Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1Phân tích đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" (Bài tuyển chọn)

1Phân tích đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" (Bài tuyển chọn)

Tải bản đầy đủ - 0trang

và thời gian dài dặc, quẩn quanh "mây sớm đèn khuya" gợi vòng tuần hồn khép kín

của thời gian, tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi đơn côi khiến

Kiều càng thấy "bẽ bàng" chán ngắn, buồn tủi. Sớm và khuya, ngày và đêm Kiểu thui

thủi một mình nơi đất khách q người, nàng chỉ còn biết làm bạn với mây và đêm.

Trong nỗi cô đơn tuyệt đối ấy, lòng Kiều dồn tới lớp lớp những chua xót. Buồn vì cảnh

hoang vu, rợn ngợp và buồn vì ái tình riêng khiến lòng như bị xé:

"Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng"

Nguyễn Du từ cảnh vật trước lầu Ngưng Bích đã nói lên những nỗi lòng của Thúy Kiều.

Đó là sự cơ đơn, vơ vọng đến tuyệt đối và đó là những dư vị của bao tháng ngày gian

khổ sưng tấy.

Tạm quên đi những chia xẻ trong lòng. Kiều nhớ về những người thân:

"Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ".

Đối với những quy định phong kiến. Kiều nhớ về người yêu rồi nhớ đến cha mẹ. Trong

lúc này, nỗi đau đớn tình người u nữa còn xa xiết. Kỷ niệm còn mới đây thơi. Hơn thế

nữa Kiều lại bị Mã Giám Sinh mua chuộc, ssớm đó bị đưa vào lầu xanh nên nỗi đau lớn

nhất của nàng lúc này là:

"Tấm son gột rửa bao giờ cho phai"

Chính bởi thế mà người đầu tiên nàng nghĩ tới là chàng Kim. Với cha mẹ nàng đã hy

sinh bán mình nên phần nào đã đền đáp được ơn sinh thành. Còn với Kim Trọng, nàng

là kẻ phụ tình, tối hẹn. Trong tâm cảnh như thế, để Kiều Nhớ chàng Kim trước là sự tinh

tế của ngòi bút Nguyễn Du. Nhớ tới người yêu là nhớ tới đêm trăng thề nguyền. Vừa

mới hôm nào, nàng cùng chàng uống chén rượu thề nguyền son sắc, một lòng cùng

nhau một đời mà nay mối tình dun đã chia đột ngột. Câu thơ như có nhịp thổn thức

của trái tim rỉ máu. Kiểu đau đớn hình dung Kim Trọng vẫn ngày ngày hướng về nàng

để chờ tin mà uổng cơng vơ ích. Càng nhớ chàng Kim bao nhiêu thì Kiều lại thương cho

thân mình bấy nhiêu. Thương mình bơ vơ bên trời góc bể, càng nuối tiếc mối tình đầu,

càng hiểu rằng tấm son mà nàng dành cho chàng Kim chẳng bao giờ nguôi ngoai.

Không chỉ vậy mà tấm son đã bị hoen ố của nàng đến khi nào mới rửa cho được. Trong

nỗi nhớ còn có cả nỗi xót xã, ân hận, tủi hổ. Đặt trong hồn cảnh cơ đơn. Kiều đã tạm

để nỗi lòng mình lắng xuống và nhớ tới Kim Trọng. Đó là sự vị tha và tấm lòng chung

thủy của một con người.

Nếu khi nhớ tới Kim Trọng. Kiều "tưởng" thì khi nghĩ tới cha mẹ Kiều "xót":

"Xót người tựa cửa hơm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ơm".

Nàng thương cha mẹ từ bấy đến nay vẫn sớm chiều tựa cửa chờ tin đứa con lưu lạc.

Nàng xót thương da diết và day dứt khơn ngi vì khơng thể quạt nồng, ấp lạnh, phụng

dưỡng song thân khi già yếu. Thành ngữ "quạt nồng ấp lạnh", điển cố "Sân Lai, gốc tử"

đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng nơi

quê nhà tất cả đã đổi thay. Cha mẹ thì mỗi người thêm một già yếu mà nàng thì chẳng

thể ở bên chăm sóc. Giờ đây khoảng cách không gian giữa nàng và cha mẹ là cách

mấy nắng mưa. Thiên nhiên không chỉ tàn phá cảnh vật mà còn tán phá cả con người.

