Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Quy trình xác định hàm lương chất lơ lửng từ dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat

5 Quy trình xác định hàm lương chất lơ lửng từ dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hồi quy



Lựa chọn hàm hồi quy tối ưu



Bản đồ phân bố hàm lượng chất lơ lửng



Hình 2.7 Sơ đờ quy trình xác định hàm lượng chất lơ lửng

Bước 1: Thu thập dữ liệu

Dữ liệu viễn thám: ảnh vệ tinh Landsat được thu thập miễn phí tại website

http://glovis.usgs.gov. Ảnh Landsat sử dụng trong đồ án được chụp vào mùa khô năm

2010 và cùng thời điểm với quá trình lấy mẫu chất lượng nước ở khu vực hồ Trị An.

Số liệu đo thực địa: giá trị hàm lượng TSS tại các trạm đo ở khu vực nghiên cứu

phục vụ xây dựng hàm hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa phổ phản xạ xác định từ ảnh

vệ tinh và hàm lượng TSS.

Bước 2: Tiền xử lí ảnh (hiệu chỉnh phổ, hiệu chỉnh hình học)

Ảnh Landsat sau khi thu thập được hiệu chỉnh phổ và hiệu chỉnh hình học nhằm

đưa về hệ tọa độ địa phương, sau đó được cắt theo ranh giới hành chính khu vựcnghiên

cứu.

Bước 3: Xác định phổ phản xạ bề mặt

Sau khi ảnh Landsat được hiệu chỉnh phổ và hiệu chỉnh hình học, cần tiến hành

chuyển đổi giá trị số của sang giá trị bức xạ phổ, sau đó tính tốn phản xạ phổ bề mặt.

Đối với các thế hệ vệ tinh Landsat khác nhau, việc chuyển đổi này là khác nhau.

Bước 4:Xây dựng hàm hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa hàm lượng TSS và phổ

phản xạ xác định từ ảnh vệ tinh.

Bước 5: Xác định hàm lượng TSS khu vực nghiên cứu từ hàm hồi quy đã lựa

chọn ở bước 4.

Bước 6: Xây dựng bản đồ phân bố hàm lượng TSS

51



2.6 Tổng kết chương 2

Trong chương 2 đã nghiên cứu cơ sở khoa học phương pháp ứng dụng dữ liệu

viễn thám trong việc đánh giá chất lượng nước mặt bao gồm: các thông số đánh giá chất

lượng nước, đặc trưng phản xạ phổ của đối tượng nước, phương pháp xác định phổ phản

xạ bề mặt từ ảnh vệ tinh Landsat và xây dựng hàm hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa

hàm lượng TSS và phổ phản xạ xác định từ ảnh vệ tinh. Trong chương 2 cũng xây dựng

quy trình xác định hàm lượng TSS từ ảnh vệ tinh Landsat, trong đó trình bày các bước

cơ bản nhằm xác định hàm lượng TSS trên cơ sở phổ phản xạ bề mặt xác định từ ảnh vệ

tinh.



52



CHƯƠNG III: THỬ NGHIỆM XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CHẤT LƠ LỬNG

TRONG NƯỚC MẶT HỒ TRỊ AN TỪ DỮ LIỆU ẢNH VỆ TINH QUANG HỌC

LANDSAT

3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Hồ Trị An được hình thành do việc đắp đập ngăn sơng Đồng Nai, một trong

những hạng mục chính của cơng trình thủy điện Trị An, nằm trên địa phận xã Cây Gáo,

huyện Vĩnh Cửu, cách thành phố Biên Hòa 35 km về phía Đơng Bắc. Đập được xây

dựng bằng đất đá hỗn hợp, có chiều dài 420 m, chiều cao: 37 m, đỉnh đập rộng 10 m,

đập tràn bằng beton trọng lực dài 150 m có 8 khoang, mỗi khoang rộng 15 m với 8 cửa

van được đóng mở bằng cần cẩu chân đế tải trọng 2 x 125 tấn. Ngồi ra còn có đập phụ

suối Rộp, chiều cao lớn nhất 45 m, cao trình đỉnh đập 65 m.

- Mực nước dâng bình thường 62,0 m ứng với dung tích toàn bộ là: 2.765 x 106

m3.

- Mực nước chết 50,0 m ứng với dung tích chết: 218 x 106 m3.

- Mực nước gia cường 64,0 m ứng với dung tích gia cường: 3.400 x 106 m3.

