Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HOÁ

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HOÁ

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



golf tại Quảng Cư để thu hút du khách. Phấn đấu, đến năm 2020 đón được

9.000.000 lượt khách trong đó có 230.000 lượt khách du lịch quốc tế.

Đến năm 2030: Phát triển mạnh kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc

phòng, an ninh. Tập trung đầu tư hạ tầng kinh tế Nghi Sơn. Phát triển các ngành

cơng nghiệp có lợi thế như: Lọc hóa dầu và sau lọc hóa dầu, xi măng, nhiệt

điện, chế biến nông, thủy sản. Đầu tư hệ thống cảng biển để phát triển mạnh

dịch vụ cảng, vận tải biển. Phát triển đa dạng các loại dịch vụ để phát triển

mạnh dịch vụ cảng, vận tải biển. Phát triển các lọai dịch vụ, nhất logicstics,

thương mại, du lịch, ngân hàng, tài chính. Quản lý ngành du lịch Thanh Hóa

phát triển đúng hướng thành một trong những trung tâm du lịch của cả nước về

du lịch nghỉ dưỡng biển và du lịch văn hóa có chất lượng cao, đạt chuẩn quốc

tế. Từng bước xây dựng đảo Mê trở thành cảng trung chuyển cho cảng Nghi

Sơn; từ năm 2025 xây dựng Đảo Mê thành đảo du lịch gắn với bảo vệ quốc

phòng, an ninh trên biển.

4.1.2. Thời cơ và thách thức đặt ra trước quản lý nhà nước về kinh tế

biển của tỉnh Thanh Hoá

4.1.2.1. Thời cơ

Từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025. Vùng biển và ven biển

Bắc Trung Bộ và dải ven biển miền Trung phát triển có tác động đến nâng cấp

cơ sở hạ tầng khu vực ven biển tỉnh Thanh Hóa. Tỉnh đã ban hành chiến lược

phát triển kinh tế biển với những chính sách đầu tư có hiệu quả cho ngư dân

trang thiết bị máy móc, đóng mới tàu thuyền từ 90CV- 500CV để ngư dân vươn

khơi bám biển khai thác đánh bắt hải sảnvùng đánh bắt chung nhằm tăng sản

lượng, chất lượng, nguồn thủy, hải sản của tỉnh.

Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII) đã đưa ra chủ trương lớn “

Đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển “

Trong quá trình quản lý kinh tế biển đã quản lý theo hướng mở, bước đầu

đã hình thành và phát triển 5 cụm khu kinh tế tổng hợp ven biển là các trung

tâm giao lưu kinh tế kết hợp bến cảng bốc dỡ, khu Nghi Sơn, khu du lịch Sầm

Sơn là các trung tâm phát triển kinh tế hướng biển, du lịch biển, đơ thị hóa và

nghiên cứu khoa học về biển,...

Hệ thống thể chế quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải

đảo từ Trung ương xuống địa phương bước đầu đã được thiết lập. Hệ thống

chính sách, pháp luật, các quy phạm về công tác điều tra tài nguyên, quản lý

môi trường biển đã được xây dựng để phục vụ quản lý ngành.

4.1.2.2. Thách thức

Trước hết là nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các

cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa đầy đủ; quy mơ

kinh tế biển còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng. Cơ sở hạ tầng các vùng

biển, ven biển và các xã đảo còn yếu kém,

Vốn hỗ trợ cho ngư dân đóng tàu mới đánh bắt gần bờ và xa bờ và nguồn

lực đầu tư còn hạn chế. Các cơ sở nghiên cứu KH-CN biển, đào tạo nguồn nhân

lực chất lượng cao cho kinh tế biển còn hạn chế; các trạm quan trắc, dự báo,

cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,... ở ven

biển còn nhỏ bé, trang bị thơ sơ.



19



Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý còn rất thụ

động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu, sử dụng đất ven biển và mặt nước biển cho

người dân địa phương ven biển. Công tác kiểm tra, kiểm soát, cấp và thu hồi

giấy phép sử dụng, khai thác tài nguyên biển chậm được triển khai trong lĩnh

vực quản lý tài nguyên biển.

4.1.3. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế biển của

tỉnh Thanh Hóa

Thay đổi từng bước tư duy và ý thức của các tổ chức và hoạt động quản

lý nhà nước về kinh tế biển.

Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ và tồn diện trong quản lý nhà nước

nhằm phát triển kinh tế biển.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế biển, góp phần

phát triển nền kinh tế của tỉnh. Hiệu lực, hiệu quả quản lý được nâng lên một

khi chính quyền và doanh nghiệp giải quyết tốt mối quan hệ với thị trường, thực

hiện tốt cơ chế một cửa, chuyển biến về cải cách hành chính.

4.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH

TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HOÁ

4.2.1. Nâng cao chất lượng và tăng cường tính tuân thủ quy hoạch, kế

hoạch về kinh tế biển

Chiến lược, quy hoạch về kinh tế biển chủ yếu được thực hiện ở tầm quốc

gia mà tỉnh chỉ là một đơn vị thực hiện. Do vậy, đối với Thanh Hóa, quan trọng

là thực hiện và tuân thủ các biện pháp về quy hoạch, chiến lược của Trung

ương. Tuy nhiên, ở những lĩnh vực và phạm vi được phân cấp, các biện pháp về

quy hoạch cấp tỉnh rất quan trọng.

Về nhóm giải pháp liên quan đến chiến lược và quy hoạch, tỉnh Thanh

Hóa cần qn triệt cơng tác tun truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của

các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc thực hiện Nghị quyết

Trung ương 4 khóa X và Nghị quyết TW8(khóaXII) về Chiến lược biển Việt

Nam, Thực hiện tốt các Luật: Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, Môi

trường biển và hải đảo và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các

Luật nêu trên. Đặc biệt là tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng

viên, nhân dân ở các địa phương ven biển.

Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội cùng chính sách

phát triển, trên cơ sở mục tiêu chung của tỉnh, cần xây dựng các quy hoạch tổng

thể đề ra các chính sách phát triển đối với từng vùng. Tiếp đến, hoàn thiện

chính sách phát triển kinh tế biển theo hướng gắn bó chặt chẽ với giải quyết các

vấn đề xã hội và mơi trường, phòng ngừa và thích ứng với biến đổi khí hậu ở

Việt nam.

Đối với Thanh Hóa, vùng biển bao giờ cũng là vùng có nhiều tiềm năng,

dân cư vùng có nhiều cơ hội việc làm, kinh tế phát triển khá, đời sống hơn hẳn

các vùng khác trong tỉnh. Tuy vậy, sự phát triển kinh tế ven biển vẫn chưa thực

sự bền vững, tiềm năng lợi thế chưa được phát huy mạnh. Nhiều vấn đề xã hội

nảy sinh, do đó cần chú ý:

Quan tâm đến việc làm, thu nhập ở nơng thơn ven biển.Trong q trình

CNH, HĐH, vấn đề di dân giữa nông thôn, thành thị đang diễn ra mạnh mẽ ở

trong tỉnh, đặc biệt là các vùng ven biển. Bảo đảm thu nhập cho người dân ven



20



biển vừa hạn chế bớt xu hướng di chuyển, vừa tạo sức hút đối với lao động có

kinh nghiệm và lao động trẻ khu vực ven biển.

Quy hoạch, kế hoạch dài hạn góp phần nâng cao giá trị tiềm năng của

biển, vùng ven biển thơng qua tác động đến q trình khai thác, sử dụng biển,

vùng ven biển nhằm tạo ra sản phẩm dịch vụ chất lượng cao, mà giữ được tính

bền vững của tự nhiên.

Để quản lý kinh tế biển bền vững phải: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng

nhận thức trong xã hội về tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt cần hoạch

định chính sách, quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và

toàn thể nhân dân trong tỉnh.

Có kế hoạch quản lý, khuyến khích các khu cơng nghiệp, khu du lịch, cảng

biển và khu vực đánh bắt, nuôi trồng thủy sản theo cách quản lý mới.

4.2.2. Hồn thiện hệ thống chính sách khuyến khích phát triển kinh tế

biển trên địa bàn tỉnh

* Hồn thiện hệ thống chính sách quản lý kinh tế biển theo hướng xây

dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, là nguồn nội lực để phát triển bền vững

Muốn đạt được thành quả trong quản lý kinh tế biển, cần xây dựng qui

hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội ven biển tỉnh Thanh Hóa đến

năm 2030.