Lần nào khi nhớ tới cha mẹ. Kiều cũng nhớ ơn chín chữ cao sâu và ln ân hận mình đã

phụ công sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ. Nỗi nhớ của nàng được gửi vào chiều dài

thời gian, vào chiều sâu không gian bởi vậy mà càng thêm da diết, sâu xa. Dù đau

buồn bất hạnh nhưng trái tim Kiều đầy yêu thương, nhân hậu, vị tha. Nàng là người

tình chung thủy, là người con rất mực hiếu thảo, là người có tấm lòng vị tha đáng

trọng. Hai nỗi nhớ được biểu hiện khác nhau đó cũng là sự cảm thơng lạ lùng của nhà

thơ, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đối với con người.

Vẫn việc sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc, những nỗi buồn khác nhau với



lí do buồn khác nhau, trong lòng Kiều đã buồn tác động lại khiến càng buồn hơn và nỗi

buồn ngày một ghê gớm, mãnh liệt hơn.

"Buồn trông cửa bể chiều hơm

Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh

Ẩm âm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi."

Tám câu thơ vừa là bức tranh tâm cảnh mà cũng là thực cảnh. Cảnh được miêu tả theo

kiểu tứ bình trong con mắt trơng bốn bề và từ xa tới gần. Cảnh đầu tiên mà Kiều trông

thấy là bể lúc chiều hôm:

"Buồn trông cửa bể chiều hơm

Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?"

Khơng gian mênh mông và thời gian khi chiều tà muôn thuở gợi buồn. Giữa khung

cảnh ấy chỉ có một con thuyền vô định và hiện hữu với cánh buồm thấp thoáng xa xa

như một ảo ảnh. Cảnh đã gợi trong lòng người tha thương nỗi buồn nhớ về cha mẹ, quê

nhà xa cách, nỗi cô đơn và khát khao sum họp. Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước

mới sa gợi trong lòng Kiều nỗi buồn về thân phận trơi nổi, không biết rồi sẽ bị trôi dạt,

bị vùi dập ra sao:

"Buồn trông ngọn nước mới xa

Hoa trôi man mác biết là về đâu!"

Cách làm Kiều xót xa cho duyên phận, số kiếp của mình. Sau một cửa biển một cách

hoa giữa dòng nước là cảnh của một nội cỏ.

"Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh".

Cả một nội cỏ trải ra mênh mông nhưng khác với cỏ trong ngày Thanh minh. Đó là "cỏ

non xanh rợn trân trời", còn cỏ ở đây "dầu dầu". Một màu vàng úa gợi tới sự héo tàn,

buồn bã. Màu xanh nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây không phải màu xanh

của sự sống của hy vọng mà chỉ gợi nỗi chán ngán vơ vọng vì cuộc sống vô vị, tẻ nhạt,

cô quạnh này không biêé bao giờ mới kết thúc. Cảnh mờ mịt cũng giống như tương lai

mờ mịt, thân phận nội cỏ hoa héo của Thúy Kiều. Và cuối cùng là cảnh con sóng nổi lên

ầm ầm sau cơn gió:

"Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi."

Tiếng sóng như báo trước sóng gió dữ dội của cuộc đời hay cũng chỉ là tiếng kêu đau

đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên. Kiều khơng chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi

như đang đứng trước sóng gió, bão táp của cuộc đời này sắp đổ xuống đầu nàng. Cảnh

được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động.

Cảnh ngày một rõ hơn để diễn tả nỗi buồn từ man mác mông lung đến âu lo kinh sợ

dồn đến bão táp nội tâm. Thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng mờ ảo bởi nó được

nhìn theo quy luật "cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao

giờ". Và đó cũng là hiện thân, là tang vật của quá khứ khổ đau, hiện tại lẻ loi bất hạnh

và báo hiệu một tương lai khủng khiếp. Tất cả đều là hình ảnh về sự vơ định, mong

manh, vơ vọng, sự trôi dạt, bế tắc. Đoạn thơ gồm bốn cặp câu lục bát cũng là bốn cảnh

và cặp câu được liên kết nhớ điệp ngữ "buồn trông".

"Buồn trông cửa biển chiều hôm

Buồn trông ngọn nước mới xa

Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh".

