.

d. 6 câu thơ cuối: Tả cảnh chị em Kiều đi chơi xuân trở về: Đây là lúc hội đã tàn, ngày chuyển về

chiều nghĩa là cảnh xuân đang dc mt đúgn theo bước đi của thời gian.

- Ở 6 câu thơ này Nguyễn Du đã dùng một loạt từ láy mang nghĩa giảm nhẹ:

+ Giảm nhẹ về động tác và về chuyển động : tà tà, thơ thẩn, nao nao.



+ Giảm nhẹ về sự sắc nét của bức tranh phong cảnh làm cho phong cảnh trở nên mơ hồ và thấp

thoáng hơn: thanh thanh, nho nhỏ.

Các từ láy này tạo ra sự tương phản với cảnh lễ hội tấp nập, nhộn nhịp ở trước đó. Đồng thời

sự tương phản này cũng khắc hoạ tinh tế bước đi của thời gian.

- Nhưng bên cạnh đó là các từ láy với nghĩa giảm nhẹ lại còn mang nghĩa bóng. Nghĩa là chúng

không chỉ miêu tả cảnh sắc thiên nhiên theo bước đi của thời gian mà còn nhuộm màu tâm trạng, đó

là tâm trạng “thơ thẩn “ của chị em Kiều lúc này, tất cả đều lắng xuống, chơi vơi trong một trạng thái

mơ hồ nhưng có thực. Nó là nỗi bâng khuâng, man mác nuối tiếc trong một nỗi buồn không goi tên

được. Cách dùng từ như thế này biểu hiện tài hoa và khéo léo của Nguyễn Du khi lấy đà để chuyển ý

của câu chuyện sang một cảnh mới với một tâm trạng mới của nhân vật. Cảnh chị em Kiều sẽ gặp

nấm mồ Đạm Tiên.

- So sánh cảnh mùa xuân trong 6 câu đầu với 6 câu cuối trong đoạn trích: Có sự khác biệt:

+ 6 câu đầu: Bức tranh thiên nhiên mùa xuân đẹp đẽ khoáng đạt tinh khôi thanh khiết mới mẻ và đầy

sức sống + 6 câu cuối: Cảnh chiều tà khơng còn ồn ào náo nhiệt mà cảnh cứ nhạt dần, lặng dần, tâm

trạng buồn lưu luyến bâng khuâng khi trở về.

Thời gian khác thì khơng gian cũng khác. Nếu cảnh trong bốn câu đầu là cảnh buổi sáng lúc

lễ hội mới bắt đầu thì ở đây là cảnh chiều tan hội. Tâm trạng mọi người theo đó cũng khác hẳn. Ngày

vui nào rồi cũng qua, cuộc vui nào rồi cũng tàn... Bởi lẽ "Sự vật chảy trơi khơng ngối đầu nhìn

lại...Sự vật chảy trôi không quyền nào ngăn cản nỗi." ( R. Tagore)

4. Tóm lại cảnh xuân và tâm trạng của con người trong đoạn trích có mối tương quan lẫn nhau.

- Cảnh xuân trong trẻo đầy sức sống tương hợp với nô nức, trẻ trung của những giai nhân, tài tử đi lễ

hội mùa xuân

- Sự thay đổi của cảnh vật cũng khiến cho hành động, tâm trạng của con người thay đổi.

Đó chính là nét đặc sắc của thiên tài Nguyễn Du, sự tương hợp đó đã tạo nên vẻ đẹp hài hoà

giữa cảnh và người. Tất cả tạo nên một bức tranh trong trẻo, đầy sức sống: Bức tranh mùa xn.

=> - Đoạn thơ có kết cấu hợp lí, vừa gợi, vừa tả đã làm cảnh vật thiên nhiên được nổi rõ.

- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của nhà thơ.

- Cái tài và lòng yêu thiên nhiên của Nguyễn Du.