* Hồn thiện chính sách nhằm đưa vùng biển và ven biển Thanh Hóa trở

thành vùng phát triển năng động, với việc quản lý, điều chỉnh phát triển đồng

đều các khu đô thị ven biển, cảng biển, khu công nghiệp là cơ sở xây dựng

nông thôn mới, gắn tăng trưởng kinh tế biển với giải quyết tốt môi trường xã

hội, khắc phục biến đổi khí hậu.

Trên cơ sở Đề án mở rộng KKT Nghi Sơn, với diện tích khoảng 106.000

ha, trong đó: 66.497,57 ha đất liền và đảo, 39.502,43 ha mặt nước. Trong đó

phát triển cảng Nghi Sơn và các KCN mới: nhà máy xi măng, nhà máy sửa

chữa tàu biển, nhà máy nhiệt điện...Khai thác các cửa lạch; xây dựng Ghép

thành một trung tâm giao lưu kinh tế Bắc- Nam. Xây dựng hệ thống cảng Nghi

Sơn, là cảng trung chuyển quan trọng, cảng Lễ Môn từng bước đi vào hoạt động

Đa dạng hóa loại hình dịch vụ: Dịch vụ hậu cần nghề cá, dịch vụ thương

mại; đồng thời từng bước phát triển các ngành dịch vụ cao cấp, tài chính ngân

hàng..

Khuyến khích phát triển ngành du lịch biển: Từng bước xây dựng và hiện

đại hóa cơ sở hạ tầng khu du lịch biển Sầm Sơn- Đô thị du lịch quốc gia, trở

thành tâm điểm du lịch của tỉnh và của cả nước.

* Hồn thiện chính sách phát triển kinh tế biển theo hướng coi trọng phát

huy lợi thế tuyệt đối, nâng cao lợi thế so sánh các sản phẩm vùng biển

Lợi thế so sánh nó còn phụ thuộc vào việc thu hút và tạo lập nguồn lực

con người. Từ khi có Quyết định mở rộng KKT Nghi Sơn của Thủ tướng Chính

phủ, tỉnh đã tạo lập và thu hút nguồn lực để tạo ra lợi thế so sánh mới trong lĩnh

vực sản xuất cơng nghiệp và vận tải biển. Có chính sách hỗ trợ để giá thành vận

tải biển qua cảng ngày một cải thiện để thu hút khách hàng ngày càng nhiều cập

bến cảng Nghi Sơn.

* Khuyến khích chính sách phát triển kinh tế biển theo hướng hội nhập

phát triển với kinh tế cả nước, khu vực và thế giới



21



Khuyến khích chính sách phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hóa rất cần

hội nhập với các vùng kinh tế trong nước, khu vực và thế giới.

Tất cả các lĩnh vực kinh tế biển cho đến nay được mở rộng chủ yếu là nhờ

mở rộng hợp tác với bên ngoài. Có thể thấy trong quan hệ hợp tác, hội nhập

quốc tế Việt nam đã có nhiều cố gắng đổi mới các chính sách thu hút FDI,

thương mại, hải quan.

* Phát triển kết cấu hạ tầng cho vùng biển và ven biển

Một đô thị ven biển, vấn đề quan trọng hàng đầu là thiết kế xây dựng cơ sở

hạ tầng các vùng ven biển. Kinh nghiệm của các tỉnh ở chương 2 đã cho thấy

quản lý kinh tế biển, xây dựng các đô thị ven biển cần phải đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng, xây dựng đường giao thông trên biển và giao thông đường bộ ven

biển một cách đồng bộ.

Thứ nhất, về phát triển mạng lưới cấp điện;

Thứ hai, phát triển hạ tầng Thông tin và truyền thông;

Thứ ba, hạ tầng giao thông;

Thứ tư, phát triển hạ tầng thủy lợi- thủy sản;

Thứ năm, phát triển hệ thống cấp thoát nước. Để các đô thị, KKT, KCN

phát triển, cần xây dựng các nhà máy nước với công suất lớn trên 10.000 m3/

ngày,đêm với công nghệ hiện đại cho Thành phố Sầm Sơn, Nghi Sơn, và các

nhà máy nước dưới 10.000 m3/ngày đêm cho các trung tâm huyện lỵ khác. Đầu

tư xây dựng hệ thống cấp, thốt nước với cơng nghệ hiện đại, tiên tiến của các

nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh.