"Buồn trơng" là nhìn xưa mà trơng ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại



nhưng trông mà vô vọng. "Buồn trơng" có cái thoảng thốt lo âu, có cái xa lạ cuốn hút

tầm nhìn, có cả sự dự cảm hãi hùng của người con gái lần đầu lạc bước giữa cuộc đời

ngang nửa. Điệp ngữ kết hợp với hình ảnh đứng sau cùng các từ láy đã diễn tả nỗi

buồn với nhiều sắc độ khác nhau, trào dâng lớp lớp như những con sóng lòng. Điệp ngữ

tạo nên những vần bằng, gợi âm hưởng trầm buồn man mác, diễn tả nỗi buồn mênh

mang sâu lắng, vô vọng đến vô tận. "Buồn trông" trở thành điệp khúc của đoạn thơ

cũng như điệp khúc của tâm trạng. Bằng một gam màu nhạt và lạnh, Nguyễn Du đã vẽ

lên một bộ tớ bình tâm trạng hết sức độc đáo và xúc động. Khúc ca khép lại đầy dư âm

với hòa tấu phức điều của sóng biển, "sòng lòng", "sóng dời" đang vang lên những

tiếng gầm gào của hiểm họa như muốn hất tung, nhấn chìm người con gái cơ đơn, tội

nghiệp trên điểm tựa chiếc ghế đời mỏng manh. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng., yếu

đuối nhất để rồi sự bị lừa gạt và dấn thân vào cuộc đời "thanh lâu hai lượt, thanh y hai

lần". Để thể hiện tâm trạng phức tạp mỗi nỗi buồn ôm trọn ba nỗi buồn: buồn nhớ

người yêu, buồn nhớ cha mẹ và buồn cho chính mình. Nguyễn Du đã chọn cách thể

hiện "tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này" thật độc đáo tạo nên đoạn thơ tuyệt bút

với bút pháp tả cảnh ngụ tình.

Tóm lại, Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh đa dạng, phong phú về ngoại cảnh và

tâm cảnh khắc họa nỗi buồn, sợ hãi mà Kiều đang nếm trải, dự báo sóng gió bão bùng

mà nàng phải trải qua trong mười lăm năm lưu lạc "thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần".

Đoạn thơ có giá trị nhân bản sâu sắc đồng thời thể hiện tấm lòng nhân hậu, cảm

thương chia sẻ của Nguyễn Du với nỗi đau của Thúy Kiều.

.2. Phân tích tám câu cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du.

Bàilàm

Nửa

Bâng

(Tố



đêm

khuâng



qua

nhớ



Cụ



huyện

thương



Nghi

thân



nàng



Xuân

Kiều.

Hữu)



Hai câu thơ giúp ta hiểu được nghĩa tình đậm đà của nhà thơ Tố Hữu đối với thi hào Nguyễn Du và nỗi xót

thương của ơng đối với một nàng Kiều - hiện thân của một số phận bi đọa đày dưới thời phong kiến.

Ta có thể hiểu được phần nào nỗi đau đó, tâm trạng của Kiều qua tám câu thơ tuyệt vời sau:

Buồn

Thuyền

Buồn

Hoa

Buồn

Chân

Buồn

Ầm



trơng

ai



thấp

trơng



trơi



man

trơng



mây



mặt

trơng



ầm



tiếng



cửa

thống

ngọn

mác

nội

đời

gió

sóng



bể

chiều

cánh

buồm

xa

nước

mới

biết



về

cỏ

rầu

một

màu

xanh

cuốn

mặt

kêu

quanh

ghế



hơm,

xa?

sa,

đâu?

rầu,

xanh.

duềnh,

ngồi…



Có thể nói đoạn thơ là một bức tranh tâm tình đầy xúc động và là sự thể hiện bút pháp tài hoa của Nguyễn

Du trong miêu tả nội tâm nhân vật. Những dòng thơ lúc bát tinh tế, sắc sảo đã bao năm tháng đi qua vẫn làm

say đắm lòng người. Một mình giữa khơng gian mênh mông, Kiều thấy bơ vơ quá. Một nỗi nhớ q hương

bỗng

trào

lên

da

diết:

Buồn



trơng



cửa



bể



chiều



hơm,



Thuyền



ai



thấp



thống



cánh



buồn



xa



xa?