- Dung tích hữu ích 2547 x 106 m3.

Cơng trình thủy điện Trị An được xây dựng trong 7 năm và hoàn thành vào năm

1991. Cơng trình có ý nghĩa tổng hợp: bảo đảm cung cấp điện cho các tỉnh, thành phía

Nam, cung cấp nước canh tác cho Đồng Nai, Bình Dương và một phần của thành phố

Hồ Chí Minh. Ngồi ra hồ còn có tác dụng điều tiết lũ, nuôi trồng thủy sản, du lịch v.v...

Chế độ công tác của hồ

Điều quan trọng bậc nhất trong chế độ công tác của hồ Trị An là: bảo đảm an tồn

q trình vận hành hồ chứa trong mùa lũ, chống được đỉnh lũ thực tế bất kỳ nhỏ hơn

hoặc bằng ngọn lũ thiết kế (ứng với tần suất r = 1%).Vừa đảm bảo an toàn tuyệt đối, vừa

đạt hiệu quả năng lượng cao nhất, đồng thời tích nước vào cuối mùa lũ ở cao trình 62,0

m.

Để đảm bảo yêu cầu trên, công tác vận hành phải dựa trên các nguyên tắc sau:

53



- Trong thời gian từ cuối tháng VII (hoặc đầu tháng VIII) nếu lũ xuất hiện sau khi

tận dụng lưu lượng tối đa qua nhà máy, với lưu lượng 630 m3/s cho ba tổ máy và 840

m3/s cho bốn tổ máy, mà mực nước hồ đã đến cao trình 52,0 m thì cho xả lũ qua đập

tràn, duy trì mực nước hồ ở cao trình: 52,0 m.

- Trong thời gian từ cuối tháng VIII (hoặc đầu tháng IX) khi mực nước hồ đã lên

tới cao trình 54,0 m, tận dụng xả qua nhà máy với Q = 660 m3/s cho ba tổ máy và 880

m3/s cho bốn tổ máy mà lũ về còn cao thì cho mở cửa đập tràn, duy trì mực nước hồ ở

cao trình 54,0 m.

- Trường hợp lũ xảy ra vào cuối tháng IX (hoặc đầu tháng X) khi mực nước hồ ở

cao trình 57,00 m, tận dụng xả qua nhà máy với Q = 600 - 630 m3/s cho ba tổ máy và Q

= 800 - 840 m3/s cho bốn tổ máy, mà lũ về còn lớn thì cho mở cửa đập tràn, duy trì mực

nước hồ ở cao trình 57,0 m.

- Trường hợp lũ xảy ra vào cuối tháng X (hoặc đầu tháng XI) Khi mực nước hồ ở

cao trình 61,0 m, tận dụng xả qua nhà máy với Q = 585 - 600 m3/s cho ba tổ máy và Q =

780 - 800 m3/s cho bốn tổ máy mà lũ còn cao thì cho xả tràn duy trì mực nước hồ ở cao

trình 61,0 m.

- Trường hợp lũ xảy ra vào cuối tháng XI, khi mực nước hồ đã ở mức 62,0 m

(MNBT) xả qua nhà máy với Q = 800 m3/s cho bốn tổ máy mà lũ còn lớn thì cho xả

tràn, bảo đảm mực nước hồ ở cao trình 62,0 m.

Trong tất cả các trường hợp trên, sau khi mở hết khả năng của cửa tràn mà khơng

duy trì được mực nước u cầu (như cao độ 52,0 m ở tháng VII...) thì cho phép mực

nước hồ dâng cao khi ngọn lũ tăng. Nhưng khi lũ giảm thì cũng giảm mực nước hồ đến

cao độ qui định nhằm đón những con lũ tiếp theo.

Cùng với nguyên tắc điều tiết lũ, còn có qui tắc về xả tràn mà nội dung chủ yếu

của nó là các cơng đoạn đóng mở các van ở cửa tràn, qui tắc đó là:

+ Khi xả Q xả CĐi + Q xả n/ m < Q lũ thì mở cửa tràn theo cơng đoạn i (CĐi) ghi

cao trình lúc mở (trong Q xả CĐi là lưu lượng xả ở công đoạn thứ i, Q xả n/m là lưu

lượng xả qua tuabin nhà máy).

54



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Quy trình xác định hàm lương chất lơ lửng từ dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×