* Chính sách đầu tư, tài chính và thị trường cho phát triển kinh tế biển

Việc phát triển kinh tế biển và xây dựng đơ thị ven biển đòi hỏi một nguồn

đầu tư lớn. Theo quy hoạch của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 tổng nhu cầu

vốn đầu tư 2011- 2020 là khoảng 452 nghìn tỷ đồng.

Đây là một nguồn vốn rất lớn, chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn đầu

2011- 2015 là 115,7 nghìn tỷ đồng, giai đoạn 2016- 2020 là 336,3 nghìn tỷ

đồng. Vì vậy phải có giải pháp đồng bộ và tích cực để huy động vốn đầu tư:

*Chính sách tạo lập thị trường cho sản phẩm kinh tế biển

Thị trường là khâu quyết định đến phát triển KT-XH. Với thị trường nội

tỉnh, với gần 3,6 triệu dân và với khoảng 6,2 triệu lượt khách .Thị trường nội tỉnh

có ý nghĩa rất quan trọng, đây là nơi sinh ra thị trường tiêu thụ sản phẩm cho một

số ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp của tỉnh.

* Phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo cho phát triển kinh tế biển

và vùng ven biển

Trong hội nhập quốc tế đòi hỏi chất lượng sản phẩm phải có tính cạnh

tranh. Trên cơ sở đội ngũ lao động dồi dào, rất cần đội ngũ những người lao

động có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao để ứng dụng những tiến bộ của khoa

học công nghệ mới vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng

suất và giảm giá thành.

Năm 2015, số người trong độ tuổi lao động là 2.683 nghìn người, dự báo đến

năm 2020 là 2.788 nghìn người. Đây là nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của tỉnh.

* Đẩy mạnh chính sách khuyến khích nghiên cứu ứng dụng KH - CN vào

các ngành sản xuất kinh doanh kinh tế biển



22



Trong vốn xây dựng cơ bản cần dành một tỷ lệ phù hợp để đổi mới công

nghệ, báo đảm tốc độ tăng chi phí cho cơng nghệ cho các ngành sản xuất. Bên

cạnh đó cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư khoa học và công nghệ.

4.2.3. Tăng cường phối hợp chính sách và lồng ghép các chương trình

đầu tư phát triển giữa các ngành và cơ quan trong phát triển kinh tế biển

Trên thực tế, ở cấp tỉnh và các cấp thấp hơn trong phạm vi tỉnh, việc phối

hợp, lồng ghép các biện pháp về kinh tế biển có ý nghĩa to lớn và cần phải coi

việc lồng ghép, phối hợp như một giải pháp riêng về QLNN. Lồng ghép và phối

hợp chính sách, biện pháp trên địa bàn địa phương trước hết giúp cho các nguồn

lực phát triển kinh tế biển được tập trung hơn, có hiệu quả hơn, tránh lãng phí,

chồng chéo, phản tác dụng. Ngoài ra, việc lồng ghép, phối hợp các biện pháp

chính sách về kinh tế biển giúp các cơ quan QLNN cấp địa phương nâng cao

được hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mình.

Các ngành tham gia xây dựng hỗ trợ, tương tác để khai thác, bám biển

với thực hiện hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng. Các lực

lượng hoạt động trên biển cần nắm chắc luật pháp và tập quán quốc tế để giải

quyết kịp thời, có hiệu quả các tranh chấp trên biển, đảo với phương châm chủ

đạo là: giải quyết tranh chấp bằng đàm phán hòa bình, bảo đảm an tồn cho ngư

dân và các phương tiện hoạt động trên biển. Lồng ghép các chính sách xây

dựng vùng biển và ven biển của tỉnh Thanh Hóa phát huy thế mạnh đột phá trên

lĩnh vực: khai thác, chế biến; du lịch và cảng biển.

4.2.4. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp trong

lĩnh vực kinh tế biển

Tỉnh Thanh Hóa chủ động thành lập Thanh tra nhà nước để hoạt động

xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ

quan nhà nước cấp tỉnh đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ,

quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước cấp tỉnh bao gồm

thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành theo nhiệm vụ mà chủ tịch

UBND tỉnh giao nhiệm vụ.