Câu thơ tả cảnh biển khơi mênh mang, trong ánh nắng đang dần lịm tắt. Cảnh biển bao la một cánh buồm

chấp chơi gợi nỗi buồn day dứt quá. Cảnh buồm lẻ loi, nhỏ nhoi trong bao la như có như khơng: "thấp

thống”, "xa xa”, những từ ấy khơng chỉ gợi hình, mà còn gợi tình, gợi cảm. Sự lẻ loi đơn chiếc, lênh đênh

của cánh buồm hay là thân phận bơ vơ của Kiều nơi "góc bể chân trời” ?

Trời nước bao la, còn Kiều ở trong lầu Ngưng Bích - một cánh chim nhỏ nhoi trồng. Câu thơ của ơng phảng

phất

phong

cách

diễn

đàn

của

ca

dao:

Chiều

Muốn



chiều

về



q



ra

mẹ



đứng





bờ

khơng







sơng

đò.



Kiều đang đứng trước biển nhìn về phương trời xa đăm đắm khát khao nhưng vô cùng mệt mỏi: "Buồn

trơng…”. Âm điệu lời thơ buồn và có gì rã rời quá! Nỗi buồn ấy như nhân lên khi Kiều nhìn đố hoa nổi trơi,

bập

bềnh



định:

Buồn

Hoa



trơng

trơi



man



ngọn

mác



nước

biết



mới





về



sa,

đâu?



Thuyền cũng trơi trong vô định, hoa cũng trôi trong vô định, "Biết là về đâu”. Có gì như thân Kiều một mình

lạc lõng trong mờ mịt chân mây. Đâu là quê nhà? Chẳng ai là thân nhân. Hình ảnh "hoa trơi man mác” gợi

nỗi buồn đau xót. Đau xót cho một đố hoa lìa cội, lìa cành nổi trơi trên sóng nước dập vùi. Nhìn hoa trơi

Kiều liên tưởng đến thân mình. Kiều cũng đang nhắm mắt để mặc dòng đời xơ đẩy. Hoa lìa cành, hoa héo

hoa tàn. Kiều lìa cửa, lìa nhà, đời Kiều như cánh chim lạc bầy bay trong giơng tố. Một ngày kia con chim

khơng tổ kia có chết rũ bên đường? Hình ảnh "hoa trơi" gợi cảm và dễ làm rung động lòng người, bởi lẽ dân

gian thường dùng hình ảnh "bèo dạt mây trơi" để nói về kiếp người trôi nổi, bập bềnh. Những câu ca dao ấy

đã "phổ vào" hồn thơ của Nguyễn Du từ khi ơng còn trong vòng tay của mẹ.

Đọc những câu thơ tiếp, ta càng thấy tâm trạng của Thuý Kiều. Xung quanh nàng, thiên nhiên cũng nhuốm

một

màu

sắc

buồn

tẻ,

héo

tàn:

Buồn

Chân



trông

mây



mặt



nội

đất



cỏ

một



màu



rầu

xanh



rầu

xanh.



Vẫn âm điệu thơ buồn bởi vần bằng dàn trỉa, tạo cho ta cảm giác được cái nhìn mệt mỏi, chán chường của

nhân vật trước cảnh vật mênh mơng một màu buồn. Hình ảnh "nội cỏ rầu rầu" gợi cảm ở mộ Đạm Tiên. Có

khác chăng chỉ là nơi đây khơng phải là một ngôi mộ cụ thể mà thôi. Màu "xanh xanh" làm cho cỏ cây khơng

còn nét tươi sáng lại thêm vẻ "rầu rầu", làm cho sự sống càng thêm cạn kiệt, làm cho bức tranh phong cảnh

héo

tàn

thêm.

Giữa

bốn

bề

phong

cảnh

tẻ

buồn

ấy,

Kiều

chợt

nghe,

chợt

thấy:

Buồn

trơng

gió

cuốn

mặt

duềnhẦm

ầm

tiếng

sóng

kêu

quanh

ghế

ngồi.

Âm điệu lời thơ trở nên dữ dội với những từ gợi thanh :"ầm ầm", "kêu". Hình ảnh những đợt sóng cuộc lên,

trào tới, xơ đẩy, cùng với tiếng rít gào của gió vang lên đe dọa đến hãi hùng. Kiều thấy "gió cuốn", nghe

"sóng kêu" bỗng thấy kinh hoàng, hốt hoảng. Nỗi buồn, sự sợ hãi đã đưa Kiều vào tâm trạng não nề, hoảng

hốt như kẻ bị bao vây, bị nhấn chìm, hồn toàn bất lực. Kiều chới với như rơi vào vực thẳm. Những âm thanh

đầy dự báo đã mách bảo với ta chặng đường đầy chơng gai của Kiều ở phía trước.