Đề Nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp Thúy Kiều của Nguyễn Du qua đoạn trích “Chị em Thúy

Kiều” “Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc

Sắc tài sao mà lắm chuân chuyên”

a) Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích, sơ lược nội dung đoạn trích.

- Nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc của Nguyễn Du vừa mang nét truyền thống vừa mang những nét sáng

tạo riêng. Thể hiện tình yêu thương con người đặc biệt là đối với phụ nữ.

b) Thân bài:

Hình ảnh của chị em Thúy Kiều qua ngôn ngữ của Nguyễn Du

- Bốn câu đầu giới thiệu vẽ đẹp chung của chị em Thúy Kiều về vai vế , sắc đẹp và tính cách của hai

người .Vẻ đẹp chung của chị em Thúy Kiều , qua ngòi bút sắc bén của Nguyễn Du

Đầu lòng hai ả Tố Nga

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

Mai cốt cách, tuyết tinh thần



Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười .

- Bốn câu tiếp theo tiếp theo: Miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân. So sánh với những hình ảnh để làm nổi bật sắc

đẹp của Thúy Vân. Lồng vào việc miêu tả hình dáng , nhà thơ đề cập đến tính cách “ Trang trọng”

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặc, nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt, đoan trang

Mâ thua nước tóc, tuyết nhường màu da

- Miêu tả Thúy Kiều

+ Dựa vào Thúy Vân làm chuẩn, Thúy Vân “ sắc sảo mặn mà” thì Thúy Kiều “ càng sắc sảo mặn mà” hơn

với

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

+ Phép so sánh được vận dụng để làm tăng thêm sắc đẹp của Kiều . Mượn thơ của Lý Diên Niên “ Nhất cố

khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc” để khẳng định thêm sắc đẹp ấy.

- Tính cách thì “ Sắc đành đòi một, tài đành học hai:

+ Tạo hóa đã phú cho nàng trí thơng minh .đa tài, thơ, đàn, ca, vẽ, những thứ tài mà trong chế độ phong kiến

ít có phụ nữ nào có nếu khơng bảo là điều cấm kị.

+ Nhà thơ còn báo trước cuộc đời bạc mệnh khi đề cập đến sở thích nhạc buồn của Nàng. Kiều trở thành

nhân vật của thuyết: “ tài mệnh tương đối”

+ Tả qua thái độ ghen ghét , đố kị của thiên nhiên “ hoa ghen” “ liễu hờn”.

_ Bốn câu thơ cuối : Tính cách đạo đức , hoàn cảnh sống của hai nàng, nhàn nhã, trang trọng.

Phong lưu rất mực hồng quần

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che

Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

c) Kết bài:

- Nguyễn Du là người thấy của văn miêu tả con người

- Kính phục, học tập ở nhà thơ để giữ gìn sự trong sáng và cái hay của Tiếng việt.



Đề: Cảm nhận và suy nghĩ của em về nỗi buồn của Thúy Kiều trong tám dòng cuối đoạn

trích Kiều ở lầu ngưng bích (Truyện Kiều) .Từ đó có nhận xét gì về nghệ thuật tả cảnh

ngụ tình của Nguyễn Du.( 5 điểm)

Trả lời:

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết: “ Tiếng nói Việt Nam trong Truyện Kiều như làm bằng ánh

sáng vậy, nó trong suốt như dòng suối, dòng suối long lanh đáy nước in trời ….” Dòng suối ấy đã hòa

tan và làm trong trẻo cả những điển tích, những từ Hán Việt xa lạ để biến nó thành thơ, thành nhac, trong

tiếng nói Việt Nam. Đặc biệt là đoạn trích “Kiều ở lầu ngưng bích” của Nguyễn Du. Đoạn diễn tả trực tiếp

tâm trạng, tình cảm sâu sắc, chân thực của Thúy Kiều.

a) Mở bài:

Truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du giai đoạn truy ện Nôm trong văn học trung đại Việt Nam.

Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa vào truyện Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung

Quốc, tác phẩm có ta1xc giá trị lớm về nội dung của như nghệ thuật.