.

4.2.5. Kiện toàn bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế biển

Hiện nay, hệ thống QLNN về biển, đảo của Việt nam hiện nay chủ yếu có

hai loại hình:

Thứ nhất, cơ quan QLNN về biển theo ngành, có 13 bộ, ngành tham gia

Cơ quan QLNN về nông nghiệp và thủy sản- Bộ nông nghiệp và phát

triển nông thôn là cơ quan thuôc Chính phủ, thực hiện chức năng QLNN các

ngành, lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, thủy lợi tại

các vùng biển, ven biển và hải đảo.

Cơ quan quản lý về khống sản và dầu khí- Bộ tài ngun và mơi trường,

QLNN về khống sản- Bộ Cơng thương, QLNN về cơng nghiệp và thương mại

lĩnh vực dầu khí, cơng nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, Bộ Xây

dựng, thực hiện chức năng QLNN về vật liệu xây dựng.

Cơ quan QLNN về giao thông vận tải biển: Bộ giao thông là cơ quan quản

lý về giao thông vận tải, trong đó giao thơng vận tải biển; gồm có Cục Hàng hải

Việt nam, cục đường thủy nội địa, Cục hàng không, Cục đăng kiểm.

Cơ quan QLNN về du lịch biển.

Cơ quan QLNN về ngoại giao và biên giới lãnh thổ quốc gia,



23



Cơ quan QLNN về quốc phòng trên biển- Bộ quốc phòng có quan hệ mật

thiết với bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Thứ hai, cơ quan QLNN tổng hợp và thống nhất về biển. Theo Nghị định số

25/2008/ NĐ-CP của Chính phủ giao cho Bộ tài ngun và Mơi trường nhiệm vụ

QLNN tổng hợp thống nhất về biển và hải đảo; ngày 26/8/2008, thủ tướng Chính

phủ ban hành quyết định số 116/ 2008/QĐ- TTg quy định chức năng giúp Bộ

trưởng Tài nguyên và Môi trường QLNN tổng hợp thống nhất về biển và hải đảo.

Hiện nay, ở 28 tỉnh, thành phố ven biển nhiệm vụ này được giao cho Sở tài nguyên

và Môi trường trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.

4.2.6. Nâng cao trình độ, phẩm chất cán bộ quản lý nhà nước cấp tỉnh

về kinh tế biển

Để có một đội ngũ cán bộ QLNN về kinh tế biển thực thi chức trách,

nhiệm vụ cần xây dựng một đội ngũ cán bộ có tâm và có tầm để đảm nhiệm

nhiệm vụ QLNN về kinh tế biển.

Nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ,

công chức, viên chức. Quan tâm bồi dưỡng nhân tài, đào tạo đội ngũ chuyên gia

đầu ngành trong các lĩnh vực. Xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, đủ năng

lực, có bản lĩnh, văn hóa kinh doanh và trách nhiệm xã hội

KẾT LUẬN

Quản lý nhà nước về kinh tế biển là quản lý tổng thể các hoạt động kinh

tế diễn ra trên biển, ven biển và hải đảo có mục tiêu phát triển thế mạnh đặc biệt

của biển và các ngành gắn với biển và ven biển. Các hoạt động diễn ra trên biển

bao gồm: đánh bắt hải sản, khai thác dầu khí ngồi khơi, vận tải biển, dịch vụ

tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, du lịch biển, hậu cần nghề cá; các hoạt động kinh tế

ở dải đất liền ven biển bao gồm những hoạt động nhờ vào yếu tố biển hoặc trực

tiếp phục vụ các hoạt động liên quan đến khai thác biển. Kinh tế biển còn được

cấu thành bởi ba bộ phận: ngành nơng nghiệp, ngành công nghiệp biển, ngành

dịch vụ biển và cảng biển. Tính chất đặc thù và tổng hợp của kinh tế biển quy

định tính đặc thù và tổng hợp của QLNN về lĩnh vực này. Các tỉnh có đường bờ

biển dài, có diện tích vùng ven biển lớn, có nhiều ngành và cư dân ở vùng ven

biển và hoạt động kinh tế trên biển sẽ có lợi thế phát triển dựa vào kinh tế biển,

đồng thời về QLNN phải có thêm chức năng QLNN về kinh tế biển.