Cả tám câu thơ đều "xoay tròn" trong nỗi buồn sợ của Kiều. Với phép điệp ngữ kiên hoàn "Buồn trơng...",

"Buồn trơng..." các câu thơ khơng chỉ có âm điệu buồn, mà còn làm ta "chóng mặt" trước diễn biến tâm trạng



của một con người bất hạnh - Kiều. Chọn được âm điệu thơ, lựa được từ ngữ và hình ảnh phù hợp với tâm

trạng nhân vật, nhà thơ đã chứng tỏ sự thông cảm sâu sắc yêu thương Thuý Kiều biết bao!

Đoạn thơ với bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế và hài hồ, thi sĩ Nguyễn Du đã để lại cho người đời một bức

tranh

tâm



tình

cảm

đầy

xúc

động,

mãi

mãi

làm

"say

lòng

người".



Đề: Cảm nhận về khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp trong đoạn trích Cảnh ngày xuân.

(Truyện Kiều- Nguyễn Du)

* Gợi ý :

a. Mở bài : Giới thiệu chung về đoạn trích

- Cảm nhận chung về khung cảnh thiên nhiên được miêu tả trong đoạn trích

b. Thân bài : Khung cảnh ngày xuân

- Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân . Một bức tranh xuân tuyệt tác:

“Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi.

Cỏ non xanh rợn chân trời.

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. ”

- Ngày xuân qua đi nhanh như chiếc thoi dệt vải trong khung cửi -> khơng khí rộn ràng, tươi sáng của

cảnh vật trong mùa xuân; tâm trạng nuối tiếc ngày xuân trôi qua nhanh quá. Như thế hai câu đầu vừa nói về

thời gian mà còn gợi tả khơng gian mùa xuân. Hai câu còn lại là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

“Cỏ non xanh tận chân trời.

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

- Bát ngát trải rộng đến tận chân trời là thảm cỏ non tơ xanh rợn -> gam màu nền của bức tranh ngày

xuân tươi đẹp. Sự phối hợp màu sắc của bức tranh thật hài hòa. Màu xanh non tượng trưng cho sự sinh sơi

nảy nở, cho sức sống đang lên , còn màu trắng là biểu tượng của sự trong trắng tinh khiết .

-> Ngày xuân ở đây thật khoáng đạt, mới mẻ, thanh tân, dạt dào sức sống trong một không khí trong lành,

thanh thốt. Từ “điểm” dùng ở đây làm cho bức tranh thêm sinh động, có hồn.

- Cảnh lễ hội trong tiết thanh minh cũng được miêu tả thật sinh động , náo nức:

“Gần xa nô nức yến oanh .

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước áo quần như nêm

Ngổn ngang gò đống kéo lên .

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay"

- Khơng khí rộn ràng đựơc thể hiện qua một loạt các từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình.Tất cả đều góp

phần thể hiện cái khơng khí lễ hội đông vui, một truyền thống tốt đẹp của những nước Á Đông.

" Tà tà ... bắc ngang".

- Cảm giác bâng khng nuối tiếc. Cảnh vật, khơng khí mùa xuân trong sáu câu này so với mấy câu

đầu đã có sự khác biệt. Mọi thứ đều đã lắng xuống, nhạt dần.

- Nắng xuân ấm áp hồng tươi vào buổi sớm giờ đây đã “nhạt” đi, khe suối nhỏ, nhịp cầu bắc ngang

tuy vẫn giữ nét thanh diụ của mùa xuân với mọi chuyển động nhẹ nhàng, nhưng mặt trời ngả bóng về Tây,

bước chân người thẩn thơ lưu luyến, tiếc nuối, dòng nước uốn quanh.

- Cảnh chiều tan hội. Tâm trạng mọi người theo đó cũng khác hẳn. Những từ láy “nao nao”, “tà tà”,

“thanh thanh” đâu chỉ tả cảnh mà còn ngụ tình … Một cái gì đó lãng đãng, bâng khuâng, xuyến xao và tiếc

nuối…

c. Kết bài : - Nhận xét chung về cảnh thiên nhiên tươi đẹp trong đoạn trích

- Nghệ thuật tả cảnh của đại thi hào Nguyễn Du.