Đoạn trích nằm ở phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc, sau kh biết mình bị lừa vào lầu xanh Kiều uất ức định tự

vẫn.

Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi của Thúy Kiều.

b) Thân bài: Tâm trạng đau buồn của Thúy Kiều hiện lên qua bức tranh và cảnh vật ( 8 câu)

- Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng của Thúy Kiều. Cảnh được quan sát từ xa đến gần.Về màu

sắc thì được miêu tả từ màu nhạt đến đậm.về âm thanh thì tác giả lại miêu tả từ tĩnh đến động. Nỗi buồn thì

tác giả mieu tả từ nỗi buồn man mác dần tăng lên nỗi lo âu, kinh sợ. Ngọn gió cuốn mặt duềnh và “Ầm ầm

tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” là cảnh tượng hải hùng , như báo trước dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô

đẩy, vùi dập cuộc đời Nàng.



- Bằng hai câu hỏi tu từ: “Thuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa? “ Hoa trôi man mác biết là về đâu?,

tác giả đã làm nổi bật lên tâm trạng của Thúy Kiều lo sợ cô đơn lẻ loi. Kiều nghĩ đến tương lai mờ mịt, héo

mòn của mình.

Điệp từ “ Buồn trơng” diễn tả nỗi buồn triền miên

Một “cánh buồn thấp thoáng” nơi “cửa bể chiều hôm” gợi nỗi cô đơn

Một cánh “hoa trôi man mác” tượng trưng cho số phận lênh đênh của Nàng

Hình ảnh “nội cỏ rầu rầu”, chân mây mặt đất thể hiện kiếp sống phong trần của người con gái bất hạnh.

Cuối cùng là ầm ầm tiếng sóng làm cho nàng lo sợ những tai họa như đang phủ xuống cuộc đời nàng

c) Kết bài:

- Đoạn tri1cxh Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn thơ hay nhất trong Truyện Kiều. Bởi vì,

qua đoạn trích, người đọc cảm nhận được tâm trạng buồn cô đôn, lẻ loi.

- Qua đoạn trích, người đọc thấy rõ nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại và nghệ

thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc tình tình của Nguyễn Du.

- Học đoạn trích , ta cũng thấy được tấm lòng nhân đạo của nhà thơ. Nhà thơ đã xót thương cho một người

con gái tài hoa mà bạc mệnh như nàng Kiều



Câu 2: Trong hai câu thơ sau: (1điểm)

Nỗi mình thêm tiếc nỗi nhà

Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng

(Nguyễn Du – Truyện Kiều)

Từ hoa trong thềm hoa, lệ hoa được theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển?Có thể coi đây là hiện

tượng chuyển nghĩa làm xuất hiện từ nhiều nghĩa được khơng?Vì sao?

Từ “Hoa” trong “ thềm hoa” , “ lệ hoa” được dùng theo nghĩa chuyển.

Nhưng không thể coi đâyu là hiện tượng chuyển nghĩa làm xuất hiện từ nhiều nghĩa.

Vì nghĩa chuyển này của từ “Hoa” chỉ là nghĩa chuyển lâm thời , chứ chưa làm thay đổi nghĩa của từ.



Đ ề:Cảm nhận của em về đoạn thơ trên.

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rày trơng mai chờ.

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Xót người tựa cửa hơm mai,

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ơm.

(Nguyễn Du, Kiều ở lầu Ngưng Bích, Ngữ văn 9, tập một, Nxb Giáo dục)

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích.

- Cảm nhận được tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều từ nỗi niềm thương nhớ Kim Trọng, thương nhớ

cha mẹ.

+ Thương nhớ chàng Kim: Nhớ lời thề, lời nguyện ước, tưởng tượng chàng Kim đang hướng về mình, đau

đáu chờ tin..., nhớ với tâm trạng đau đớn xót xa...