Kinh tế biển trên địa bàn của tỉnh là một bộ phận không thể tách rời của

kinh tế biển toàn quốc. Về QLNN, có sự phân cấp nhất định cho chính quyền

cấp tỉnh trong tổng thể QLNN chung toàn quốc, cho phép sử dụng và làm rõ

những vấn đề xung quanh QLNN về kinh tế biển của một tỉnh cụ thể.

Tỉnh Thanh Hóa là một tỉnh lớn có đường bờ biển khá dài, tiềm năng và

thực lực kinh tế biển khá mạnh trong so sánh với các lình vực khác và các địa

phương khác. Việc các định và thực hiện đúng và tốt các nội dung QLNN về

kinh tế biển là một quá trình vừa làm, vừa học, vừa phải nghiên cứu hồn thiện,

phù hợp với việc triển khai QLNN về kinh tế biển trong toàn quốc.



24



Trong thực hiện QLNN về kinh tế biển, Thanh Hóa đã thực hiện các quy

định của Chính phủ về xây dựng, hoàn thiện, tuyên truyền, phổ biến khung

pháp luật về kinh tế biển cho các đối tượng trọng điểm và tồn dân.

Trong tiến trình thực hiện các Nghị quyết, chiến lược, quy hoạch của cả

nước, Thanh Hóa cũng đã bắt đầu hình thành chiến lược, quy hoạch về kinh tế

biển, kết hợp giữa quản lý theo ngành, lĩnh vực với quản lý tổng hợp và thống

nhất về biển, đảo. Trên cơ sở hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý

tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; đề xuất, bổ sung các chế tài, chiến lược,

quy hoạch ngành cho phù hợp với yêu cầu QLNN của tỉnh về kinh tế biển và

ven biển.

Một số chính sách phát triển đặc thù kinh tế biển cũng đang được hình

thành và thể hiện vai trò thúc đẩy kinh tế địa phương.

Tỉnh cũng đã xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN có định

hướng mục tiêu và thực hiện chức năng QLNN về kinh tế biển; làm rõ chức

năng, nhiệm vụ các cơ quan trong hệ thống QLNN về biển theo hướng phân

công, phân cấp rõ về thẩm quyền, trách nhiệm; xác định mơ hình tổ chức bộ

máy quản lý biển thích hợp và ổn định, chăm lo chất lượng cán bộ chuyên trách

và kiêm nhiệm liên quan ngày một được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của các

ngành kinh tế biển phát triển một cách bền vững.

Tỉnh còn tập trung xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán

bộ, công chức QLNN về biển, quan tâm đến các ngành mũi nhọn như du lịch,

cảng biển, dầu khí. Đồng thời, tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức QLNN về

biển cho cán bộ, công chức các sở, ngành có liên quan nhằm trang bị tư duy và

có lối hành xử thích ứng với những u cầu về QLN.

Từ thực trạng kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đề xuất một hệ

thống các giải pháp đồng bộ nhằm quản lý, khai thác tốt tài nguyên thiên nhiên

biển, phát huy thế mạnh về biển của tỉnh.

Trong số các giải pháp có hai giải pháp mà tác giả đè xuất có tác dụng có

thể mang lại hiệu quả QLNN cao. Đó là lồng ghép các chương trình, kế hoạch,

dự án phát triển kinh tế biển một cách toàn diện, bền vững, vừa bảo đảm quản

lý tốt những lợi thế tiềm năng vùng biển và ven biển, vừa khai thác có hiệu quả

tài nguyên biển. Giải pháp có tính mới thứ hai là chú trọng quy hoạch và phát

triển các ngành công nghiệp ven biển mũi nhọn, phát triển đánh bắt xa bờ, gần

bờ, phát triển vùng nuôi trồng thủy sản, nâng cao chất lượng nuôi trồng, đảm

bảo chăm lo xây dựng hậu cần nghề cá, khu bảo quản chế biển bảo đảm vệ sinh

an toàn thực phẩm, từng bước áp dụng khoa học- công nghệ vào các lĩnh vực

khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản.

Kinh tế biển là lĩnh vực tỉnh Thanh Hóa xác định là ngành kinh tế tế quan

trọng là khâu đột phá để phát triển kinh tế của tỉnh, góp phần đưa tỉnh Thanh

Hóa trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HOÁ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×