Đề: Cảm nhận của em về tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích qua nghệ

thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Nguyễn Du.

* Gợi ý:



a Mở bài: Giới thiệu chung về đoạn trích (Đoạn thơ hay nhất biểu hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc về tự

sự, tả cảnh ngụ tình, ngơn ngữ độc thoại thể hiện nỗi lòng và tâm trạng của nhân vật Thuý Kiều)

b. Thân bài:

* Tâm trạng của Thuý Kiều khi ở lầu Ngưng Bích:

- Đó là tâm trạng cơ đơn buồn tủi, đau đớn xót xa

- Nàng nhớ đến Kim trọng, thương chàng

- Nàng thương cha mẹ già thiếu người chăm sóc.

- Nàng nghĩ về hiện tại của bản thân thì thấy buồn dâng lớp lớp như tâm trạng ngổn ngang trước một

tương lai mờ mịt, bế tắc.

* Nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nguyễn Du:

- Nhà thơ sử dụng ngoại cảnh để tả tâm cảnh.

- Vừa tạo ra sự đối lập Thiên nhiên rộng lớn- con người nhỏ bé cô đơn vừa tạo ra sự tuơng đồng :

cảnh ngổn ngang - tâm trạng ngổn ngang, cảnh mờ mịt nhạt nhoà - tâm trạng u buồn, bế tắc.

- Nguyễn Du sử dụng điệp ngữ, các từ láy tạo nên sự trùng điệp như nỗi lòng của Kiều đang " Lớp

lớp sóng dồi"

C. Kết bài:

- Khẳng định nghệ thuật Vịnh cảnh ngụ tình đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du.

- Xót thương số phận tài hoa bạc mệnh của Thuý Kiều.

- Căm ghét xã hội phong kiến xấu xa, thối nát, tàn bạo.



Đề Nêu cảm nhận của em về số phận của người phụ nữ việt nam dưới chế độ xã hội

phong kiến thơng qua hình ảnh Vũ thị Thiết - (Chuyện Người con gái nam xương) và

Thuý Kiều - (Truyện Kiều - Nguyễn Du).

* Gợi ý:

1. Mở Bài:

- Nhấn mạnh về số phận bất hạnh của người phụ nữ việt nam xưa.

- Giới thiệu hai tác phẩm Chuyện Người con gái nam xương- Nguyễn Dữ và Truyện Kiều - Nguyễn

Du).

2. Thân bài:

- Số phận bi kịch của người phụ nữ xưa:

+ Đau khổ, bất hạnh, oan khuất tài hoa bạc mệnh . Hồng nhan đa truân.

( - Không được sum họp vợ chồng hạnh phúc, một mình ni già, dạy trẻ, bị chồng nghi oan , phải tìm đễn

cái chết, vĩnh viến khơng thể đồn tụ với gia đình chồng con… - Nàng vũ thị Thiết.

- Số phận vương Thuý Kiều: Bi kịch tình yêu, mối tình đầu tan vỡ, phải bán mình chuộc cha, thanh

lâu hai lượt thanh y hai lần ( Hai lần tự tử, hai lần đi tu, hai lần phải vào lầu xanh, hai lần làm con ở) quyền

sống và quyền hạnh phúc bị cướp đoạt nhiều lần…).

+ Cảm thương xót xa cho cuộc đời của những người phụ nữ xưa. Căm giận xã hội phong kiến bất

công tàn bạo đã trà đạp lên nhân phẩm cuộc đời họ…

- Vẻ đẹp, nhân phẩm của họ:

+ Tài sắc vẹn toàn:

- Chung thuỷ son sắt (Vũ Thị Thiết)

- Tài sắc hiếu thảo nhân hậu, bao dung khát vọng tụ do cơng lý và chính nghĩa (Thuý Kiều).

3. Kết bài:

- Nêu cảm nhận bản thân. (Xót xa thương cảm) .

- Bày tỏ thái độ khơng đồng tình, lên án chế độ xã hội phong kiến bất công vô nhân đạo xưa).

- Khẳng định sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa hôm nay…



2.Phân tích đoạn trích "Cảnh ngày xuân" của Nguyễn Du (Bài hay)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1Phân tích đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" (Bài tuyển chọn)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×