+ Thương nhớ cha mẹ: Thương và xót, ân hận phụ cơng sinh thành ni dạy...(TS phân tích theo nội dung

4 câu thơ)

+ Kiều là người đáng thương nhất (trong cảnh ngộ ở lầu) nhưng nàng quên cảnh ngộ bản thân để nghĩ về

Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ chứng tỏ nàng là người tình thủy chung, người con hiếu thảo, người có tấm lòng

vị tha...

- Cảm nhận được tâm và tài của Nguyễn Du

+ Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du.



+ Nghệ thuật miêu tả nội tâm (độc thoại) phù hợp qui luật tâm lí (Kiều nhớ Kim Trọng trước, cha mẹ sau),

diễn tả tinh tế; vẻ đẹp ngôn từ, dùng thành ngữ, điển cố...



Câu 5:

Phân tích đoạn trích sau :

CẢNH NGÀY XUÂN

Ngày xn con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngồi

sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông

hoa.

Thanh minh trong tiết tháng

ba,

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.

Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi

xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như

nêm.



Ngổn ngang gò đống kéo



lên,

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy

bay.

Tà tà bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Bước dần theo ngọn tiểu

khê,

Lần xem phong cảnh có bề

thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn

quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh

bắc ngang.

(Nguyễn Du, Truyện

Kiều)

Ngữ văn 9, Tập1,NXBGDVN,

2010, tr.84, 85)

Thí sinh có thể có nhiều cách trình bày khác nhau. Tuy nhiên, cần đảm bảo các u cầu:

- Phân tích một đoạn thơ.

- Bài viết có kết cấu đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc, chặt chẽ. Hành văn trong sáng, sinh động.

Sau đây là một số gợi ý :

+ Giới thiệu vài nét về Nguyễn Du và Truyện Kiều.

+ Giới thiệu đoạn thơ và vị trí của nó.

+ Giới thiệu đại ý đoạn thơ: tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh, chị em Kiều đi chơi xuân.

+ Dựa theo kết cấu của đoạn thơ để phân tích.

* Phân tích 4 câu thơ đầu : khung cảnh ngày xuân với vẻ đẹp riêng của mùa xuân.

- 2 câu đầu vừa nói về thời gian, vừa gợi không gian: thời gian là tháng cuối cùng của mùa xuân;

không gian: những cảnh én rộn ràng bay liệng như thoi đưa giữa bầu trời trong sáng.

- 2 câu sau là một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân, với hình ảnh thảm cỏ non trải rộng tới chân trời.

Màu sắc có sự hài hòa đến mức tuyệt diệu. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ,

tinh khơi, giàu sức sống; trong trẻo, thống đạt; nhẹ nhàng, thanh khiết. Chữ điểm làm cho cảnh vật

trở nên sinh động, có hồn chứ khơng tĩnh tại.

* Phân tích 8 câu thơ tiếp : khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.

- Tảo mộ: đi viếng mộ, quét tước, sửa sang phần mộ của người thân; một loạt từ 2 âm tiết là tính từ,

danh từ, động từ gợi lên khơng khí lễ hội rộn ràng, đơng vui, náo nhiệt cùng với tâm trạng của người

đi dự hội.

- Hội đạp thanh : du xuân, đi chơi xuân ở chốn đồng q. Cách nói ẩn dụ: nơ nức yến anh gợi lên hình

ảnh những đồn người nhộn nhịp đi chơi xuân, nhất là những nam thanh nữ tú, những tài tử giai

nhân. Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả còn khắc họa một truyền thống văn hóa lễ hội

xa xưa.

* Phân tích 6 câu thơ cuối : khung cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tất cả các từ ngữ , hình ảnh được ông sử dụng trong các câu thơ trên đều tập trung làm cho người đọc thấy được vẻ đẹp “ đoan trang , thuỳ mị” của Thuý Vân . Không những khắc hoạ vẻ đẹp hình thể bên ngoài Nguyễn Du còn như dự báo số phận bình lặng, êm ả củ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×